Quá trình thương mại hoá lâm sản ở vùng biên giới Việt Nam - Trung Quốc (sách chuyên khảo)
Quá trình thương mại hoá lâm sản ở vùng biên giới Việt Nam - Trung Quốc (sách chuyên khảo)

Cuốn sách này là kết quả của Đề tài cấp Bộ “Các dòng chảy lâm sản của một số tộc người ở vùng biên giới huyện Mường Khương, Lào Cai” do TS. Nguyễn Công Thảo làm chủ nhiệm, Viện Dân tộc học (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) là đơn vị chủ trì, được thực hiện trong 2 năm 2021-2022. Nội dung chính của cuốn sách tập trung tìm hiểu, so sánh các hoạt động khai thác, sản xuất và buôn bán các loại lâm sản ở cấp độ cộng đồng của hai dân tộc người Dao và Hmông tại huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai. Đây là một trong các đề tài nằm trong kế hoạch nghiên cứu về vùng biên giới mà Viện Dân tộc học đang triển khai thực hiện trong vài năm trở lại đây, cuốn sách được Nhà Xuất bản Khoa học xã hội phát hành vào tháng 8/2024.

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, nội dung cuốn sách được kết cấu thành các chương dưới đây:

Chương 1: Giới thiệu chung

Chương 2: Chính sách và thực trạng lâm sản ở vùng biên giới Việt – Trung

Chương 3: Yếu tố tộc người trong quá trình thương mại lâm sản ở huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai

Chương 4: Tác động của các dòng chảy lâm sản tới người Dao và người Hmông ở huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai

Chương 5: Kiến nghị và giải pháp

Phát hiện chính của nghiên cứu đã chỉ ra quá trình thương mại hoá một số loại lâm sản phi gỗ đã phát triển mạnh từ những năm 2010, quá trình này hướng tới cả thị trường trong và ngoài nước. Trung Quốc được xác định là thị trường quan trọng bậc nhất trong việc thu mua một số loại lâm sản phi gỗ.

Sự phát triển của diện tích quế hay sa nhân tím được thúc đẩy bởi nhiều yếu tố trong đó chính sách phát triển kinh tế rừng của nhà nước đóng vai trò nổi trội. Trong khi đó sự phát triển của lâm sản gỗ ở cấp độ cộng đồng có khuynh hướng giảm do người dân ưu tiên trồng các cây lâm sản phi gỗ trên diện tích rừng sản xuất hay đất canh tác khác do hộ gia đình quản lý. Quá trình thương mại hoá này bên cạnh góp phần giúp người dân có thêm thu nhập, từng bước xoá đói giảm nghèo cũng đặt ra không ít khó khăn về mặt  quản lý và bảo vệ rừng,. kiểm soát ô nhiễm môi trường hoặc vấn đề an ninh trật tự ở vùng biên giới.

Nghiên cứu cũng chỉ ra chính sách của Nhà nước từ Trung ương đến địa phương đóng vai trò thúc đẩy sự phát triển của diện tích cây lấy gỗ, cây quế hay các loại lâm sản ngoài gỗ khác. Sự đổi mới trong cách nhìn về rừng, gắn nhiệm vụ bảo vệ, phát triển rừng với nhiệm vụ cải thiện sinh kế cho cộng đồng địa phương, những người sống gần rừng, lệ thuộc vào tài nguyên rừng là tiền đề quan trọng dẫn đến sự ra đời của nhiều chính sách phát triển kinh tế rừng, thương mại hoá một số cây lâm sản mũi nhọn ở tỉnh Lào Cai nói riêng, các tỉnh vùng biên giới nói chung. Ngoài những cây trồng được xác định tiềm năng, đang trong giai đoạn thử nghiệm, sự phát triển nhanh chóng nhưng mang tính tự phát của cây sa nhân tím trên địa bàn huyện cũng đặt ra một hướng đi gợi mở. Hiện tại sa nhân tím đem lại khoản thu nhập đáng kể cho người dân, với những hộ có từ 3-4ha cây trồng trở lên, thu nhập từ cây trồng này có thể chiếm tới 50% thu nhập của hộ gia đình, với những hộ có diện tích dưới 2ha thì tỷ lệ mức thu đạt khoảng 15%. Bên cạnh đó qua khảo sát nhóm nghiên cứu cũng nhận thấy người Hmông không thích trồng cây lâu năm do có thời gian khai thác quá lâu. Điều này có thể bị chi phối bởi tập quán du canh, du cư trước đây, một phần cũng phản ánh điều kiện kinh tế chung không tốt của người Hmông như người Dao. Trong khi đó người Dao lại nổi tiếng với nghề thuốc. Điều đó lý giải vì sao so với người Hmông người Dao vào rừng nhiều hơn để tìm kiếm cây dược liệu bán kiếm thêm thu nhập. Bên cạnh đó, điều kiện địa hình, khí hậu khu vực cư trú của người Dao cũng cho phép việc đa dạng hoá cơ cấu lâm sản bao gồm sa nhân tím, quế, cây lấy gỗ… Điều này cũng góp phần khẳng định đặc điểm, tính chất của các hoạt động khai thác, sản xuất, buôn bán lâm sản còn bị chi phối bởi hệ sinh kế khác, tồn tại song hành người yếu tố điều kiện tự nhiên hay chính sách của Nhà nước.

Mặt khác, quá trình sản xuất lâm sản của người Dao và người Hmông còn có sự tham gia chủ đạo của nhóm trung niên, do thanh niên có khuynh hướng đi làm ăn xa, di cư. Hơn thế nữa mạng lưới xã hội ở cấp độ vùng, xuyên quốc gia của họ không đa dạng như người Kinh, người Dao và người Hmông đều không có kinh nghiệm tham gia vào hoạt động buôn bán lâm sản qua đường chính ngạch, tiềm lực kinh tế cũng không mạnh bằng người Kinh. Đây là những nhân tố khiến họ hạn chế hơn trong việc tiếp nhận kỹ thuật canh tác mới hay tham gia chủ động vào hoạt động buôn bán với vai trò đầu mối thu mua. Điều đó khiến cây lâm sản ở vùng này mới chỉ dừng lại ở việc tạo thêm nguồn thu nhập bổ sung cho gia đình chứ chưa giúp họ làm giàu một cách bền vững.

Có thể khẳng định cuốn sách là công trình nghiên cứu công phu nghiêm túc được tác giả tham khảo, phân tích và tổng hợp dựa các nguồn tư liệu uy tín. Với những nội dung được phân tích sắc sảo, hy vọng cuốn sách sẽ cung cấp nguồn thông tin tham khảo bổ ích cho độc giả, những người quan tâm tới vấn đề này.

Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc./.

Phạm Vĩnh Hà

 

Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1