Tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh được hình thành nên từ sự dạy dỗ, giáo dục của cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc
Tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh là một vấn đề cơ bản thuộc lĩnh vực nghiên cứu lịch sử tư tưởng. Trong đó, nhân tố gia đình có tác động mạnh mẽ đến sự hình thành chí hướng cứu nước, cứu dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Một trong những ảnh hưởng quan trọng từ gia đình là ảnh hưởng từ người cha - Cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc.
1. Sự dạy dỗ, giáo dục của cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc đối với
Nguyễn Tất Thành
Cụ Nguyễn Sinh Sắc là người thầy đầu tiên dạy chữ, dạy làm người và
giáo dục lòng yêu nước cho con. Có nhiều bằng chứng cho thấy Nguyễn
Sinh Sắc rất có chủ định để cho Nguyễn Tất Thành có cơ hội trải
nghiệm thực tiễn cũng như luôn chú ý đến việc định hướng cho người
con của mình đi tìm đường cứu nước. Trong gia đình, Nguyễn Sinh Cung
là người được cha yêu thương và đặt nhiều hy vọng nhất. Trong năm năm
từ chối không ra làm quan, Nguyễn Sinh Sắc thường đến những nơi có
phong trào đấu tranh chống Pháp sôi nổi và anh dũng, kết giao với
những người có lòng yêu nước, có chí cứu nước, đặc biệt là lớp sĩ
phu yêu nước, có tư tưởng “bài” phong kiến, chống Pháp như Phan Bội
Châu, Vương Thúc Quý, Đặng Thái Thân… Và điều đặc biệt, đi đến đâu ông
cũng thường cho Nguyễn Sinh Cung đi cùng. Trong những người mà ông Sắc
thường gặp gỡ có ông Phan Bội Châu. Giống như nhiều nhà nho yêu nước
lúc bấy giờ, Phan Bội Châu cũng day dứt trước hiện tình đất nước và
số phận của dân tộc. Sau này, Hồ Chí Minh đã nhắc lại: “Nhân dân
Việt Nam trong đó có ông cụ thân sinh ra tôi, lúc này tự hỏi nhau ai
sẽ là người giúp mình thoát khỏi sự thống trị của Pháp. Người này
nghĩ là Anh, người kia lại nghĩ là Mỹ. Tôi thấy phải đi ra nước
ngoài xem cho rõ. Sau khi xem họ làm ăn ra sao, tôi sẽ trở về giúp
đồng bào tôi”.
Việc định hướng của người cha đầu tiên thể hiện ở quyết định cho
các con đến học một thầy giáo có lòng yêu nước thương dân đó là thầy
Vương Thúc Quý, đặc biệt đây là sĩ phu có tư tưởng cấp tiến. Hơn
nữa, “nhà thầy Quý là nơi lui tới của các sĩ phu yêu nước trong
vùng. Nhiều khi Nguyễn Tất Thành được thầy sai tiếp nước cho những
vị khách đặc biệt, nhờ đó cậu thiếu niên Nguyễn Tất Thành dần dần
hiểu được thời cuộc và sự day dứt của các bậc cha chú trước cảnh
nước mất nhà tan”. Đồng thời, Nguyễn Sinh Sắc đã tạo điều kiện cho
con ông được “tham gia” vào các cuộc tiếp xúc của mình với các văn
thân sĩ phu ở khắp Trung Kỳ. Sau đó, “Tất Thành còn được ông cho theo
ra Thái Bình trong dịp ông đi tìm gặp một số sĩ phu ở đất Bắc”.
Những chuyến đi đó là những cuộc trải nghiệm để Nguyễn Tất Thành
định hình riêng cho mình con đường đi.
Với tư tưởng tiến bộ và chán ghét chốn quan trường, năm 1905, cụ Sắc
cho hai người con trai của mình - là Nguyễn Sinh Khiêm và Nguyễn Sinh
Cung xuống Vinh học trường Tiểu học Pháp - bản xứ. Đây là một quyết
định được cho là khác người của cụ, bởi vào trường này là phải
học chữ Pháp, trong khi cụ theo đuổi nền giáo dục truyền thống theo
lối nho học (cụ đỗ Phó bảng năm 1901). Trong số các sĩ phu yêu nước
thời đó, họ ghét Pháp thì ghét luôn cả thành tựu văn hoá của nó,
không muốn cho con cái theo học chữ Tây, chữ Quốc ngữ. Có thể nói,
quyết định trên của cụ Nguyễn Sinh Sắc một phần từ sự chán ghét
chốn quan trường, chán ghét sự giả dối, đồi truỵ của những ông quan
triều đình Huế. Chính tại ngôi trường này, Nguyễn Tất Thành được
tiếp xúc với văn hoá phương Tây và lần đầu tiên biết đến khẩu hiệu:
Tự do - Bình đẳng - Bác ái. Sau này Người nhắc lại: “Khi tôi độ mười
ba tuổi, lần đầu tiên tôi được nghe ba chữ Pháp: Tự do, bình đẳng,
bác ái… Và từ thủa ấy, tôi rất muốn quen với nền văn minh Pháp, muốn
tìm xem những gì ẩn đằng sau những chữ ấy”. Ngoài thời gian học
tập, Nguyễn Tất Thành thường được cha đưa đến các vùng trong tỉnh như
làng Đồng Thái (quê hương của Phan Đình Phùng), thăm các di tích làng
Lục niên, miếu thờ La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp,… Đây là những bài học
thực tế bổ ích, quan trọng, mắt thấy, tai nghe đã góp phần hình
thành tư tưởng yêu nước và chí hướng cách mạng của Nguyễn Tất
Thành.
Một điều đáng chú ý là trong khi Phan Bội Châu hô hào Đông Du thì
Nguyễn Sinh Sắc không phản đối nhưng cũng không ủng hộ nhiệt thành.
Điều này thể hiện ở sự kiện tháng 5/1905, khi Phan Bội Châu cử
Nguyễn Thức Canh đến Kim Liên tìm Nguyễn Tất Thành để rủ sang Nhật
nhưng không gặp được (vì lúc này cha con ông Nguyễn Sinh Sắc đang ở
Bắc Kỳ), nhưng đến tháng 9/1905, ông Nguyễn Sinh Sắc đã cho con nhập
học lớp dự bị của trường tiểu học Vinh với chương trình đào tạo
nặng nề về tiếng Pháp. Rõ ràng chủ ý của ông Nguyễn Sinh Sắc lúc
này là muốn cho con tiếp xúc với văn minh phương Tây mà trực tiếp là
văn hoá Pháp với lý lẽ: “Muốn đánh kẻ thù phải học tiếng kẻ thù
để hiểu được kẻ thù”. Tiếp đó, từ năm 1906 đến 1908, khi vào nhậm
chức ở Huế, Nguyễn Sinh Sắc đã cho hai con cùng đi và cho con tiếp
tục học ở trường tiểu học Pháp-Việt Đông Ba và Trường Quốc học
Huế.
Giáo dục tư tưởng cứu nước, cứu dân và đặt niềm tin vào con mình
của cụ Nguyễn Sinh Sắc đã tạo thành ý chí, nghị lực và động lực
cho Nguyễn Tất Thành. Sau này, trên đường đi vào phía Nam, “Nguyễn Tất
Thành lên Bình Khê (Bình Định) thăm cha. Thấy con trai đến Bình Khê, cụ
Nguyễn Sinh Sắc hỏi con: - Con đến đây làm gì? – Con đến đây tìm cha.
Nghe vậy, cụ Sắc trìu mến nói với con: - Nước mất không lo đi tìm,
tìm cha phỏng có ích gì?”. Nguyễn Tất Thành đã từ biệt thân phụ
với niềm thôi thúc: “Nước mất thì đi tìm hồn của nước”.
Sự giáo dục của cụ Nguyễn Sinh Sắc không chỉ truyền cho các con trí
tuệ, học vấn, mà còn truyền lòng nhiệt huyết, chí khí mạnh mẽ và
động lực vượt qua mọi gian nan để vươn tới sự nghiệp lớn cứu nước,
cứu dân, giải phóng dân tộc. Tính cách, ý chí của người dân xứ
Nghệ, lòng yêu nước, thương dân của cụ Nguyễn Sinh Sắc đã ảnh hưởng
sâu sắc và theo suốt cuộc đời Hồ Chí Minh sau này.
Cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc là một nhân cách lớn. Nguyễn Tất Thành tiếp nhận
được những gì từ tấm gương của người cha kính yêu để hình thành nên nhân cách
và chí hướng cách mạng của mình?
Trước hết, đó là tấm gương ý chí kiên cường, quyết tâm vượt qua mọi gian khổ,
khó khăn để đạt cho được mục tiêu. Người ta đã nói đến ý chí của người Nghệ
Tĩnh. Nguyễn Sinh Sắc là một điển hình của ý chí đó. Ông nêu cao tấm gương hiếu
học, khổ học. Quá nửa đời người, ông theo đuổi sự nghiệp. Đó là một hạn chế của
ông. Nhưng ý chí vươn lên đỉnh cao của kiến thức, nghị lực phi thường, quyết
tâm sắt đá của ông để đạt được mục tiêu đã trở thành tấm gương sáng cho con cái
noi theo. Sau này ý chí cứu dân, cứu nước sôi sục, thường trực, thiết tha,
không nhụt chí, không nản lòng của Nguyễn Ái Quốc chính là sự kế tục ý chí của
thân phụ mình, có điều ở cường độ mãnh liệt hơn, với mục tiêu cao cả hơn.
Tấm gương ý chí gắn liền với tấm gương lao động. Nguyễn Sinh Sắc từ khi nhỏ đã
phải lao động (chăn trâu, cắt cỏ, nấu ăn...). Lúc về làm rể cụ Đường không phải
ngồi không mà học, mà vừa làm vừa học. Đỗ Phó Bảng rồi ông vẫn cuốc đất làm
vườn cùng với con cái. Đó là chỗ khác giữa Nguyễn Sinh Sắc với số lớn nhà nho
đương thời. Phan Bội Châu không biết làm lao động chân tay. Phan Chu Trinh,
Nguyễn Thượng Hiền đều xuất thân gia đình khá giả. Nếu không có tấm gương và sự
giáo dục đó của thân phụ mình, Nguyễn Tất Thành không thể khẳng khái, giơ hai
bàn tay ra nói với bạn: “Chúng ta sẽ làm bất cứ việc gì để sống và để đi”.
Nguyễn Sinh Sắc là một nhà nho cấp tiến, có nhân cách cao thượng. Ông xem
thường lễ nghi phong kiến, khinh rẻ uy quyền, coi trọng đạo đức, gìn giữ nếp
sống trong sạch, giản dị, gần gũi nhân dân, thương yêu học trò... Ông cũng là
người thức thời không bảo thủ, ủng hộ chủ trương cải cách và duy tân của Phan
Chu Trinh, tán thành quan điểm của ông nghè Nguyễn Quý Song: “Muốn đánh Pháp
phải hiểu Pháp, muốn hiểu Pháp phải biết tiếng Pháp”, vì vậy ông cho con vào
trường Pháp - Việt học tiếng Tây.
2. Sự dạy dỗ, giáo dục của cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc đã hình thành nên Tư
tưởng đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh
Để tìm hiểu nhân cách và tư tưởng yêu nước, sự dạy dỗ, giáo dục của cụ Nguyễn
Sinh Sắc tác động như thế nào đến nhân cách, ý chí cứu nước và tư tưởng đạo
đức, phong cách Hồ Chí Minh cần đánh giá đầy đủ về khuynh hướng tư tưởng và
hoạt động thực tiễn trong suốt cuộc đời của cụ, đặc biệt là những năm tháng của
tuổi niên thiếu mà Nguyễn Tất Thành được sống gần gũi bên người cha của mình.
Trong những năm dạy học ở
quê nhà, Nguyễn Sinh Sắc có điều kiện đi sâu vào cuộc sống của nhân dân, giao
du tiếp xúc với nhiều sĩ phu yêu nước như Phan Bội Châu, Đặng Thái Thân. Những
nơi ông đến là những nơi có phong trào đấu tranh chống Pháp sôi nổi và anh
dũng. Trong gia đình, Nguyễn Tất Thành là người được ông yêu thương và đặt
nhiều hy vọng nhất, đi đến đâu ông cũng thường cho đi cùng, nhờ vậy mọi việc
làm, mọi lời nói cử chỉ hàng ngày của ông đều đã tác động mạnh mẽ và ảnh hưởng
sâu sắc tới Nguyễn Tất Thành. Đặc biệt là những cuộc đàm luận đã có ảnh hường
sâu sắc tới tư tưởng yêu nước của Nguyễn Sinh Sắc góp phần giúp cho Nguyễn Tất
Thành có nhiều suy nghĩ về con đường sẽ lựa chọn. Khi nghe thực dân Pháp tuyên
truyền về cuộc đại cách mạng tư sản Pháp, Người đã suy nghĩ và muốn tìm hiểu
bản chất của nó. Sau này Người đã nhắc lại ý nghĩ của mình trong giai đoạn này:
“Vào trong tuổi 13, lần đầu tiên, tôi được nghe những từ Pháp “Tự do - Bình
đẳng - Bác ái… thế là tôi muốn làm quen với văn minh Pháp, tìm xem những gì ẩn
dấu đằng sau những từ ấy”.
Thời kỳ này phong trào yêu nước phát triển mạnh trong cả nước với nhiều khuynh
hướng khác nhau, Nguyễn Sinh Sắc đi nhiều, thăm dò, đàm luận đắn đo suy nghĩ
nhưng không nghiêng hẳn về một xu hướng nào. Vì thế ông không hành động theo
một tổ chức nào kể cả phong trào Đông Du của Phan Bội Châu, bạn chí thân của
ông. Hai ông cùng chung tư tưởng yêu nước và mục đích cứu nước nhưng làm thế
nào để cứu nước thì mỗi người suy nghĩ và hành động theo một hướng. Cũng vì thế
Nguvễn Tất Thành đã từ chối con đường Đông du ngay từ khi cụ Phan Bội Châu muốn
đưa sang Nhật học tập.
Sau nhiều lần từ chối tháng 6-1906, Nguyễn Sinh Sắc vào Huế nhận chức Thừa biện
bộ Lễ tại kinh đô Huế là trung tâm của thực dân phong kiến. Có điều kiện va
chạm trực tiếp quan trường thực dân phong kiến. Lúc này ông mới thật hiểu nhân
tình thế thái, hiểu sự thối nát của quan trường, hiểu cả những khó khăn, phức tạp
và sự bế tắc của sự nghiệp cứu nước. Cụ nói với bà con: Người ta làm quan là để
vinh thân phì gia nhưng tôi làm quan là để che thân. Bằng thực tế cuộc sống
trong đám quan trường và của bản thân mình đang phải chịu đựng, ông chua xót
nói với các giám sinh rằng: “Quan trường thị nô lệ trung chi nô lệ, hữu nô lệ”
(Quan trường là nô lệ trong đám người nô lệ, lại càng nô lệ hơn). Tư tưởng tiến
bộ, nhân cách cao thượng của người cha đã để lại những ấn tượng tốt đẹp đậm nét
trong con người Nguyễn Tất Thành lúc thiếu thời. Trong khi đa số các nhà Nho
không muốn cho con vào học trường Pháp - Việt vì vào đây phải học chữ Tây.
Nhưng cụ Nguyễn Sinh Sắc thì nghĩ khác: “Muốn đánh Tây thì phải hiểu Tây, muốn
hiểu Tây thì phải học tiếng Tây. Cho nên cụ vẫn cho con đến trường học. Cụ
Nguyễn Sinh Sắc cho rằng: - Đây là điều kiện tốt nhất để con của mình trực tiếp
tiếp xúc với nền giáo dục Pháp và nền văn minh Pháp. Thời kỳ học tập ở kinh đô
Huế, Nguyễn Tất Thành ở chung với cha cho nên mỗi lời nói, mỗi việc làm, phong
cách sống hàng ngày của người cha thân yêu đều có tác động trực tiếp tới suy
nghĩ hành động và phong cách của Nguyễn Tất Thành. Nguyễn Sinh Sắc là người rất
nghiêm khắc trong việc giáo dục con cái, tuy ông bị thực dân Pháp khiển trách
vì con trai ông học ở trường Quốc học Huế đã có những lời chống Pháp trước mặt
thầy giáo và học sinh nhân có cuộc biểu tình của dân chúng chống thuế năm 1908
- Nhưng ông vẫn dạy bảo con cái theo cách suy nghĩ và cách nhìn của mình.
Tư tưởng tiến bộ và nhân cách cao thượng của cha. Những biến đổi lớn lao của xã
hội nước ta trong những năm đầu thế kỷ XX, đặc biệt là vấn đề tự ý thức của bản
thân đã làm cho tư tưởng yêu nước và lòng căm thù giặc của Nguyễn Tất Thành
phát triển cao độ và suy nghĩ theo con đường riêng của mình.
Trước khi đi vào các tỉnh phía Nam tìm đường ra nước ngoài, Nguyễn Tất Thành có
lên Bình Khê thăm cha. Thấy con trai đến Bình Khê ông Nguvễn Sinh Sắc hỏi con:
“Con đến đây để làm gì?
Con đến đây để tìm cha.
Nghe vậy ông Nguyễn Sinh Sắc trìu mến nói với con:
Nước mất không lo đi tìm, tìm cha phỏng có lợi ích gì?”
Cuộc gặp gỡ đó càng thôi thúc thêm Nguyễn Tất Thành quyết tâm đi ra nước ngoài
tìm đường cứu nước. Trong những năm bôn ba ở nước ngoài, có lẽ hình Cụ Phó
bảng Nguyễn Sinh Sắc là một trong những niềm tin yêu nhất của Nguyễn Tất Thành
giúp cho Người thêm nghị lực, thêm suy nghĩ hành động để chọn con đường nên đi
và ngược lại trong những năm cuối đời mình hình ảnh người con thân yêu nhất
Nguyễn Tất Thành cũng là niềm tin yêu nhất trong đời cụ. Cụ đã đặt niềm hy vọng
nhất và đã có những nhắn nhủ cuối cùng. Vào khoảng tháng 9-1926, trước khi rời
Sài Gòn bí mật sang Quảng Châu dự lớp Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội. Đồng
chí Lê Mạnh Trinh đã đến chào tạm biệt cụ Nguyễn Sinh Sắc. Thông qua Lê Mạnh
Trinh, cụ Nguyễn Sinh Sắc căn dặn người con trai của mình: “Cháu ra đi cố gắng.
Bác nghe nói “Quốc” đương ở Quảng Châu. Cháu gặp thì nói: Bác vẫn khỏe, đừng
lo... Cứ cố gắng làm việc, trung với nước tức là hiếu với Bác” . Cụ Nguyễn Sinh
Sắc là một nhân cách lớn. Nguyễn Tất Thành đã tiếp nhận được từ nhân cách và
tấm gương yêu nước của người cha kính yêu để hình thành nên phong cách và tư
tưởng cách mạng của mình.
Trước hết đó là tấm gương về ý chí kiên cường quyết tâm vượt qua
mọi gian khổ khó khăn để đạt cho được mục tiêu. Cụ Nguyễn Sinh Sắc là một điển
hình của ý chí đó. Ông đã nêu cao tấm gương hiếu học, khổ học. Quá nửa đời
người ông theo đuổi sự nghiệp vươn lên đỉnh cao của kiến thức, quyết tâm sắt đá
đó để đạt cho được mục tiêu, đã trở thành tấm gương sáng cho con cái noi theo.
Sau này ý chí cứu dân, cứu nước sôi sục thường trực, thiết tha, không nhụt chí,
không nản lòng của Hồ Chí Minh chính là sự kế tục ý chí của thân phụ mình,
nhưng mãnh liệt hơn, với mục tiêu cao cả hơn. Tấm gương ý chí gắn liền với tấm
gương lao động. Cụ Nguyễn Sinh Sắc từ nhỏ đã phải lao động chăn trâu, cắt cỏ,
nấu ăn. Nguyễn Sinh Sắc không những là một học sinh thông minh hiếu học mà còn
là một thiếu niên siêng năng trong lao động, hoạt bát trong sinh họat nết na lễ
phép trong giao. Đỗ Phó bảng rồi cụ Nguyễn Sinh Sắc vẫn cuốc đất làm vườn cùng
với con cái. Nếu không có tấm gương và sự giáo dục đó của thân phụ mình, Nguyễn
Tất Thành không thể khẳng khái giơ hai bàn tay ra nói với bạn: Chúng ta đã làm
bất cứ việc gì để sống và để đi. Việc Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước
trong tư cách là người lao động làm bồi tàu, quét tuyết, rửa ảnh, thủy thủ...
giữ gìn nếp sống cần kiệm, giản dị quyết tâm đi ra nước ngoài xem nước Pháp và
các nước khác họ làm ăn thế nào rồi trở về giúp đồng bào, đó cũng chính là sự
nối tiếp từ cách sống và chí huớng của người cha mình.
Cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc là một nhà Nho cấp tiến có nhân cách cao thượng.
Ông xem thường lễ nghi phong kiến khuyên răn con cái chớ có học đòi. Đừng lấy
phong cách nhà quan làm phong cách nhà mình. Ông xem quan là những kẻ nô lệ
nhất trong đám người nô lệ, khinh rẽ uy quyền, coi trọng đạo đức, giữ gìn nếp
sống trong sạch, giản dị gần gũi với dân, thương yêu học trò. Ông cũng là người
thức thời không bảo thủ, có tư tưởng tiến bộ, có tâm huyết, có chí hướng, sống
giản dị. Có lẽ trong những năm tháng sống bên cạnh cha đã ảnh hưởng cho Nguyễn
Tất Thành một nếp sống thanh cao, tư tưởng tiến bộ như thế.
Nhưng có lẽ tư tưởng thương dân của cụ Nguyễn Sinh Sắc mới là ảnh hưởng sâu sắc
nhất, quyết định nhất đối với sự hình thành tư tưởng đạo đức cách mạng của Chủ
tịch Hồ Chí Minh. Lòng thương dân đó có gốc sâu xa từ trong cuộc đời của
mình, từ nghèo khổ mà đi lên chịu ơn sâu nghĩa nặng của dân. Nguyễn Sinh Sắc là
con người đôn hậu dễ xúc cảm, giàu lòng thương người vốn xuất thân nghèo khố
lại sống gần dân. Cụ hiểu sâu sắc nỗi khổ của dân - Với nỗi khổ niềm thương dân
vô hạn, trước khi vào nhận chức Thửa biện bộ Lễ ông chỉ để lại một ít ruộng cho
người con gái Nguyễn Thị Thanh, còn nửa ông bán lấy tiền giúp cho nhưng người
dân trong làng có người thân phải đi phu. Trong thời làm quan, dù ngắn ngủi cụ
vẫn đứng hẳn về phía nhân dân, trừng trị bọn cường hào tông lý… hay ức hiếp
dân, bênh vực cho người nghèo. Hay khi bị thải hồi lòng thương dân của cụ càng
bao la bát ngát, lòng thương dân của cụ càng sâu đậm cho nên nhân dân miền Nam
nói chung và nhân dân Đồng Tháp nói riêng rất thương yêu qúy trọng cụ, không
chỉ vì cụ là một nhà Nho yêu nước chân chính mà còn là một thầy thuổc giỏi học
rộng, giàu lòng thương người, sẵn sàng giúp đỡ mọi người khi gặp hoạn nạn.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp thu tinh hoa của nhiều nền văn hóa, trước hết là
truyền thống của gia đình, những con người cụ thể. Người được sống trong một
gia đình mà mỗi người có một nét đẹp riêng. Trong đó, người cha, cụ Phó bảng
Nguyễn Sinh Sắc là người có học thức cao, có nhân cách cao thượng, trong sáng,
yêu nước, thương dân đã ảnh hưởng rõ nét đối với nhân cách và ý chí cứu nước
của Hồ Chí Minh, góp phần quan trọng hình thành nên tư tưởng đạo đức, phong
cách Hồ Chí Minh.
TÀI
LIỆU THAM KHẢO
1. Đỗ Hoàng Linh - Nguyễn Văn Dương, Chuyện kể về thời niên thiếu của
Bác Hồ, Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội, 2008.
2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2011.
3. Song Thành (chủ biên), Hồ Chí Minh tiểu sử, Nxb Lý luận chính
trị, Hà Nội, 2006.
4. Đức Vượng (1993), Quá trình hình thành tư tưởng yêu nước của Chủ tịch Hồ
Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
5. Trần Dân Tiên (1975), Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ
tịch, Nxb Sự thật, Hà Nội.
6. Trần Minh Siêu, Những người thân trong gia đình Bác Hồ, Nxb Nghệ
An, 1995.
Avatar: Tượng đài cụ Nguyễn Sinh Sắc và người thanh niên Nguyễn
Tất Thành tại quảng trường TP Quy Nhơn, Bình Định - Ảnh:
D.THANH, https://lyluanchinhtri.vn/tu-tuong-yeu-nuoc-thuong-dan-tu-cu-pho-bang-nguyen-sinh-sac-den-nguoi-thanh-nien-nguyen-tat-thanh-6552.html.