Thái độ dân gian về thể diện qua tục ngữ và truyện cười dân gian Việt Nam
Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc nội dung vắn tắt bài viết “Thái độ dân gian với vấn đề thể diện: nhìn từ sự khác biệt giữa tục ngữ và truyện cười” của ThS. Nguyễn Thanh Tùng (Viện Nghiên cứu Văn hóa).
Anh-tin-bai

“Thể diện” [face] và vai trò của nó trong tương tác xã hội đã được nghiên cứu rộng rãi kể từ giữa thế kỷ XX, qua những công trình tiên phong của nhà xã hội học-tâm lý học E. Goffman (1955) - người đã định nghĩa đó là: “giá trị xã hội tích cực mà một người khẳng định một cách hiệu quả cho bản thân mình mà người khác cho rằng anh ta đã thực hiện được trong một tương tác cụ thể” (tr. 213) Theo P. Brown và các cộng sự (1987), mỗi cá nhân đều tồn tại cái gọi là thể diện, và vì có thể diện nên người ta có nhu cầu được giữ thể diện - thứ mà họ định nghĩa là: “hình ảnh bản thân trước công chúng mà mọi người đều muốn khẳng định cho mình” (tr. 61). Khái niệm này, do đó, không chỉ phản ánh sự tôn trọng mà cá nhân có được từ người khác, mà còn biểu hiện khả năng thích nghi của cá nhân với các giá trị, kỳ vọng của cộng đồng xã hội. Đây là một chủ đề đáng chú ý trong các thảo luận về sự khác biệt văn hóa/giá trị giữa phương Đông và phương Tây. Nhiều học giả đã đưa ra quan điểm rằng sự trọng thể diện, cùng với ‘chủ nghĩa tập thể’ và ‘sự phụ thuộc lẫn nhau’, là đặc trưng trong tính cách con người và văn hóa các quốc gia phương Đông (Ho, 1976; Hofstede và Bond, 1988).

Ở Việt Nam nói riêng, các nghiên cứu về vấn đề thể diện chủ yếu mới được xuất bản gần đây, từ góc độ ngôn ngữ học (Phạm Thị Hồng Nhung, 2007), tâm lý học (Lê Văn Hảo, 2021), nghiên cứu giới (Nguyen, 2012; Nguyen, 2015)... Trước đó, nhiều nghiên cứu dân tộc học/văn hóa học cũng đề cập sơ lược về vấn đề thể diện qua những mô tả về phong tục tập quán, về hệ giá trị của người Việt Nam (Phan Kế Bính, 2005; Toan Ánh, 1970; Trần Ngọc Thêm, 2001; Phan Ngọc, 2005). Sự quan tâm đến thể diện và nỗi sợ mất thể diện đã được một số nhà nghiên cứu văn hóa coi là một giá trị chung và cơ bản trong văn hóa Việt Nam. Đặc điểm này có thể được tổng kết rằng Việt Nam có “văn hóa trọng thể diện”. Điểm chung trong các nghiên cứu là việc ứng dụng những nền tảng lý luận khác nhau về vấn đề thể diện để lý giải hành vi con người trong những cảnh huống giao tiếp và văn hóa cụ thể, trong khi ít quan tâm đến việc nghiên cứu con người, văn hóa con người qua chính vấn đề thể diện.

Thực tế cho thấy, thể diện là một vấn đề mang tính phức tạp và nghịch lý. Tính phức tạp biểu thị ở chỗ trong bối cảnh văn hóa-xã hội Việt Nam, thể diện có thể được hiểu với nhiều góc độ khác nhau. Theo cách định nghĩa kiểu duy danh, nó có thể được hiểu là sự thể hiện của một số giá trị đạo đức cụ thể: “hình ảnh một người được xã hội chấp nhận và gắn liền với các khái niệm như danh dự, lòng tự trọng, niềm kiêu hãnh và phẩm giá” (Nguyen, 2015: 148). Tuy nhiên, nó cũng có thể được xác định thông qua một hệ quy chiếu có tính biến thiên cao: dư luận xã hội hay sự đánh giá của người khác - thứ thay đổi theo thời gian, hoàn cảnh, hoặc ý kiến chủ quan của mỗi người. Điều này được phản ánh rõ qua một định nghĩa ngắn gọn về thể diện trong Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên (2003): “… những cái làm cho người ta coi trọng mình khi tiếp xúc” (tr. 932). Việc cá nhân hành xử gian dối để che đi tội lỗi, khuyết điểm của bản thân hoặc một bí mật đáng xấu hổ cũng là một biểu thị của thể diện, dù cho nó đi ngược với giá trị đạo đức về lòng trung thực và danh dự. Nghịch lý nằm ở chỗ: hình ảnh mà xã hội chấp nhận về con người ‘có thể diện’ có thể dựa trên các giá trị đạo đức, nhưng hành động/hành vi ‘vì thể diện’ của cá nhân có thể không bám sát các giá trị đạo đức đó (!). Điều này làm cho các nỗ lực nhằm định nghĩa thể diện chính xác là gì thường không đưa ra được một kết quả hoàn toàn thuyết phục, nhất là khi quan niệm, nhận thức về nó còn có sự khác biệt giữa từng cộng đồng, nhóm và cá nhân.

Vấn đề thể diện trong văn học

Vấn đề thể diện của người Việt đã được đề cập trong nhiều hình thức văn học, bao gồm cả văn học dân gian và văn học bác học. Đây là một nguồn cứ liệu có giá trị đã được vận dụng trong nhiều nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn về các chủ đề khác nhau, từ giá trị văn hóa, giá trị con người, giá trị gia đình, văn hóa làng xã, văn hóa ứng xử, cho đến diễn ngôn và định kiến, bình đẳng giới, bạo lực gia đình… Thông qua cách xây dựng nhân vật và tình huống, nhiều đơn vị/tác phẩm tục ngữ, ca dao, truyện cười dân gian, tiểu thuyết, truyện ngắn, kịch nói… đã khai thác vấn đề thể diện của người Việt với các sắc thái khác nhau. Một phần trong số chúng được coi là một cứ liệu mang tính khởi đầu để diễn đạt và lập luận về “bối cảnh văn hóa” trong nhiều nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn. Điều này phù hợp với quan điểm phổ biến cho rằng văn học với tư cách là sản phẩm của văn hóa, thì cũng có tác dụng phản ánh văn hóa và giá trị văn hóa (Đỗ Thị Minh Thúy, 1997; Nguyễn Văn Hạnh, 2002). Việc trích dẫn các cứ liệu văn học (ví dụ: câu tục ngữ “Một miếng giữa làng bằng một sàng xó bếp”, truyện Trạng Quỳnh, truyện ngắn của Nam Cao và Ngô Tất Tố, vở kịch Bệnh sĩ của Lưu Quang Vũ…) đã giúp các nhà nghiên cứu tổ chức lập luận về thái độ trọng thể diện của người Việt. Tuy nhiên, điều này đã càng đẩy mạnh mức độ đơn nhất trong cách mô tả về xã hội và con người truyền thống. Hơn nữa, việc khai thác cứ liệu văn học theo cách như vậy cũng khiến cho phân tích văn bản văn học thường dừng lại ở mức độ minh họa, thay vì đi sâu vào bản chất phức hợp và đa sắc thái của nó.

Trên thực tế, thể diện là một khái niệm phức tạp và nhạy cảm, liên quan tới những hình thức biểu đạt, cách hiểu và suy nghĩ khó có thể khuôn vào bất cứ khuynh hướng một chiều nào. Văn học cũng là một hệ thống biểu đạt giàu tính biểu tượng, nơi các giá trị văn hóa không chỉ được phản ánh mà còn được chất vấn, tái cấu trúc và đôi khi bị đảo ngược (Bakhtin, 1984; Barthes, 1987). Từ rất sớm, người ta đã thấy rằng ở các cộng đồng khác nhau, với các bối cảnh lịch sử, xã hội và văn hóa khác nhau, tác giả văn học của cùng một thể loại có thể nhìn nhận và thể hiện thái độ với các chủ đề (ví dụ như chủ nghĩa anh hùng, giới, quyền lực, cuộc sống, cái chết…) một cách rất khác nhau. Không chỉ xuất hiện trong so sánh liên văn hóa, sự khác biệt về thái độ về các chủ đề cũng diễn ra trong so sánh liên thể loại thuộc cùng một kho tàng văn học của cùng một cộng đồng/xã hội/tộc người cụ thể. Trong một phân tích về các phạm trù và thể loại văn học dân tộc, D. Ben-Amos (1969) phê phán sự ngộ nhận trong cách tiếp cận của hệ thống phân loại văn học dân gian theo chủ đề, đó là giả định rằng sự giống nhau về chủ đề đồng nghĩa với sự đồng nhất thể loại và quan niệm (tr. 276). Ông chỉ ra rằng văn xuôi và thơ ca của các dân tộc thường là một cặp đối lập nhị phân, trong đó những khác biệt trong cấu trúc và thi pháp (chẳng hạn như kết cấu nhịp điệu) có thể quyết định sự phân cực của mọi diễn ngôn ngôn từ - thứ biểu thị quan niệm mà xã hội dành cho một chủ đề nhất định hoặc hé lộ ý định của người kể. Do đó, việc nghiên cứu, phân loại từng thể loại phải quan tâm đến quá trình trao đổi những thông điệp/hàm ý mang tính phân cực giữa chúng (tr. 286-289).

Đối với kho tàng văn học dân gian Việt Nam, một số tác giả cũng đã chú ý đến sự phân cực về mặt ngôn từ, ngữ nghĩa giữa các thể loại, chủ yếu qua phương diện “lệch chuẩn” trong ca dao và truyện cười như một sự đối lập với những “chuẩn mực” cố định thường xuất hiện trong tục ngữ (Phạm Thị Hằng). Phan Trọng Hòa và cộng sự (2004) cho biết tục ngữ và truyện cười tuy đều là sáng tác dân gian, song chúng khác nhau căn bản về cách tiếp cận đối với chủ đề ứng xử. Ứng xử trong tục ngữ thiên về quan niệm, là ứng xử tĩnh, ứng xử lý thuyết, còn ứng xử trong truyện cười thiên về hành vi, là ứng xử động, ứng xử thực hành trong những hoàn cảnh đầy kịch tính. Truyện cười: “Về lôgích, nó không vượt ra ngoài ngoại diên của khái niệm ứng xử nhưng về văn hóa, đạo đức, nó có thể trượt ra ngoài chuẩn mực của ứng xử” (tr. 47). Dù vậy, những lưu ý này lại chưa được các nghiên cứu về thể diện từ góc nhìn ngôn ngữ học, tâm lý học, nghiên cứu giới, dân tộc học, văn hóa học… chú ý và vận dụng. Bởi vậy, việc xem xét kỹ lưỡng về vấn đề thể diện phản ánh qua văn học dân gian Việt Nam (cụ thể là người Việt) là cần thiết, để có cái nhìn khách quan và sự điều chỉnh phù hợp trong cách nhìn nhận về tư duy, thái độ của con người truyền thống.

Thái độ dân gian(1) về vấn đề thể diện phản ánh qua tục ngữ

Thể diện là yếu tố rất quan trọng trong giáo lý Khổng Mạnh - hệ tư tưởng chính thống của chế độ phong kiến. Trong xã hội truyền thống của người Việt, các giáo lý cụ thể của Nho giáo có thể không chi phối mọi sự nói, nghĩ, làm của tất cả mọi người, nhưng các ý tưởng trừu tượng của nó ít nhiều có ảnh hưởng sâu rộng ra toàn xã hội. Dưới ảnh hưởng của đạo đức Nho giáo, người Việt được xem là những người hết sức quan tâm đến dư luận về bản thân, gia đình, dòng họ (Trần Thị Thúy Chinh, 2019: 104-105). Qua nhiều thế hệ, đặc điểm này được chuyển hóa thành “tính cách”, “bản sắc” văn hóa, đặc trưng bởi tính thiên lệch giá trị. Theo Nguyễn Văn Huyên (2002), Nho giáo làm cho người Việt: “chỉ chú trọng đến “liêm sỉ” (sĩ diện) kiểu quân tử, đề cao cái danh mà xem thường cái thực, đề cao tinh thần và hoạt động tinh thần, coi nhẹ vật chất và hoạt động tạo ra của cải vật chất” (tr. 249).

Tục ngữ là một thể loại của văn học dân gian, thể hiện dưới dạng câu nói tương đối ngắn gọn. Không giống như thành ngữ, tục ngữ là một câu nói hoàn chỉnh, thường có vần điệu, diễn đạt trọn vẹn một ý dưới dạng nhận xét, phán đoán, kết luận. Tục ngữ của người Việt đúc kết kinh nghiệm cuộc sống từ đời này qua đời khác của các thành phần xã hội khác nhau, song chủ yếu nhất vẫn là nhân dân lao động. Theo một ước tính sơ bộ, trong hơn 1,1 vạn đơn vị tục ngữ Việt Nam, tục ngữ về “đạo làm người” chiếm ít nhất khoảng 50% (Nguyễn Nghĩa Dân, 2000: 11). Bởi số lượng tương đối nhiều và tính đa nghĩa của các câu đề cập đến vấn đề thể diện, phần sau đây chỉ đề cập và phân tích những trường hợp có tính thông dụng trong giao tiếp:

Trước hết, tục ngữ người Việt có nhiều câu mang sắc thái đề cao lối sống hoặc ứng xử trọng thể diện (hoặc danh dự, phẩm giá có thể thể hiện ra bên ngoài qua cái ‘danh’):

                                  Đói cho sạch, rách cho thơm

                                  Ăn lấy thơm lấy tho chứ không ăn lấy no lấy béo

                                  Một miếng giữa làng bằng một sàng xó bếp

                                  Tốt danh hơn lành áo

                                  Giấy rách phải giữ lấy lề

                                  Chết trong còn hơn sống đục / Chết vinh còn hơn sống nhục

                                  Cọp chết để da, người chết để tiếng

Các câu này đều có chung một nghĩa: thể diện tốt hay hình ảnh tốt của một cá nhân (danh tiếng/ tiếng thơm/ vinh quang/ phẩm giá) là vốn quý, đáng để đánh đổi hơn cả những thứ tưởng như rất quan trọng đối với cuộc sống của con người như là miếng ăn, cái mặc, thậm chí là cả tính mạng. Khi đói mà vẫn “cho sạch”, tức là không vì miếng ăn mà đánh mất nhân cách, không làm điều xấu hổ. Khi rách mà vẫn “cho thơm”, tức là không vì nghèo khó mà sống hèn hạ, luồn cúi. “Một miếng giữa làng” là biểu tượng cho sự công khai, cũng đồng thời là danh dự, còn “một sàng xó bếp” dù nhiều hơn nhưng lại mang ý nghĩa ẩn khuất, có cái gì đó không chính đáng. “Tốt danh hơn lành áo” cho thấy danh tiếng còn quý hơn cả sự ấm no, tiện nghi. “Chết trong còn hơn sống đục” (hay “Chết vinh còn hơn sống nhục”) là đỉnh cao của tư tưởng hy sinh thân mình để giữ trọn khí tiết… Bởi các nghiên cứu thường nhấn mạnh về việc cần phải hiểu tục ngữ theo thế giới quan và nhân sinh quan của người sáng tạo ra nó (Nguyễn Xuân Kính, 2002: 59). Cho nên, những câu tục ngữ này không chỉ là lời răn dạy đạo làm người, mà còn là tấm gương phản chiếu tâm lý xã hội truyền thống. Theo lập luận của Phạm Xuân Nam và cộng sự (2002), các câu “Đói cho sạch, rách cho thơm”, “Tốt danh hơn lành áo” chỉ một triết lý sống phổ quát của người nông dân trước đây - thứ mà họ gọi là “triết lý về cái đạm bạc”. Sử dụng cái nghèo làm trục xuyên suốt trong phân tích, họ cho rằng cần phải hiểu được tinh thần cốt lõi trong tâm thức dân gian, đó là cái nghèo khổ không phải là cái tuyệt đối dở và là cái quá bức bách. “Triết lý về cái đạm bạc” là điểm tựa về tinh thần, là đạo lý cân bằng, ổn định trong tâm thức của người nông dân. Tại đây, “…Đói nghèo không phải là cái quyết định phẩm chất con người, và cái tinh khiết trong tâm thức con người không bị cái nghèo, cái đói làm hoen ố” (tr. 264). Nói cách khác, trong nhận thức luận này, cái nghèo khó làm người ta mất đi lòng tự trọng và liêm sỉ, mà ngược lại, còn là cơ hội để thể hiện sự tốt đẹp bên trong của người nông dân.

Tuy vậy, với sự tốt đẹp thể hiện bên ngoài (tức thể diện tốt), cái nghèo lại mang nặng tính chất thử thách. Đi sâu hơn vào phương diện kinh nghiệm/tri thức, trong các câu tục ngữ kể trên, có thể thấy lối so sánh ẩn dụ không đơn giản chỉ là thủ pháp để diễn đạt ý nghĩa một cách sinh động và dễ hiểu, mà còn phản ánh kinh nghiệm dân gian về việc vấn đề thể diện thường sẽ trở nên quan trọng nhất vào lúc nào. Cụ thể, khi người ta đứng trước khó khăn, nghịch cảnh, bị dồn vào đường cùng, buộc phải đưa ra các lựa chọn liên quan đến nhu cầu sinh tồn, thì vấn đề thể diện sẽ nổi rõ, được nhận thức và bị thử thách nhiều nhất. Lưu ý này là quan trọng, bởi trong những cảnh huống được xác định là không mang tính chất hệ trọng, một số câu lại biểu thị quan điểm không ủng hộ hành động theo kiểu ‘thể diện là tất cả’:

                                    Tránh voi chẳng xấu mặt nào

                                    Người có lúc vinh, lúc nhục

                                    Ai cũng muốn phấn dồi lên mặt, không ai muốn phấn đặt gót chân

Nội dung và thủ pháp ngôn từ của các câu này là tương đối khác nhau, nhưng nếu nhìn nhận một cách tổng thể, chúng đều ủng hộ cho lối ứng xử hoặc cách suy nghĩ thận trọng, chín chắn và linh hoạt. “Tránh voi chẳng xấu mặt nào” khuyên người ta nên biết nhún nhường, tránh đối đầu khi không cần thiết. Việc lùi bước không phải là hèn nhát hay mất mặt, mà là biểu hiện của sự khôn ngoan. “Người có lúc vinh, lúc nhục” thể hiện cái nhìn khoan dung về sự thăng trầm trong đời người. Không ai mãi vinh quang, và cũng không ai mãi nhục nhã. Việc chấp nhận những lúc “nhục” không đồng nghĩa với đánh mất phẩm giá, mà là một sự tất yếu trong đời người. “Ai cũng muốn phấn dồi lên mặt, không ai muốn phấn đặt gót chân” thì có tầng nghĩa phức tạp và dường như là để giải thích một quy luật xã hội thay vì là một lời khuyên về lối sống. Tuy nhiên, trong cuốn Tục ngữ lược giải xuất bản năm 1952, Lê Văn Hòe diễn giải: “Người ta thường dùng câu này để bào chữa cho sự bất đắc dĩ phải chịu xấu mặt với bà con bạn bè; hoàn cảnh không cho phép xử đẹp được, chứ bản tâm (bản thân) người ta ai cũng muốn đẹp mặt cả” (tr. 24). Như vậy, có thể hiểu ý nghĩa nhân văn của nó là khuyên mọi người nên có thái độ cảm thông với những người đang ở trong hoàn cảnh khó xử, không thể hành xử một cách lý tưởng hoặc làm đẹp lòng người khác được.

Cuối cùng, cần phải đề cập đến những câu mang sắc thái phê phán:         

                                    Ai cười hở mười cái răng

                                    Miếng ăn là miếng nhục

                                    Ăn một miếng tiếng muôn đời

                                    Mua danh ba vạn, bán danh ba đồng

Ba câu đầu tiên vừa là lời phê phán, vừa là lời nhắc nhở dựa trên ẩn dụ về những hành động/món lợi nhỏ. “Ai cười hở mười cái răng” là cách nói dí dỏm, hình tượng hóa sự phô trương của hàm răng khi cười. Người cười như vậy thường bị xem là kém duyên, thiếu tinh tế, và trong ngữ cảnh này, là biểu hiện của sự ham lợi, sẵn sàng bộc lộ bản thân một cách lố bịch để đạt được điều mình muốn. “Miếng ăn là miếng nhục” và “Ăn một miếng tiếng muôn đời” thì dùng ẩn dụ về miếng ăn để phê phán những người vì chút lợi nhỏ mà bất chấp hậu quả, để lại tiếng xấu không thể gột rửa. Câu cuối cùng dựa trên một hiện tượng nhức nhối có thật trong xã hội cũ - nạn mua quan bán tước. Căn cứ vào phần giải nghĩa của một câu tục ngữ khác (không phổ biến) cũng đề cập đến hiện tượng này là “Bán gia tài mua danh phận” (Lê Văn Hòe, 1932: 34), có thể hiểu “Mua danh ba vạn, bán danh ba đồng” có ý phê phán thói chuộng hư danh hoặc kiểu người vì hư danh mà đánh đổi tất cả, song thực chất lợi lộc từ cái danh (danh vị/ danh giá) chẳng có giá trị gì nhiều. Với nghĩa này thì có thể khẳng định đây là một câu tục ngữ hiếm hoi công kích sự trọng thể diện [quá mức]. Tuy nhiên, với vế tiếp theo - “bán danh ba đồng” thì câu này lại có nghĩa kép. Nghĩa thứ hai của nó là danh giá rất quý, phải đánh đổi rất nhiều để có được (ba vạn), song lại dễ mất bởi sự ham muốn những món lợi nhỏ (ba đồng), cho nên chớ làm bậy bạ để mất danh giá (Nguyễn Nghĩa Dân, 2000: 134). Bởi có cùng thủ pháp ẩn dụ, nếu không kể đến nghĩa thứ nhất, câu này có cùng sắc thái nội dung với ba câu đầu: phê phán kiểu người không biết giữ thể diện.

Thái độ dân gian về vấn đề thể diện phản ánh qua truyện cười dân gian

Nếu như tục ngữ với cấu trúc ngắn gọn của nó thường đúc kết tri thức, kinh nghiệm sống và đạo đức thực tiễn mang tính phổ quát, áp dụng cho nhiều hoàn cảnh và đối tượng, thì truyện cười lại được xây dựng trên những tình huống cụ thể, nhân vật rõ ràng, nhằm tạo tiếng cười và qua đó phê phán, phản ánh hiện thực xã hội. Những tình huống cụ thể ở đây là những tình huống gây cười, gắn với các nhân vật điển hình đại diện cho những thói hư tật xấu trong xã hội, ví dụ như tính tham lam, ngu dốt, tham ăn, hà tiện, khoác lác, giả dối, quan liêu… Ở một góc độ nhất định, truyện cười cũng phản ánh tri thức, kinh nghiệm sống mà dân gian đúc kết, thông qua việc phê phán cái đối lập với cái mà tục ngữ khuyên mọi người làm theo. Nói chung, nếu tạm bỏ qua một mục tiêu đặc thù của truyện cười là tạo tiếng cười giải trí, có thể thừa nhận rằng trong phần lớn trường hợp, cả tục ngữ và truyện cười đều có chung một mục tiêu cốt lõi: truyền đạt bài học đạo đức, ứng xử và điều chỉnh hành vi xã hội.

Trong kho tàng truyện cười dân gian của người Việt, vấn đề thể diện thường được đề cập qua các tình huống gây cười gắn với giao tiếp. Đó chủ yếu là các tình huống liên quan đến phương châm lịch sự, cụ thể liên quan đến sự “đe dọa thể diện” (Nguyễn Hoàng Yến, 2011). Chủ đề này thường được biểu thị qua ba phương thức:

(i) Truyện trực tiếp nêu rằng nhân vật là kiểu người sống vì thể diện:

Phương thức này có ở một số truyện như Cháo cámAnh hà tiệnCả Khuếch, Cái mũ nỉĐánh vợTại ông không hỏiThật vô ý (Nguyễn Chí Bền, 2005: 111, 137, 248-249, 262-263, 807-809, 940-941, 1013). Những chi tiết như: “Một anh nọ nhà nghèo nhưng lại làm ra mặt đài các” (Cháo cám), “… cả Khuếch, vốn đã dốt mà lại ưa sĩ diện” (Cả Khuếch), “… anh chàng vô cùng sợ vợ, nhưng hay sĩ diện với bạn bè” (Đánh vợ), “Cụ Bá sĩ diện” (Tại ông không hỏi), “Cả hai vốn đều ăn tham, nhưng lại làm bộ sĩ diện” (Thật vô ý)… thường xuất hiện ở đầu truyện, có ý nghĩa giới thiệu về tính cách nhân vật, và từ đó, giúp bổ nghĩa cho tình huống gây cười. Theo cách giải nghĩa của từ điển, thuật ngữ “sĩ diện” là gần tương đương với thể diện và mang sắc thái trung tính (Hoàng Phê, 2003: 857). Tuy nhiên, trong văn học viết và giao tiếp, nó thường gợi cảm giác về thái độ trọng thể diện một cách cực đoan. Phương thức biểu thị trực tiếp như vậy hàm ý rằng nguyên nhân sâu xa của việc xảy ra sự đáng cười là vì nhân vật là kiểu người bị ám ảnh bởi thể diện (sống vì thể diện/ sĩ diện hão).

(ii) Truyện thể hiện nhân vật cố gắng bảo vệ thể diện khi thể diện bị đe dọa:

Phương thức (ii) này có ở tất cả các truyện đề cập đến vấn đề thể diện, bất kể có diễn ra phương thức (i) hay không. Motif tương đối nhất quán ở đây là: nhân vật có tính xấu (dốt nát, tham lam, tham ăn tục uống, sợ vợ, vô ý vô tứ…) nhưng muốn che giấu tính xấu đó bằng việc thể hiện hình ảnh ngược lại. Tiếng cười xảy ra khi cố gắng che đậy đó thất bại, bị lật tẩy hay bóc mẽ bởi người khác. Vấn đề thể diện ở đây được hàm ý qua tình huống và phần nào đó thể hiện tình thế khó xử của nhân vật có tính xấu: nếu không che đậy thì xấu hổ, che đậy thất bại thì cũng thành trò cười của thiên hạ (tiếng cười chủ yếu sinh ra từ đây), còn trường hợp che đậy [được quy ước là] thành công thì sẽ chịu thiệt hại nào đó về mặt vật chất.

Để lấy một ví dụ sinh động nhất về cả ba khả năng, có thể tham khảo truyện Ăn vắt đỗ và các khảo dị của nó (Nguyễn Chí Bền, 2005: 136-137). Nhân vật anh chàng nghèo vào quán ăn, vì tiếc tiền mà không dám mạnh dạn ăn món mình muốn ăn, đương lúc ăn vụng món đó thì bị người chủ quán bắt quả tang, đành chống chế rằng bản thân đang ăn món khác [mà anh ta tưởng là rẻ hơn]. Người chủ quán biết rõ anh chàng đã ăn vụng còn chống chế, quyết định ‘chơi’ anh chàng bằng việc báo giá món mà anh ta giả vờ ăn còn đắt hơn món mà anh ta ăn vụng. Vì không dám thú nhận, anh chàng phải bấm bụng trả tiền cho cả món đắt hơn đó. Tiếng cười xảy ra khi người đọc/người nghe biết rằng nhân vật đã thất bại trong việc giấu đi tính xấu (bị người khác biết mất rồi), nhưng vì sĩ diện nên vẫn phải chịu mất tiền để - theo một cách quy ước - tỏ ra rằng mọi thứ vẫn ổn, thể diện chưa bị đe dọa. Từ góc nhìn bên ngoài thì đó là mất hết, là ‘tiền mất tật mang’, nhưng từ góc nhìn nhân vật thì đó chưa phải là mất hết, mới chỉ là ‘chọn cái xấu ít hơn’ để đảm bảo phương châm lịch sự.

(iii) Truyện thể hiện nhân vật cố gắng vớt vát thể diện:

Do đặc điểm về mặt cấu trúc của truyện cười, hội thoại xuất hiện ở phần kết thúc giữ một vai trò quan trọng trong việc tạo ra hàm ý và gây ra tiếng cười. Trong một số trường hợp, đây chính là câu mà nhân vật gây cười nói để gỡ gạc, vớt vát lại phần nào thể diện. Nó liên quan đến tính nghịch lý của thể diện như đã đề cập: Để tôn cao hình ảnh của bản thân, người bị ám ảnh bởi thể diện đôi khi hành động thái quá, nhưng chính sự thái quá đó đôi khi lại gây ra tình huống khiến họ bị mất mặt. Để giảm thiểu tác động bất lợi đó, họ phải nói một câu mang tính chất thanh minh hay gỡ gạc. Trong truyện Ăn cháo tấm và các khảo dị (Nguyễn Chí Bền, 2005: 110-111), nhân vật vì nghèo mà phải ăn cháo, nhưng nói dối rằng đã ăn thịt chó để tỏ ra phong lưu, đến khi uống rượu say nôn ra toàn cháo, bị người ta thắc mắc thì phải chữa thẹn bằng việc giải thích rằng “có lẽ con chó ấy mới ăn cháo”. Hay trong truyện Cả Khuếch (Nguyễn Chí Bền, 2005: 248-249) và Làm bộ chị thợ làm bánh (Nguyễn Chí Bền, 2005: 659-660), nhân vật vụng về chỉ được giao làm những việc bình thường trong việc cỗ bàn (đun bếp, rửa bát), nhưng lại huênh hoanh, khoác lác rằng bản thân đã làm những việc quan trọng hơn (động dao động thớt, làm bánh làm trái). Khi bị người khác lật tẩy bằng việc yêu cầu trách nhiệm (trả dao trả thớt), nhân vật phải trốn tránh bằng việc thú nhận/thanh minh rằng bản thân chỉ làm những việc bình thường thôi, thời gian đâu mà làm được những việc quan trọng. Tuy nhiên, có trường hợp chính câu thanh minh hay gỡ gạc vào cuối truyện lại làm trầm trọng hóa vấn đề. Trường hợp truyện Rắm của con và khảo dị (Nguyễn Chí Bền, 2005: 893-894), để giữ thể diện cho người chủ - người đã vô tình đánh rắm to ở chỗ đông người, người đầy tớ nhận rằng cái rắm đó là của mình. Nhưng cách mà anh ta nhận thay cho chủ lại vụng về, thiếu tinh tế đến mức không thể bào chữa được cho người chủ, thậm chí còn làm mọi người để ý, làm mất mặt người chủ nhiều hơn.

Có hay không sự mâu thuẫn trong thái độ dân gian đối với vấn đề thể diện?

Có thể thấy, trong khi tục ngữ đưa ra lời khuyên rằng con người nên sống vì thể diện hoặc hành xử vì thể diện một cách đúng đắn, truyện cười lại châm biếm hầu như tất cả các khía cạnh ứng xử mà vấn đề thể diện có liên quan (sống vì thể diện, bảo vệ thể diện và vớt vát thể diện). Các truyện Ăn vắt đỗĂn cháo tấm và các khảo dị còn đề cập đến tính nhạy cảm của nghèo đói. Nếu như tục ngữ coi việc giữ gìn phẩm giá, danh dự trong cảnh nghèo đói là điều đáng quý, thì truyện cười không ngại châm biếm kiểu người ‘đã nghèo còn sĩ diện’. Mặc dù cần thừa nhận rằng bản chất của truyện cười là châm biếm và nó có thể châm biếm bất cứ cái gì, bất kỳ thành phần xã hội nào, nhưng châm biếm đúng cái mà tục ngữ khuyên người ta làm theo lại là hiện tượng hiếm thấy. Có thể thấy rõ vấn đề này qua các ví dụ sau: Tục ngữ khuyên người ta tiết chế, biết điều, giữ phép tắc trong ăn uống (Ăn trông nồi ngồi trông hướng); truyện cười phê phán thói tham ăn tục uống (truyện Lý luận ăn thamĂn chả cò). Tục ngữ khuyên vợ chồng sống hòa thuận (Thuận vợ thuận chồng tát bể Đông cũng cạn); truyện cười châm biếm tính sợ vợ (truyện Ai sợ vợ nhấtChẳng phải tay ông). Tương tự, tục ngữ nhấn mạnh tầm quan trọng của việc học hỏi (Đi một ngày đàng, học một sàng khôn); truyện cười phê phán sự dốt nát, hoặc có học nhưng không biết vận dụng, hoặc học chỉ để khoe khoang (truyện Dốt coi chữCái gì không xài nó dài ra). Tựu chung lại, nếu như một bên tôn vinh kiểu người đại diện cho các giá trị tốt đẹp trong xã hội; thì bên còn lại tuyệt đối không thể chế giễu kiểu người đó. Chỉ đến vấn đề thể diện (và cái nghèo gắn với thể diện) thì dường như lại có sự thiếu thống nhất trong thái độ nhìn nhận.

Về khách quan, mâu thuẫn trên không hoàn toàn là mâu thuẫn mang tính bản chất của thái độ dân gian. Nguyên nhân thực sự của nó nằm trong tính chất phức tạp và nghịch lý của vấn đề thể diện. Thói tham ăn, sự tham lam, vô ý vô tứ, sợ vợ… là những tính cách gắn với cá nhân, không phải là thuộc tính được toàn xã hội công nhận. Trong khi đó, sự trọng thể diện không chỉ là tính cách cá nhân, mà còn là thuộc tính của cả một cộng đồng, một xã hội. Tương tự như vậy với cái nghèo - thứ vừa là hoàn cảnh cá nhân, vừa là cái đúng với đông đảo thành phần xã hội thời đó. Tục ngữ tiếp cận thể diện từ góc độ thuộc tính xã hội. Nó khuyên người ta sống vì thể diện vì lối sống đó sẽ giúp cá nhân hòa nhập được với cộng đồng xã hội nơi đa số mọi người đều trọng thể diện. Đó là kinh nghiệm phù hợp với bối cảnh xã hội truyền thống. Nói một cách hình tượng, tục ngữ chỉ mọi người cách để tồn tại trong ‘trò chơi’ xã hội xoay quanh thể diện. Truyện cười, xuất phát từ cấu trúc tình huống của nó, lại tiếp cận thể diện từ góc độ tính cách, hành vi cá nhân. Điểm mấu chốt ở đây là tiếng cười không chỉ đến từ việc nhân vật hành động vì thể diện một cách thái quá và vụng về, mà còn đến từ việc họ đã thất bại khi cố gắng thích ứng với các chuẩn mực xã hội của thể diện. Nói cách khác, nhân vật bị chế giễu vì họ đã thất bại trong “trò chơi” thể diện.

Nguyên nhân thứ hai có thể kể đến ở đây là truyện cười có những tầng nghĩa phê phán khác nhau. Các truyện cười liên quan đến chủ đề thể diện đều có điểm chung: không chỉ đơn thuần phê phán tính sĩ diện của nhân vật, mà còn phê phán một tính xấu nào đó đi cùng tính sĩ diện. Cụ thể đó là các thói: tham ăn (truyện Thì tôi biết trước và các khảo dị), khoác lác (truyện Cả KhuếchLàm bộ chị thợ làm bánhCháo cám), keo kiệt (truyện Ăn vắt đỗ và các khảo dị), vô ý vô tứ (Rắm của con và các khảo dị, Tại ông không hỏi), sợ vợ (truyện Đánh vợ), tham lam (truyện Cái mũ nỉ)… Một số truyện còn có ý nghĩa đả kích những vấn đề xã hội rộng lớn hơn, như trong truyện Rắm của con và Tại ông không hỏi thì đó là sự cường quyền của giai cấp thống trị (qua thái độ sợ sệt của người đầy tớ trước người chủ là ông quan, bà quan). Trong truyện Thì tôi biết trước và các khảo dị, tác giả dân gian ít nhiều chê trách thực trạng văn hóa ăn uống ngoài xã hội quá câu nệ hình thức, vì sĩ diện mà không dám ăn, lại còn bới móc nhau truyện ăn uống một cách không cần thiết. Trên thực tế, mỗi truyện đều có thể được phân loại thuộc về từng chủ đề nói về tính xấu của con người.

Ở phần đầu mỗi truyện, việc trực tiếp nêu rằng nhân vật gây cười là kiểu người sống vì thể diện là một sự bổ nghĩa cho tình huống gây cười đằng sau. Nếu hiểu theo cách này, có thể thấy tác giả dân gian đã đưa ra một kinh nghiệm/tri thức thực tiễn: sự quá trọng thể diện (sĩ diện) tự bản thân nó chưa phải là vấn đề tiêu cực đáng phê phán; nó chỉ thực sự bộc lộ mặt tiêu cực khi đi kèm hay làm trầm trọng hóa các tính xấu khác của con người. Tức là, sự quá trọng thể diện sẽ chuyển từ tốt sang xấu ngay khi nó đi qua vị trí điểm mốc - từ lúc bắt đầu kết hợp với các thói hư, tật xấu khác. Cần lưu ý rằng nếu bỏ vấn đề thể diện ra thì các tính xấu này vẫn là tính xấu, và sự phê phán của truyện cười về cơ bản vẫn phù hợp với lời khuyên của tục ngữ trong việc dẹp bỏ các tính xấu để làm người. Riêng cặp quan hệ nghèo - sĩ diện là trường hợp đặc biệt. Như đã đề cập, trong tâm thức dân gian, cái nghèo không phải là cái tuyệt đối dở, tức không phải tính xấu để bị phê phán (Phạm Xuân Nam, 2002: 264). Cái nghèo chỉ đáng cười khi đi đôi với cái sĩ, và ngược lại, cái sĩ là xấu khi đi cùng cái nghèo. Đó là tri thức và đồng thời cũng là thái độ khoan dung của tác giả dân gian khi phán xét các hiện tượng xã hội bằng quan điểm phức hợp, chỉnh thể.

Nhìn chung, có thể thấy truyện cười là khác biệt, song không hoàn toàn mâu thuẫn với tục ngữ trong việc biểu thị thái độ dân gian với vấn đề thể diện. Do cách tiếp cận riêng biệt của mỗi hình thức với bản chất phức tạp của vấn đề, cảm giác về sự mâu thuẫn tốt nhất nên được lý giải trong một quá trình nhận thức: Tục ngữ dạy người ta cách đeo mặt nạ (hành động vì thể diện) đúng lúc, đúng chỗ, để giữ phẩm giá. Truyện cười lại vạch trần những người đeo mặt nạ quá lâu đến mức quên mất khuôn mặt thật của mình. Vậy nên, tục ngữ là lời khuyên, còn truyện cười là lời cảnh tỉnh. Nhờ mối quan hệ này, thái độ dân gian có thể được mô tả là khách quan và toàn diện, là một “giọng điệu kép” (the dual tone) vừa có khen, vừa có chê. Giống như những gì mà tư tưởng của M. Bakhtin (1984) đã thể hiện, trí tuệ (tri thức) bình dân đã ý thức được theo một cách nào đó bản chất vận động, không hề tĩnh tại của thực thể văn hóa (tr. 65-66, 274-275, 410). “Giọng điệu kép ấy không hề muốn dừng lại bánh xe đang quay, không tìm cách xác lập và phác thảo ranh giới giữa cao và thấp, trước và sau; ngược lại, nó đánh dấu sự thay đổi và dung hợp liên tục của chúng” (432-433). Người Việt trong xã hội truyền thống nhận thức được vấn đề thể diện theo quan điểm đa chiều, xem xét vấn đề từ nhiều góc độ để đạt được sự thấu đáo, thay vì tuyệt đối hóa đề cao nó như cách mà nhiều nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn hàm ý.

*

*     *

Nghiên cứu về quan điểm, góc nhìn truyền thống về một chủ đề xã hội qua kho tàng văn học dân gian là một hướng đi không mới, song vẫn còn nhiều khoảng trống cần giải quyết khi mà những diễn ngôn và định kiến vẫn đang ảnh hưởng sâu sắc tới cách nhìn nhận về truyền thống của con người đương đại. Tiếp cận thái độ dân gian về vấn đề thể diện qua tục ngữ, truyện cười giúp cung cấp thêm các hiểu biết về kinh nghiệm/tri thức dân gian thể hiện qua văn học dân gian, về tính đa thanh (đa sắc thái) của văn học dân gian trong cùng một chủ đề, và về bản chất phức tạp của vấn đề thể diện trong mối quan hệ với các góc nhìn hay tiếng nói. Điều quan trọng nhất là cần phải thấy được sự hạn chế của việc diễn giải và gán nghĩa cho các hiện tượng văn hóa-xã hội theo một cách tuyến tính. Ngay cả trong một bối cảnh xã hội cụ thể, một hệ quy chiếu cụ thể, thái độ của con người với vấn đề mà họ quan tâm không nhất thiết phải bị đóng khung trong một xu hướng nhất định. Đây là nhận thức cần được thông suốt trong nghiên cứu văn hóa nói chung và nghiên cứu văn hóa từ văn học nói riêng.

CHÚ THÍCH

(1) Trong phạm vi bài viết này, thuật ngữ “thái độ dân gian” được sử dụng để chỉ cách nhìn nhận, phản ứng hoặc đánh giá một vấn đề dựa trên kinh nghiệm, truyền thống, câu chuyện, lối nói và niềm tin phổ biến trong đời sống thường ngày của cộng đồng. Giả định quan trọng ở đây là các thể loại văn học dân gian thường hàm chứa thái độ dân gian - tức là cách cộng đồng, qua tiếng nói của tác giả dân gian vô danh, bộc lộ cảm xúc, quan điểm và sự đánh giá về những vấn đề gắn bó với đời sống.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Barthes, B. 1987. Criticism and Truth. London: Athlone Press.

Bakhtin, M. 1984. Problems of Dostoevsky’s Poetics. ed. and trans. by Caryl Emerson. Minneapolis: University of Minnesota Press.

Bakhtin, M. 1984. Rabelais and His World. trans by Hélène Iswolsky. Bloomington: Indiana University Press.

Ben-Amos, D. 1969. Analytical Categories and Ethnic Genres. Genre, 2 (3): 275-301.

Brown, P, Levinson, S. 1987. Politeness: Some universals in language usage. Cambridge: Cambridge University Press.

Đỗ Thị Minh Thúy. 1997. Mối quan hệ giữa văn hóa và văn học. Hà Nội: Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin.

Goffman, E. 1955. On facework. Psychiatry, 18 (3): 213-231.

Ho, DY. 1976. On the concept of face. American Journal of Sociology, 81 (4): 867-884.

Hoàng Phê (Chủ biên). 2003. Từ điển tiếng Việt. Đà Nẵng: Nhà xuất bản Đà Nẵng.

Hofstede, G, Bond, M. 1988. The Confucius connection: From cultural roots to economic growth, Organizational Dynamics, 16 (4): 4-21.

Lê Văn Hảo. 2021. Thể diện trong nghiên cứu tâm lý học. Tạp chí Tâm lý học, 266 (5): 17-27.

Lê Văn Hòe. 1952. Tục ngữ lược giải. Quyển II. Hà Nội: Quốc học thư xã xuất bản.

Nguyễn Hoàng Yến. 2011. Truyện cười dân gian Việt Nam dưới góc độ dụng học. Luận án. Học viện Khoa học xã hội.

Nguyễn Nghĩa Dân. 2000. Đạo làm người trong tục ngữ ca dao Việt Nam: tuyển chọn, phân loại, giải thích. Hà Nội: Nhà xuất bản Thanh niên.

Nguyen, Thi Quynh Trang. 2015. Gender discrimination in the way the Vietnamese talk about face thê diên. Qualitative Research Journal, 15 (2): 147-154.

Nguyen, Thu Huong. 2012. Rape disclosure: The interplay of gender, culture, and kinship in contemporary Vietnam. Culture, Health and Sexuality, 14 (1): 39-52.

Nguyễn Văn Hạnh. 2002. Văn học và văn hóa vấn đề và suy nghĩ. Hà Nội: Nhà xuất bản Khoa học xã hội; 2002.

Nguyễn Văn Huyên. 2002. Mấy vấn đề triết học về xã hội và phát triển con người. Hà Nội: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia.

Nguyễn Xuân Kính (Chủ biên). 2002. Tổng tập văn học dân gian người Việt. Tập 1: Tục ngữ. Hà Nội: Nhà xuất bản Khoa học xã hội.

Nguyễn Xuân Kính (Chủ biên). 2002. Tổng tập văn học dân gian người Việt. Tập 2: Tục ngữ. Hà Nội: Nhà xuất bản Khoa học xã hội.

Nguyễn Chí Bền (Chủ biên). 2005. Tổng tập văn học dân gian người Việt. Tập 8: Truyện cười. Hà Nội: Nhà xuất bản Khoa học xã hội.

Nguyễn Xuân Kính (Chủ biên). 2003. Tổng tập văn học dân gian người Việt. Tập 19: Nhận định và tra cứu. Hà Nội: Nhà xuất bản Khoa học xã hội.

Phan Kế Bính. 1915. Việt Nam phong tục. Hà Nội: Nhà xuất bản Văn học.

Phan Ngọc. 2005. Một thức nhận về văn hóa Việt Nam. Hà Nội: Viện Văn hóa & Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin.

Phan Trọng Hòa, Phan Thị Đào. 2004. Ứng xử và một vài đặc điểm của nghệ thuật ứng xử trong truyện cười lô gích, Tạp chí Văn hóa dân gian, 92 (2): 43-47, 57.

Phạm Thị Hằng. 2002. Nghệ thuật lệch chuẩn gây cười trong ca dao 1945 - 1975. Tạp chí Văn hóa dân gian, 80 (2): 50-53.

Phạm Thị Hồng Nhung. 2007. Khám phá Khái niệm Thể diện trong Tiếng Việt: Bằng chứng từ Kết hợp Từ. Electronic Journal of Foreign Language Teaching, 4 (2): 257-266.

Phạm Xuân Nam (Chủ biên). 2002. Triết lý phát triển ở Việt Nam: mấy vấn đề cốt yếu. Hà Nội: Nhà xuất bản Khoa học xã hội.

Toan Ánh. 1970. Nếp cũ - Con người Việt Nam. Sài Gòn: Nhà xuất bản Khai trí.

Trần Ngọc Thêm. 2001. Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam: Cái nhìn hệ thống-loại hình. Thành phố Hồ Chí Minh: Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh.

Trần Thị Thúy Chinh, 2019. Ảnh hưởng của đạo đức Nho giáo đối với xây dựng gia đình văn hóa ở vùng đồng bằng sông Hồng hiện nay. Luận án. Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh.

ThS. Nguyễn Thanh Thùng
Nguồn bài viết: Trang Thông tin điện tử Viện Nghiên cứu Văn hóa
Tin xem nhiều
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1