Tiếp nhận và truyền bá tư tưởng phương Tây ở Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX: từ trí thức nho học đến trí thức tân học
Tóm tắt: Giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX là giai đoạn ghi dấu sự du nhập mạnh mẽ của các trào lưu tư tưởng phương Tây vào Việt Nam. Bằng nhiều con đường khác nhau, nhiều học thuyết tư tưởng phương Tây đã hiện diện ở Việt Nam, được tầng lớp trí thức Việt Nam tiếp nhận và truyền bá khắp cả nước. Đây là một quá trình liên tục, mà ở đó, nội dung tiếp nhận ngày càng đa dạng, hình thức truyền bá ngày càng phong phú. Trong bài viết này, tác giả tập trung nghiên cứu hoạt động tiếp nhận và truyền bá tư tưởng phương Tây ở Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, nhìn từ góc độ chủ thể tiếp nhận: Trí thức nho học và trí thức tân học.
Từ
khóa: Trí thức nho học, trí thức tân học, tư tưởng phương Tây, nửa đầu thế kỷ
XX.
1. Trí
thức nho học với việc tiếp nhận tư tưởng phương Tây trong thập niên đầu tiên
của thế kỷ XX
Thập
niên đầu tiên của thế kỷ XX có thể xem là thời kỳ mở đầu cho quá trình tiếp
nhận tư tưởng phương Tây của tầng lớp trí thức Việt Nam. Ở thời kỳ này, đặc điểm
nổi bật nhất là chủ thể tiếp nhận là những nhà nho theo khuynh hướng duy tân.
Hình thức tiếp nhận là thông qua các tài liệu chữ Hán chứa đựng nội dung tri
thức mới, hay còn được gọi là “tân văn”, “tân thư”. Kỳ thực, người trí thức
Việt Nam đã được tiếp xúc với “tân văn”, “tân thư” ngay từ cuối thế kỷ XIX,
nhưng phải bước sang thập niên đầu thế kỷ XX, tư tưởng phương Tây qua “tân
văn”, “tân thư” mới bắt đầu có được tầm ảnh hưởng, sức lay động và sự lan tỏa
trong giới trí thức Việt Nam.
Nhiều
nghiên cứu về lịch sử Việt Nam thời kỳ này đã chỉ ra một nghịch lý: Người Pháp
đã xâm lược và thiết lập nền cai trị của mình ở Việt Nam từ giữa thế kỷ XIX,
nhưng phải đến đầu thế kỷ XX, người Việt Nam mới thực sự biết đến tư tưởng
phương Tây; hơn nữa, không phải qua sự truyền bá của người Pháp, mà là qua sách
vở chữ Hán từ Trung Quốc, Nhật Bản truyền sang. Huỳnh Thúc Kháng đã nêu lên
nghịch lý này trong cuốn sách Phan Tây Hồ tiên sinh lịch sử của ông:
“Người Pháp sang ta đã hơn năm mươi năm, mà sĩ phu trong nước không biết tây
học là gì; cho đến độ nầy người Tàu đem học thuyết Âu Tây dịch ra làm sách, làm
báo để truyền bá mà tỉnh thức người nước. Tiên sinh (Phan Chu Trinh - TG.) được
học thuyết đó như một trận gió mát thấu vào trong óc, thổi sạch cả những đám
mây mù che đậy thuở nay” [6, tr.16]. Như vậy, tư tưởng phương Tây đã đến với
người trí thức Việt Nam qua những sách báo chứa đựng tư tưởng mới từ Trung Quốc
truyền sang, mà quan trọng nhất có lẽ là sách của Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu
- những nhà nho duy tân ở Trung Quốc.
Về vấn
đề chủ thể tiếp nhận ban đầu, thông qua những tự thuật của các nhà nho thế hệ
này, có thể thấy, những nhân vật chủ chốt, đóng vai trò lưu giữ và chia sẻ tân
văn, tân thư trong những năm từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX là Thân Trọng
Huề, Đào Nguyên Phổ, Nguyễn Thượng Hiền. Huỳnh Thúc
Kháng,
trong Phan Tây Hồ tiên sinh lịch sử, đã khẳng định rằng, nhờ qua lại với
Thân Trọng Huề và Đào Nguyên Phổ mà Phan Chu Trinh đã được biết đến sách của
Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu, và qua đó mà biết đến tư tưởng về dân quyền, tự
do của phương Tây [Xem: 6, tr.14]. Trong khi đó, Phan Bội Châu, trong Niên
biểu của mình, đã thuật lại rằng, nhờ Nguyễn Thượng Hiền mà ông biết đến
một số sách của Lương Khải Siêu vào năm 1897 [Xem: 2, tr.24]. Thân Trọng
Huề, Đào Nguyên Phổ hay Nguyễn Thượng Hiền đều không phải những nhân vật chủ
chốt của phong trào duy tân những năm đầu thế kỷ XX, nhưng họ chính là cầu nối
đưa tư tưởng phương Tây đến với những nhân vật duy tân cự phách nhất, như Phan
Bội Châu hay Phan Chu Trinh. Chính từ những nhân vật như Phan Bội Châu, Phan
Chu Trinh mà tư tưởng phương Tây mới thực sự được truyền bá sâu rộng và có sức
lan tỏa trong xã hội Việt Nam lúc bấy giờ.
Ngày
nay, chúng ta có thể biết chắc rằng, hầu hết những nho sĩ duy tân ở Việt Nam đã
biết đến và đọc được Ẩm băng thất, Trung Quốc hồn và nhiều tác
phẩm khác của Lương Khải Siêu và những tác phẩm này đã có một sức lay động hết
sức to lớn đối với người trí thức Việt Nam khi đó. Thông qua đó, nho sĩ Việt
Nam được biết đến những triết gia phương Tây và tư tưởng của họ, đặc biệt là
Rousseau, Montesquieu… Nhưng ngoài những tác phẩm của Lương Khải Siêu, thì nho
sĩ Việt Nam thời kỳ này còn đọc những gì? Ở thời điểm đó, người Trung Quốc đã
tiến hành dịch thuật nhiều trước tác quan trọng trong kho tàng tư tưởng phương
Tây, nhưng người Việt Nam có biết đến những bản dịch ấy hay không? Đây là một
vấn đề cho đến nay còn chưa thực sự được làm rõ.
Về vấn
đề này, trên Trung Bắc tân văn số 197 có một bài viết rất đáng chú ý của
Đào Trinh Nhất: Nghiêm Phục và vấn đề văn hóa Đông Tây. Trong bài viết
này, Đào Trinh Nhất đã đề cập đến một chi tiết quan trọng: “Người Tàu ở cuối
thế kỷ 19, được sôi nổi đón rước tân học, nhờ có công phu ông cảnh tỉnh truyền
bá một phần rất lớn. Ngay sĩ phu nước ta, từ năm Giáp Ngọ (1984) trở đi, nô nức
sách mới, nảy ra óc mới, làm quen với học thuật tư tưởng Thái tây bởi những bản
dịch chữ Hán, phần nhiều là của Nghiêm Phục” [10, tr.16]. Theo những gì Đào
Trinh Nhất đã nêu ra, có thể nói, bên cạnh việc tiếp nhận tư tưởng phương Tây
từ những tác phẩm của những nhà nho duy tân của Trung Quốc, giới nho sĩ Việt
Nam còn được biết đến tư tưởng phương Tây qua cả những bản dịch chữ Hán những
tác phẩm của các nhà tư tưởng phương Tây. Đáng tiếc là Đào Trinh Nhất không chỉ
ra cụ thể một tác phẩm nào. Vì vậy, dựa vào đó, chúng ta cũng vẫn chưa thể biết
đích xác nhà nho duy tân Việt Nam đã trực tiếp đọc được tác phẩm nào của nền tư
tưởng phương Tây.
Nhưng,
Nghiêm Phục ở thời điểm đó đã dịch những tác phẩm nào? Nhìn lại các công trình
dịch thuật của Nghiêm Phục, có thể thấy ông đã dịch khá nhiều tác phẩm của các
nhà tư tưởng phương Tây, nhưng chủ yếu là của những nhà tư tưởng Anh, bao gồm: Thiên
diễn luận (Evolution and Ethics) của Huxley (1898), Nguyên phú
(An Inquiry into Nature and Causes of the Wealth of Nations) của Adam
Smith (1901-1902), Quần học dị ngôn (The Study of Sociology) của
Herbert Spencer (1903), Quần kỷ quyền giới luận (On Liberty,
1903) và Mục Lặc danh học (A System of Logic, 1905) của John
Stuart Mill, Xã hội thông thuyên (A History of Politics) của
Edward Jenks (1904), Danh học thiển thuyết (Primer of Logic) của
William Stanley Jevons (1909). Tác phẩm duy nhất của nền triết học Pháp mà
Nghiêm Phục dịch là Pháp ý (L’esprit des Lois) của Montesquieu
(1904-1909) [Xem: 13, tr.11]. Trong cuốn Đông Kinh Nghĩa thục, Đào Trinh
Nhất đã thuật lại lời của Nguyễn Quyền - một trong những nhân vật chủ chốt của
phong trào Đông Kinh Nghĩa thục: “Hồi này [1905 - TG.] tôi vớ được những sách
tân thơ do đám chí sĩ duy tân Trung Quốc, nhứt là thầy trò Khương Lương, dịch
của Âu Mỹ hoặc tự soạn ra, như “Trung Quốc hồn” hay “Quần kĩ quyền giới luận”.
Tối ngày tôi đọc một cách say mê, đến nỗi quên ăn quên ngủ” [11, tr.358]. Quần
kỷ quyền giới luận chính là tên bản dịch chữ Hán tác phẩm On Liberty
của J.S.Mill. Chi tiết mà Đào Trinh Nhất ghi chép lại, chí ít cũng giúp chúng
ta biết được, những công trình dịch thuật của Nghiêm Phục đã thực sự được đọc
bởi nhà nho Việt Nam đầu thế kỷ XX.
Việc
Nguyễn Quyền đã đọc On Liberty có thể là một chi tiết rất đáng chú ý, vì
cuốn sách này và tác giả của nó thuộc về một truyền thống triết học không mấy
quen thuộc với người trí thức Việt Nam đầu thế kỷ XX. Ảnh hưởng của chủ nghĩa
tự do Anh đối với nho sĩ Việt Nam có lẽ không thể sánh bằng ảnh hưởng của triết
học Khai sáng Pháp. Chúng ta biết Nguyễn Quyền đã đọc On Liberty, song
lại rất khó tìm được ảnh hưởng của J.S.Mill lên các nhà nho duy tân ở Việt Nam.
Cái tên Mục Lặc (J.S.Mill), trong giới trí thức nho học Việt Nam, vẫn mờ nhạt
hơn nhiều so với Lư Thoa (Rousseau) hay Mạnh Đức Tư Cưu (Montesquieu). Trong
khi đó, những công trình mà Nghiêm Phục đã dịch phần lớn lại thuộc về nền tư
tưởng Anh. Đào Trinh Nhất trong bài viết kể trên có băn khoăn rằng, Nghiêm Phục
ít được người Việt nhắc đến như Lương Khải Siêu và Khang Hữu Vi có lẽ cũng vì
lý do đó. Dù sao, từ những tư liệu còn lại, chúng ta cũng có thể khẳng định,
nhà nho Việt Nam trong thập niên đầu thế kỷ XX, đã tiếp nhận tư tưởng phương
Tây từ hai nguồn: Sách vở có chứa đựng tư tưởng phương Tây của các nhà nho duy
tân Trung Quốc và sách dịch các tác phẩm tư tưởng phương Tây của người Trung
Quốc.
Đối với
việc truyền bá tư tưởng phương Tây, nếu như ở giai đoạn cuối thế kỷ XIX, đầu
thế kỷ XX, những nhà nho, như Nguyễn Thượng Hiền, Đào Nguyên Phổ, Thân Trọng
Huề đã thông qua việc chia sẻ tân văn, tân thư mà giúp cho tư tưởng phương Tây
được nhiều nhà nho cùng chí hướng biết đến, thì trong thập niên đầu thế kỷ XX,
các nhà nho sau khi được biết đến những tri thức mới này, đã tiến hành truyền
bá chúng thông qua trước tác của mình. Trong tác phẩm của các nhà nho đầu thế
kỷ XX, của Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, hay sách vở của phong trào Đông Kinh
Nghĩa thục, có thể thấy rất rõ dấu ấn của tư tưởng phương Tây. Những khái niệm,
như “tự do”, “bình đẳng”, “quyền lợi”, “tiến hóa”, “cạnh tranh”, “dân chủ”,
“cộng hòa”…, vốn xuất phát từ tư tưởng phương Tây, nay được các nho sĩ Việt Nam
nhắc đến với sự ngưỡng vọng. Những Mạnh Đức Tư Cưu (Montesquieu), Lư Thoa
(Rousseau), Tư Tân Tắc (Spencer) trở thành những biểu tượng mới, bên cạnh Khổng,
Mạnh của nền tư tưởng Nho giáo.
Văn
minh tân học sách - một tài liệu của Đông Kinh Nghĩa thục - đưa ra nhận định:
“Xét các nước châu Âu: trên có nghị viện duy trì quốc thị, dưới có báo quán, để
đạo đạt hạ tình. Đại trước tác thì có Dân ước luận của Lư Thoa, Tiến
hóa luận của Tư Tân Tắc, Dân quyền thiên của Mạnh Đức Tư Cưu” [4,
tr.179]. Huỳnh Thúc Kháng, khi làm bài thơ tiễn Phan Chu Trinh sang Pháp, đã
viết: “Luận hành Dân ước tuân Lư lão/ Đảo nhập Khoa tây điếu Nã hoàng/ Thử địa
tự do hoa chính hảo/ Bằng quân di chủng đáo viêm phương” [7, tr.98]. Còn chính
Phan Châu Trinh, trong những bài diễn thuyết cuối cùng của mình, cũng vẫn kiên
trì một niềm tin tưởng sâu sắc vào lý tưởng của những nhà khai sáng Pháp: “Nói
đại khái thì về thế kỷ 17 như ông Jean Jacques Rousseau, làm ra “Dân ước” ông
La Fontaine làm ra “Ngụ ngôn” ông Montesquieu làm ra “pháp lý” ông Pascal, ông
Voltaire vân vân, đều là những tay kiếm hết cách mở cái khóa chuyên chế để giúp
đồng bào ra chỗ tự do” [15, tr.256].
Có thể
thấy, thông qua sách vở, diễn thuyết, thơ văn, những nhà nho duy tân đã đưa
những quan niệm mới, những lý tưởng mới về đạo đức, chính trị đến với người dân
trong nước. Từ đó, nền tư tưởng phương Tây dần trở nên quen thuộc với người
Việt. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng, ở trường hợp các nhà nho, tư tưởng phương
Tây đã trở thành một phần trong tư tưởng duy tân của họ. Họ giới thiệu tư tưởng
phương Tây đến với người dân trong nước cũng chính là đang trình bày quan niệm
duy tân của mình. Ở thế hệ trí thức này, chúng ta vẫn chưa thấy những khảo cứu
riêng về tư tưởng phương Tây, cũng như chưa thấy hoạt động phiên dịch các tác
phẩm của nền triết học phương Tây, dù là ra Hán văn. Điều này chỉ được tiếp nối
bởi thế hệ trí thức tân học từ thập niên thứ hai của thế kỷ XX trở đi.
2. Trí thức
tân học với việc tiếp nhận và truyền bá tư tưởng phương Tây ở Việt Nam từ thập
niên thứ hai của thế kỷ XX
Nếu như
vai trò tiếp nhận tư tưởng phương Tây ở Việt Nam trong thập niên đầu tiên của
thế kỷ XX về cơ bản nằm trong thẩm quyền của giới trí thức nho học cổ điển, thì
từ thập niên thứ hai trở đi, vai trò này đã được chuyển giao cho một thế hệ trí
thức mới: Trí thức tân học. Họ là những người trưởng thành dưới nền giáo dục
mới (Pháp - Việt) ở nhiều cấp độ khác nhau, thành thạo tiếng Pháp, có cơ hội và
khả năng tiếp cận trực tiếp với sách vở của phương Tây, bao gồm cả những công
trình khảo cứu về tư tưởng và trước tác của những nhà tư tưởng (đa phần là Pháp
văn). Với sự xuất hiện của họ, sự tiếp nhận và truyền bá tư tưởng phương Tây ở
Việt Nam ngày càng mở rộng về quy mô, đa dạng về hình thức và dần đi vào chiều
sâu. Ở thập niên trước, chúng ta mới chỉ thấy dấu ấn của tư tưởng phương Tây
qua việc những nhà tư tưởng, những tác phẩm và những khái niệm triết học phương
Tây được giới nho sĩ nhắc đến trong các trước tác của mình. Còn từ thập niên
thứ hai trở đi, diễn đàn học thuật ở Việt Nam bắt đầu xuất hiện những bài viết
bàn trực tiếp đến tư tưởng phương Tây, đồng thời, việc dịch thuật tư tưởng
phương Tây cũng bắt đầu được chú trọng.
Trong
việc tiếp nhận tư tưởng phương Tây từ thập niên thứ hai của thế kỷ XX trở đi,
trước hết cần nhắc đến vai trò của Đông Dương tạp chí và Nam Phong
tạp chí với hai thủ lĩnh của những tờ tạp chí này: Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm
Quỳnh. Đông Dương tạp chí ra số đầu tiên năm 1913 đã đóng vai trò đắc
lực trong việc truyền bá văn hóa phương Tây vào Việt Nam, trong đó, thành tựu
chủ yếu của nó là dịch thuật các tác phẩm văn học nổi tiếng của phương Tây.
Việc giới thiệu tư tưởng phương Tây trên Đông Dương tạp chí không thực
sự nổi bật, tuy nhiên, chúng ta cũng có thể thấy được sự hiện diện của một số
nhà tư tưởng trên tờ tạp chí này, như Pascal, Rousseau, Helvetius… Một thống kê
của Nguyễn Phương Ngọc đã chỉ ra sự lép vế trong việc trích dịch Rousseau, so
với những nhà văn như La Fontaine và Molière: từ năm 1913 đến 1918, chỉ có 7
trích lục từ các tác phẩm của Ruosseau trên Đông Dương tạp chí, trong
khi La Fontaine có đến 50 bài, và Molière có khoảng 30 bài [Xem 9, tr.96].
Chúng ta đã biết tầm ảnh hưởng to lớn của Rousseau đối với thế hệ trí thức cổ
điển, nhưng có vẻ trên Đông Dương tạp chí, ông được quan tâm như một nhà
văn nhiều hơn, còn những đoạn trích dịch các tác phẩm của Rousseau không cho
người đọc biết nhiều về tư tưởng của ông.
Phải
đến Nam Phong tạp chí, việc giới thiệu tư tưởng phương Tây mới thực sự
nhận được sự quan tâm và trở thành một trong những nội dung quan trọng của tờ
tạp chí này. Kể từ những năm 1920, trên Nam Phong tạp chí đã bắt đầu
xuất hiện nhiều bài viết về tư tưởng phương Tây. Giới thiệu về tư tưởng phương
Tây trên Nam Phong tạp chí có mấy hình thức sau đây: Giới thiệu chung về
tư tưởng, triết học phương Tây, giới thiệu riêng về một nhà triết học phương
Tây, trích dịch tác phẩm của các nhà triết học phương Tây. Trong đó, ở hai hình
thức đầu, chủ yếu là các bài biên dịch từ tài liệu phương Tây. Nhân vật chủ
chốt nhất trong lĩnh vực này đương nhiên là Phạm Quỳnh khi hầu hết những bài
khảo cứu hay trích dịch đều là sản phẩm của ông. Nhìn vào những bài viết về tư
tưởng phương Tây thời kỳ này, có thể thấy sự áp đảo của những nhà tư tưởng
Pháp, như Descartes, Bergson, Voltaire, Rousseau, Montesquieu, Barres, Paul
Janet, August Comte…(*) Những nhân vật này đều có mặt trong những bài viết giới
thiệu riêng, tương đối chuyên sâu. Bên cạnh đó, ở những bài viết chung về tư
tưởng phương Tây, Nam Phong đã giới thiệu đến độc giả những nhà tư tưởng
nổi bật từ thời cổ đại đến cận đại, như Socrate, Aristotle, Plato, Bentham,
Mill, Kant, v.v.. Ở khía cạnh này, có thể kể đến các bài Khảo về các luân lý
học thuyết của Thái tây (Thượng Chi biên dịch, đăng trên số 47, 49, 50, năm
1921), Triết học Âu châu đời nay (Thượng Chi biên dịch, đăng trên số
119, 122, 130, 131, năm 1927-1928), Thuật bình về chủ nghĩa luân lý Tây
phương (Đông Châu dịch từ Hán văn, đăng trên số 136, 1929)… Về dịch thuật,
trên Nam Phong có những phần trích dịch danh tác của Descartes, Rousseau,
Voltaire, Kant… Phạm Quỳnh đã bắt tay vào dịch Phương pháp luận của
Descartes ngay từ năm 1917, và đã dịch được 3 chương, đăng trên các số 3, 4, 5.
Còn lại, phần lớn là những đoạn trích dịch. Trong đó, Rousseau là một nhà tư
tưởng được trích dịch khá nhiều. Không có một tác phẩm hoàn chỉnh nào của ông
đã được dịch trên Nam Phong, song hầu hết những tác phẩm quan trọng của
ông đều đã được trích dịch, bao gồm cả Emile, Du Contrat Social, Les
Confessions…
Có thể
nói, ở thời điểm những năm 1920, không một tạp chí nào ở Việt Nam có thể cung
cấp một lượng thông tin, tư liệu về tư tưởng phương Tây lớn hơn Nam Phong
tạp chí. Nhưng Nam Phong không chỉ là một tờ tạp chí đơn thuần, mà
còn là cơ quan ngôn luận cho một nhóm trí thức, một khuynh hướng tư tưởng ở
Việt Nam đầu thế kỷ XX. Vì vậy, sự tiếp nhận và truyền bá tư tưởng phương Tây
trên Nam Phong dường như cũng bị khúc xạ qua góc nhìn của nhóm trí thức
này. Những nhân vật mang tính biểu tượng của thập niên đầu thế kỷ XX, như
Rousseau, Montesquieu đã xuất hiện trên Nam Phong theo một cách rất
khác. Nếu như đối với thế hệ nho sĩ duy tân, Rousseau hay Montesquieu là người
mở đường cho tự do, bình đẳng ở phương Tây, là “thầy Lư”, “thầy Mạnh”, sánh
ngang với thầy Khổng, Mạnh trong quá khứ, thì trên Nam Phong, họ không
có uy quyền hầu như tuyệt đối như vậy. Những bài viết về Rousseau trên Nam
Phong cho độc giả thấy một Rousseau với những hành vi thiếu chuẩn mực trong
đời tư [Xem: 3, tr.211] - một nhà văn thiên tài nhưng tư tưởng chứa đựng mầm
mống cho sự hỗn loạn. Mặc dù những bài viết về Rousseau là những bài biên dịch,
nhưng nó thể hiện khá rõ nhận thức của người biên dịch về ông. Mở đầu bài Mấy
lời bình phẩm về Rousseau, soạn giả trước khi dẫn lời bình phẩm của một số
trí thức phương Tây về Rousseau, đã tổng kết: “Ngoại giả phàm người kiến thức
đời nay ở Âu châu đều đã có một cái mối định bình đối với Rousseau: Là cho ông
là một bậc thiên tài về văn học, mà là một cái yêu ma về tư tưởng, (*)đã đem
cái văn chương hay mà truyền bá ra trong thế giới những cái tư tưởng mơ hồ mộng
ảo, trong một trăm năm nay làm điên đảo cả cuộc đời, bao nhiêu những sự họa
loạn bấy lâu phần nhiều là rắc mầm tự ông cả, cái công phá hoại của ông thật là
to tát vô cùng, mà cái công kiến thiết hầu như không có gì vậy” [8, tr.353].
Một cách nhìn như vậy khó có thể thấy được ở thập niên đầu tiên của thế kỷ XX,
song có lẽ là phù hợp với quan điểm văn hóa, chính trị mang tính dung hòa, và
chủ trương tái thiết lập trật tự xã hội như của Phạm Quỳnh nói riêng và Nam
Phong nói chung.
Cũng
trong những năm 1920, song song với những hoạt động của Nam Phong tạp chí
ở Bắc kỳ, tại Nam kỳ, một số nhà trí thức cũng tích cực hoạt động nhằm truyền
bá tư tưởng phương Tây vào Việt Nam. Trong số đó, Nguyễn An Ninh là một nhân
vật đáng chú ý. Đặt trong sự đối sánh với nhóm Nam Phong ở ngoài Bắc, sự
tiếp nhận và truyền bá tư tưởng phương Tây của một trí thức theo khuynh hướng
cấp tiến như Nguyễn An Ninh cho chúng ta thấy những điểm khác biệt rất thú vị.
Năm 1926, khi Nam Phong trích dịch một loạt tác phẩm của Rousseau trên 4
số tạp chí, thì ở Nam kỳ, Nguyễn An Ninh cũng xuất bản bản dịch chương đầu tiên
của Du Contrat Social, với nhan đề tiếng Việt là Xã ước. Mặc dù
đây là một bản dịch không hoàn chỉnh, nhưng thay vì trích dịch như ở Nam
Phong, Nguyễn An Ninh đã lựa chọn dịch một cách trọn vẹn toàn bộ chương đầu
tiên, kèm với lời hứa hẹn sẽ tiếp tục tiến hành công việc dịch thuật này. Việc
trích dịch ở Nam Phong có một điểm mạnh là có thể đưa đến cho người đọc
nhiều tác phẩm khác nhau của Rousseau, nhưng nó cũng hàm chứa một điểm yếu là
có thể đưa đến một cái nhìn phiến diện về Rousseau khi chủ đích lựa chọn dịch
đoạn văn này, trong khi lại bỏ qua một đoạn văn khác. Nếu xét ở khía cạnh này,
một bản dịch như kiểu của Nguyễn An Ninh, dù chưa trọn vẹn, vẫn có khả năng
giới thiệu về tư tưởng của Rousseau một cách toàn diện hơn. Một ví dụ khác,
cũng rất thú vị, sẽ cho chúng ta thấy sự khác biệt trong tiếp nhận và diễn giải
tư tưởng phương Tây trong tầng lớp trí thức tân học Việt Nam. Năm 1923, nhân
dịp Maurice Barrès qua đời, Nguyễn An Ninh có bài viết Nhà văn Maurice
Barrès đã qua đời, giới thiệu về tư tưởng của Barres cho người Việt Nam.
Trong bài viết này, Nguyễn An Ninh đặc biệt nhấn mạnh đến sự thôi thúc rời đi,
thôi thúc viễn du, thôi thúc tự do trong các tác phẩm của Barrès [Xem: 12, tr.119-123].
Đây cũng chính là điều mà Nguyễn An Ninh từng nhiệt thành cổ động trong bài
diễn thuyết nổi tiếng của mình Lý tưởng của thanh niên An Nam. Trong khi
đó, năm 1924, Phạm Quỳnh, trong bài viết Một danh sĩ nước Pháp: Ông Maurice
Barrès lại đặc biệt nhấn mạnh một khía cạnh khác trong tư tưởng của Barrès,
đó là mối liên hệ mật thiết giữa cá nhân với tổ tiên và nòi giống. Và điều này
hoàn toàn phù hợp với tinh thần phục cổ trong tư tưởng của Phạm Quỳnh.
Những
ví dụ trên đã cho thấy một cách rõ ràng tính đa diện trong tiếp nhận và diễn
giải tư tưởng phương Tây ở Việt Nam của tầng lớp trí thức tân học. Cùng một nhà
triết học, nhưng đứng từ những góc nhìn khác nhau, xuất phát từ những mục đích
khác nhau, mà người trí thức tân học Việt Nam thời kỳ này có thể đưa ra những
cách diễn giải khác nhau, nhấn mạnh hoặc bỏ qua một vài điểm nào đó trong tư
tưởng của nhà triết học ấy. Ở đây, sự diễn giải, truyền bá không còn mang tính
cách của những khảo cứu đơn thuần, mà thực sự hàm chứa đằng sau nó quan điểm,
khuynh hướng tư tưởng của bản thân chủ thể diễn giải.
Những
năm 20 của thế kỷ XX còn là giai đoạn ghi dấu sự có mặt của chủ nghĩa Mác ở
Việt Nam. Về sự hiện diện của những văn bản liên quan đến C.Mác, theo Trần Văn
Giàu, cho đến trước Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, không có một bằng chứng
nào cho thấy sự xuất hiện các tác phẩm của C.Mác hoặc về C.Mác ở Sài Gòn, nơi
được cho là mảnh đất đầu tiên tiếp nhận chủ nghĩa Mác ở Việt Nam. Sự xuất hiện
của những tài liệu như thế chỉ có thể thấy được trong những năm 1920 [Xem: 5,
tr.477]. Ở thời kỳ này, nếu như ở nước ngoài, Nguyễn Ái Quốc đóng một vai trò
đặc biệt quan trọng trong việc truyền bá chủ nghĩa Mác vào Việt Nam, thì ở
trong nước, vai trò này gắn với tên tuổi của Phan Văn Trường, Nguyễn An Ninh
cùng các tờ báo La Cloche fêlée và L’Annam. La Cloche fêlée
chính là tờ báo đã đăng tải nguyên văn Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản bằng
tiếng Pháp, vào năm 1926. Ngoài ra, còn nhiều bài viết khác về C.Mác, về chủ
nghĩa cộng sản đã được đăng tải trên hai tờ báo này trong suốt những năm 1920.
Trong cuốn hồi ký Nhớ nghĩ chiều hôm, học giả Đào Duy Anh cũng đã thừa
nhận rằng, năm 1926, ông đã phải vào Sài Gòn để tìm kiếm tài liệu về chủ nghĩa
cộng sản để bổ sung thêm vào nguồn tài liệu nhận được từ Việt Nam Thanh niên
Cách mạng đồng chí hội ở Quảng Châu [Xem: 1, tr.20]. Chi tiết đó đã cho thấy vị
trí của Nam kỳ, cũng như vai trò của những trí thức hoạt động ở mảnh đất này
trong quá trình tiếp nhận chủ nghĩa Mác ở Việt Nam. Nhìn chung, đến cuối những
năm 1920, có thể nói, hầu hết các trào lưu, khuynh hướng tư tưởng và nhà tư
tưởng quan trọng ở phương Tây, từ thời kỳ cổ đại đến cận đại đã được biết đến ở
Việt Nam, với những mức độ và tầm ảnh hưởng khác nhau. Đây có thể xem là một
bước tiến rất nhanh chóng trong tiến trình tiếp nhận tư tưởng phương Tây so với
thập niên đầu thế kỷ.
Bước
sang những năm 1930, 1940, việc truyền bá tư tưởng phương Tây tiếp tục được đẩy
mạnh bởi giới trí thức tân học. Đặc điểm của giai đoạn này là sự nở rộ của các
sách xuất bản, các thư xã và các tủ sách. Từ cuối những năm 1920, Quan Hải tùng
thư đã giới thiệu một loạt sách dịch, phỏng dịch có nội dung liên quan đến chủ
nghĩa Mác, như Lịch sử học thuyết kinh tế (do Phan Đăng Lưu lược dịch), Tôn
giáo là gì? Xã hội là gì? Dân tộc là gì? (Đào Duy Anh soạn dựa vào sách của
Boukharine và lý luận dân tộc của Lênin)… Sang những năm 1930, lại có những
công trình, như Mười một công thức làm cơ sở cho duy vật sử quan của Karl
Marx (Trần Hữu Độ biên dịch, năm 1936), Biện chứng pháp phổ thông (Phan
Văn Hùm, 1937)… Những năm 1940, trên diễn đàn học thuật ở Việt Nam tiếp tục
xuất hiện một loạt sách về triết học phương Tây, như Triết học Bergson
(1942) của Lê Chí Thiệp, Triết học Kant (1942), Triết học Nietzsche
(1942), Triết học Einstein (1943), Triết học Descartes (1943) của
Nguyễn Đình Thi, Học thuyết Freud (1943) của Tô Kiều Phương… Việc cùng
lúc xuất hiện nhiều cuốn sách khảo cứu về mặt triết học như vậy là một hiện
tượng chưa từng xảy ra ở những thập niên trước. Điều đáng chú ý hơn là sự đón
nhận của công chúng đối với những ấn phẩm này, như Đinh Gia Trinh đã chỉ ra năm
1944: “Một điều đáng chú ý là triết học hiện nay hình như cũng được dân chúng
trìu mến lắm. Cách đây ít lâu, hỏi các hàng sách Hà Nội đã thấy bán hầu hết
những quyển sách triết học của “Tủ sách triết học Tân Việt”. Nào Kant, nào
Nietzsche, nào Bergson, độc giả yêu sách đã vơ cả rồi” [14, tr.8]. Mặc dù ngay
cả những công trình này cũng phần nhiều được biên soạn dựa vào sự biên dịch
những tài liệu nghiên cứu nước ngoài, nhưng chúng cũng cho thấy tư tưởng phương
Tây đã tiếp tục thấm sâu thêm một bước trong giới trí thức Việt Nam, sau một
chặng đường kéo dài gần nửa thế kỷ.
3. Kết
luận
Nhìn
lại hoạt động tiếp nhận và truyền bá tư tưởng phương Tây của trí thức Việt Nam
trong nửa đầu thế kỷ XX, chúng ta có thể thấy được một vài đặc điểm nổi bật của
quá trình này. Thứ nhất, đây là một quá trình liên tục, dựa trên sự tiếp
nối của hai thế hệ trí thức: Trí thức nho học và trí thức tân học. Trong đó,
tầng lớp trí thức nho học, mà cụ thể là những nhà nho duy tân, nắm giữ một vai
trò then chốt trong khoảng 10 năm đầu thế kỷ, trước khi chuyển giao vai trò đó
cho tầng lớp trí thức tân học, kể từ thập niên thứ hai của thế kỷ XX. Từ tầng
lớp trí thức nho học đến tầng lớp trí thức tân học, tư tưởng phương Tây được
tiếp nhận ở Việt Nam ngày càng phong phú về nội dung, đa dạng về hình thức. Thứ
hai, trong sự tiếp nhận tư tưởng phương Tây ở Việt Nam, có thể thấy sự nổi
trội về mặt ảnh hưởng của nền triết học Pháp với các nhà tư tưởng, như
Descartes, Montequieu, Rousseau, Bergson…, và nền triết học Đức với các đại
biểu, như Kant, C.Mác… Trong đó, triết học Pháp có ảnh hưởng sâu đậm ngay từ
thập niên đầu tiên của thế kỷ XX và còn tiếp tục duy trì tầm ảnh hưởng đó trong
những thập niên tiếp theo. Triết học mácxít cũng ngày càng mở rộng tầm ảnh
hưởng của mình từ những năm 1930. Thứ ba, hoạt động tiếp nhận và truyền
bá tư tưởng phương Tây ở Việt Nam thể hiện rất rõ khuynh hướng tư tưởng của bản
thân chủ thể tiếp nhận và truyền bá. Nếu như ở thập niên đầu, sự tiếp nhận tư
tưởng phương Tây của các nhà nho tương đối thống nhất khi họ cùng hướng đến và
đề cao những khái niệm, những giá trị giống nhau, tôn thờ những nhà tư tưởng
giống nhau, thì sự tiếp nhận này ở tầng lớp trí thức tân học lại có sự khác
biệt rõ rệt. Họ chú ý đến những nhà tư tưởng khác nhau với việc họ nhấn mạnh
hoặc bỏ qua mặt này hay mặt khác của cùng một nhà tư tưởng. Thứ tư, sự
tiếp nhận tư tưởng phương Tây ở Việt Nam vẫn còn những thiếu hụt rất đáng kể.
Các công trình khảo cứu phần nhiều vẫn là biên dịch, và đặc biệt là sau nửa thế
kỷ, hầu như chưa có một tác phẩm quan trọng nào của nền tư tưởng phương Tây
thực sự được phiên dịch một cách trọn vẹn ở Việt Nam. Đây có thể xem là một sự
thiếu hụt, nếu nhìn vào những hoạt động hết sức sôi nổi, không ngừng nghỉ của
tầng lớp trí thức Việt Nam trong việc tiếp nhận và truyền bá tư tưởng phương
Tây trong nửa đầu thế kỷ XX.
Tài
liệu tham khảo
[1] Đào
Duy Anh (2000), Hồi ký Đào Duy Anh (Nhớ nghĩ chiều hôm), Nxb Trẻ, Tp. Hồ
Chí Minh.
[2] Phan
Bội Châu (1973), Phan Bội Châu Niên biểu, (Nguyễn Khắc Ngữ chú thích)
Nhóm Nghiên cứu Sử Địa xuất bản, Sài Gòn.
[3] Thượng
Chi biên dịch (1926), Lịch sử và học thuyết của Rousseau, Nam Phong, số
104, quyển XVIII.
[4] Đông
Kinh Nghĩa thục và Văn thơ Đông Kinh Nghĩa thục (2010), Chương Thâu biên
soạn, Nxb Hà Nội, Hà Nội.
[5] Trần
Văn Giàu (2013), “Chủ nghĩa Mác - Lênin truyền bá ở thành phố Hồ Chí Minh từ
1920-1945”, trong Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng chủ biên, Địa chí văn hóa
thành phố Hồ Chí Minh, tập IV: Tư tưởng và tín ngưỡng, Nxb Tổng hợp Thành
phố Hồ Chí Minh, Tp. Hồ Chí Minh.
[6] Minh
Viên Huỳnh Thúc Kháng (1959), Phan Tây Hồ tiên sinh lịch sử, Anh Minh
xuất bản, Huế.
[7] Thơ
văn Huỳnh Thúc Kháng (1965), Vương Đình Quang nghiên cứu - tuyển lựa, Nxb
Văn học, Hà Nội.
[8] “Mấy
lời bình phẩm về Rousseau”, Nam Phong, số 105, quyển XVIII, 1926.
[9] Nguyễn
Phương Ngọc (2018), “Gió Tây, gió Đông - Sự du nhập tinh thần Khai sáng vào
Việt Nam đầu thế kỷ XX, trong: Hoài Hương Aubert-Nguyen và Michel Espagne chủ
biên, Việt Nam - Một lịch sử chuyển giao văn hóa, Phạm Văn Quang chủ trì
dịch và giới thiệu, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội.
[10] Đào
Trinh Nhất, Nghiêm Phục và vấn đề văn hóa Đông Tây (I), Trung Bắc Tân
văn, số 197, 1944.
[11] Đào Trinh Nhất, Tác phẩm,
Nxb Văn học, Hà Nội, 2010.
[12] Nguyễn An Ninh, Tác phẩm,
Nxb Văn học, Hà Nội, 2009.
[13] Thương Vụ Ấn thư quán biên tập bộ, Luận Nghiêm
Phục dữ Nghiêm dịch danh trước, Thương Vụ Ấn thư quán, Bắc Kinh, 1982,
(tiếng Trung).
[14] Đinh Gia Trinh, Nay và mai:
ý kiến và cảm tưởng về những hoạt động tinh thần Việt Nam, Thanh Nghị, số
51-54, 1944.
[15] Phan Châu Trinh, Toàn tập,
tập 3, Nxb Đà Nẵng, Đà Nẵng, 2005.