PGS.TS. Nguyễn Văn Huy - Người tiên phong kiến tạo quan niệm mới cho ngành bảo tàng Việt Nam: Hành trình và thành tựu Chặng đường xây dựng Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam và những đóng góp học thuật của nguyên Giám đốc sáng lập Bảo tàng
Có những con người tên tuổi không gắn với một chức vụ, mà gắn
với một sự chuyển dịch tư duy trong cách tiếp cận của cả một ngành bảo tàng học.
PGS.TS. Nguyễn Văn Huy - Giám đốc sáng lập Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (Bảo
tàng) là một trường hợp như vậy.
Từ một nhà dân tộc học đi điền dã ở những vùng biên viễn xa
xôi, ông trở thành người khởi xướng một quan niệm bảo tàng khác hẳn lối mòn
đương thời, bảo tàng không phải là kho hiện vật “tĩnh”, mà là một không gian “động”
của văn hóa; nơi chính chủ thể văn hóa được trao quyền để tiếng nói của cộng động
được cất lên, được đề cao; nơi công chúng được trải nghiệm; và nơi tri thức
khoa học được kiến tạo ngay trong thực hành. Giới bảo tàng trong nước, khu vực
và quốc tế đều ghi nhận những đóng góp ấy của ông gắn với việc thay đổi quan niệm
tiếp cận từ “tĩnh” sang “động”, từ “văn hóa là bất biến, điển hình” sang “văn
hóa là đời thường” qua hành trình thực hành cách tiếp cận mới của Bảo tàng.
Điều đáng chú ý là quan niệm về bảo tàng của PGS.TS. Nguyễn
Văn Huy không phải là kinh nghiệm rời rạc, mà là một hệ tư tưởng được ông suy
ngẫm, tranh luận, thực hành, lan tỏa và tổng kết thành lý luận trong nhiều công
trình khoa học. Chúng ta cùng nhìn lại hành trình và thành tựu của PGS.TS. Nguyễn
Văn Huy gắn với cách tiếp cận mới mà ông đã kiến tạo cho ngành bảo tàng ở Việt
Nam để thấy di sản trí tuệ có sức lan tỏa vượt ra ngoài phạm vi của một bảo
tàng chuyên ngành dân tộc học.
PGS.TS. Nguyễn Văn Huy cùng Ban Giám đốc và các cán bộ của Bảo tàng DTHNVN trong Trưng bày “Mừng Đảng – Mừng Xuân: Khát vọng vươn xa” tại Viện Hàn lâm KHXHVN, tháng 2/2026
Xuất thân học thuật và hành trình khởi đầu gắn bó với Bảo
tàng
PGS.TS. Nguyễn Văn Huy là con trai út của học giả Nguyễn Văn
Huyên (1908-1975) - nhà văn hóa học, nhà dân tộc học, người Việt Nam đầu tiên bảo
vệ thành công luận án tiến sĩ Văn khoa tại Đại học Sorbonne (Paris, 1934), Bộ
trưởng Bộ Giáo dục trong gần ba thập niên. Sinh ra trong gia đình có truyền thống
giáo dục, PGS.TS. Nguyễn Văn Huy chọn con đường nghiên cứu khoa học gắn với các
dân tộc rất ít người. Ông thừa hưởng từ cha phương pháp luận, cách tiếp cận các
hiện tượng nhân văn vừa cụ thể vừa tổng thể, cùng đức tính kiên trì, sáng tạo,
không ngại thử thách trong nghiên cứu khoa học.
Những năm 1970-1980, giới khoa học đặt ra câu hỏi lớn “Việt
Nam có bao nhiêu dân tộc?”, nhà nghiên cứu trẻ Nguyễn Văn Huy nhận phần việc
không hề dễ, đi nghiên cứu khảo tả và xác định thành phần những tộc người ít
người ở vùng núi Tây Bắc, Tây Nguyên, dọc biên giới Việt - Lào và Việt - Trung.
Với hành trang gạo và muối vừng, chủ yếu đi bộ và đi xe đạp, trong khoảng 10
năm, ông đã tiếp cận văn hóa của hàng loạt dân tộc thuộc các ngữ hệ khác nhau:
Xinh Mun, Kháng, Khơ-mú, Hà Nhì, La Hủ, Lô Lô, Cống, Si La, Cơ Lao, La Chí, Pu
Péo, Xơ-đăng, Rơ-măm, Brâu... Những công việc ấy đã góp phần trả lại tộc danh
cho những nhóm trước đó bị định danh chung chung, thậm chí miệt thị và góp phần
hình thành danh mục thành phần dân tộc Việt Nam. Công tác xác định thành phần
các dân tộc được tiến hành từ năm 1968 đến năm 1976, đến nay kết quả đó vẫn
đang được sử dụng trong trưng bày của Bảo tàng.
Sang đầu những năm 1990, ông tiếp tục đi trước một bước khi
kết hợp phương pháp điều tra xã hội học vào dân tộc học. Đây chính là bước chuyển
dân tộc học từ mô tả sang ứng dụng, tạo nền tảng để ông khai mở một mảng nghiên
cứu mới xây dựng Bảo tàng. Bản thân ông gắn bó với Viện Dân tộc học từ rất sớm,
làm Thư ký khoa học (1978), rồi Phó Viện trưởng (1981-1995) nên có mặt trong
công cuộc thai nghén Bảo tàng ngay từ những ý tưởng đầu tiên.
PGS.TS. Nguyễn Văn Huy tại Phòng Đa Phương tiện, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, tháng 6/2025
Bối cảnh ra đời, hành trình xây dựng bảo tàng từ không hiện
vật và những thành tựu
Ý tưởng về một bảo tàng dân tộc học đã hình thành từ nửa cuối
thập niên 1970, xuất phát từ chính các nhà dân tộc học ở Viện Dân tộc học. Phần
lớn họ được đào tạo và tu nghiệp ở Liên Xô cuối những năm 1960 - đầu những năm
1970, từng tận mắt thấy các bảo tàng dân tộc học ở Leningrad và ngoại ô Mascow;
cùng với đó là lời khuyến nghị của GS. Georges Condominas (Pháp) tại Ủy ban
Khoa học xã hội Việt Nam (nay là Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) đầu những
năm 1970 về sự cần thiết của một bảo tàng dân tộc học. Qua thực tiễn điền dã, họ
nhận thấy một đất nước đa dân tộc, thực thi chính sách bình đẳng, đoàn kết các
dân tộc thì không thể không có bảo tàng dân tộc học.
Năm 1979, Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam lập Phòng Kỹ thuật
hiện vật trực thuộc Viện Dân tộc học (năm 1988 đổi tên thành Phòng Bảo tàng dân
tộc học). Năm 1981, Thủ tướng Chính phủ cho phép Viện Dân tộc học lập luận chứng
kinh tế - kỹ thuật cho bảo tàng; chủ trương này được khẳng định lại trong Nghị
quyết 159/HĐBT (1983). Một mốc quan trọng là cuộc gặp ngày 16/9/1985 giữa lãnh
đạo Ủy ban Khoa học xã hội và Bộ Văn hóa, dẫn tới công văn thỏa thuận liên Bộ về
chủ trương xây dựng Bảo tàng tại Hà Nội.
Trong bối cảnh kinh tế - xã hội còn khó khăn sau các cuộc
chiến tranh biên giới, đã có ý kiến băn khoăn liệu xây dựng bảo tàng có đúng
lúc khi cả nước còn lo cái “đói”. Nhưng lập luận về nhu cầu chuẩn bị nền tảng
tinh thần và đời sống văn hóa cho tương lai đã thuyết phục được lãnh đạo các cấp.
Dự án được phê duyệt cuối năm 1987 với tổng dự toán 26 tỷ đồng, tương đương khoảng
1,5 triệu USD theo tỷ giá thời điểm đó, một nguồn kinh phí quá ít ỏi để xây dựng
một bảo tàng lớn và hiện đại. Công trình khởi công năm 1989-1990; do đầu tư thiếu
tập trung nên chậm trễ khoảng 4 - 5 năm, song sự chậm trễ ấy lại là cơ hội để
chuẩn bị kỹ hơn về chuyên môn và hợp tác quốc tế.
Bảo tàng chính thức được thành lập theo Quyết định số
689/TTg ngày 24/10/1995 của Thủ tướng Chính phủ. Một điểm đặc biệt khác với hầu
hết bảo tàng quốc gia trực thuộc Bộ Văn hóa lúc bấy giờ, Bảo tàng được đặt như
một đơn vị độc lập thuộc khối khoa học xã hội, chính đặc điểm này đã giúp Bảo
tàng sớm giành và giữ vững định hướng nghiên cứu khoa học. Hai năm sau, nhân Hội
nghị Thượng đỉnh lần thứ bảy các nước có sử dụng tiếng Pháp họp tại Hà Nội,
ngày 12/11/1997, Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình và Tổng thống Cộng hòa Pháp
Jacques Chirac đã cắt băng khai trương trưng bày. Sự kiện này được báo chí bình
chọn là một trong mười sự kiện văn hóa, văn nghệ tiêu biểu của Việt Nam năm
1997.
Năm 2013, Bảo tàng được Trip Advisor - một website đánh giá
chất lượng điểm đến du lịch có uy tín trên thế giới bình chọn xếp hạng đứng thứ
6 trong 25 bảo tàng hấp dẫn nhất châu Á. Ba năm liên tiếp 2015, 2016 và 2017, Bảo
tàng được vinh danh là điểm tham quan du lịch hàng đầu Việt Nam do Bộ Văn hóa,
Thể thao và Du lịch trao tặng. Năm 2015 được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân
chương Lao động hạng Nhất.
PGS.TS. Nguyễn Văn Huy nhớ lại buổi ban đầu gian nan: “Bắt đầu
từ số không - không hiện vật, không kinh nghiệm, không đào tạo về bảo tàng.
Khác với phần lớn bảo tàng ở Việt Nam và châu Âu hay Bắc Mỹ vốn ra đời trên nền
những bộ sưu tập có sẵn gắn với các giám tuyển. Bảo tàng không có hiện vật kế
thừa, cũng không có sẵn quan điểm học thuật về bảo tàng học tiên tiến. Chính vì
thế, cả tập thể Bảo tàng đã trải qua một quá trình học hỏi, tự biến đổi mình để
tiếp cận những quan niệm mới”. Nỗi trăn trở lớn nhất của PGS.TS. Nguyễn Văn Huy
là làm sao để Bảo tàng không rơi vào cảnh đìu hiu, vắng khách như nhiều bảo
tàng thời kỳ đó, tình trạng mà báo chí đương thời gọi là “đèn không hắt bóng”.
Ngay sau khi giới thiệu thành công văn hóa 54 dân tộc, sứ mệnh
của Bảo tàng tiếp tục được tái khẳng định trên một hệ chức năng liên hoàn:
nghiên cứu, sưu tầm, kiểm kê, bảo quản, trưng bày và giáo dục di sản. Điểm đáng
lưu ý là đối tượng của bảo tàng đã được mở rộng có chủ đích, từ các tộc người ở
Việt Nam đến không gian văn hóa Đông Nam Á và rộng hơn là bức tranh đa dạng văn
hóa trên thế giới. Sự dịch chuyển này không đơn thuần là gia tăng phạm vi trưng
bày, mà phản ánh một định hướng học thuật nhất quán, đặt văn hóa tộc người của
Việt Nam trong tương quan khu vực và quốc tế, qua đó nâng tầm vị thế của Bảo
tàng từ một thiết chế lưu giữ bản sắc quốc gia thành một chủ thể tham gia vào
diễn ngôn nhân học đương đại.
Thành tựu của Bảo tàng không nằm ở quy mô sưu tập hay hệ thống
danh hiệu, mà ở việc kiến tạo và định hình một triết lý bảo tàng lấy con người
và cộng đồng chủ thể làm trung tâm. Chính triết lý ấy đã đưa dân tộc học vượt
khỏi khuôn khổ hàn lâm để trở thành tri thức sống động trong đời sống công
chúng và đó mới là di sản có sức lan tỏa lâu dài nhất mà thiết chế này để lại
cho ngành bảo tàng học Việt Nam.
Triết lý bảo tàng mới được kiến tạo từ bốn chuyển dịch trong
quan niệm thực hành diễn giải di sản ở Bảo tàng DTHVN
Đóng góp sâu sắc nhất của PGS.TS. Nguyễn Văn Huy không nằm ở
một kỹ thuật trưng bày, mà ở một sự thay đổi nhận thức, tạo dựng một con đường
mới cho ngành bảo tàng học ở Việt Nam. Trên con đường tìm tòi, sáng tạo, xây dựng
và phát triển Bảo tàng, ông đúc kết hành trình của Bảo tàng thành bốn chuyển dịch
quan niệm căn bản, những chuyển dịch tạo nên “tính mới” của bảo tàng trong bối
cảnh ngành dân tộc học chuyển dịch sang nhân học hiện đại.
Thứ nhất, từ việc đi tìm cái “đại diện”, “điển hình”, “bản
chất”, “thuần khiết” đến nhận thức rằng “cái đời thường chính là văn hóa”
Ngay từ thời kỳ đầu ông đã nhận thức rõ bối cảnh ra đời đặc
thù của Bảo tàng để xác định chủ trương định hướng sưu tầm những hiện vật đời
thường trong cuộc sống thường nhật, thay vì chỉ săn tìm cái đặc trưng, quý hiếm.
Câu chuyện tiêu biểu là chiếc xe đạp chở 700 - 800 chiếc dụng cụ bắt cá của gia
đình ông Phạm Đăng Úy ở Hưng Yên hiện đang được trưng bày ở Bảo tàng. Khi ấy,
có ý kiến phản đối cho rằng trưng bày một hiện vật “tầm thường” như thế “chẳng
khác gì kéo nền văn hóa Việt lùi về cả ngàn năm”. Với tư cách Giám đốc, ông quyết
định đưa chiếc xe vào trưng bày và chịu trách nhiệm cá nhân về quyết định đó.
Hiện nay, chiếc xe đó trở thành một trong những hiện vật được du khách đánh giá
đẹp và ý nghĩa nhất bởi nó hấp dẫn không phải vì đắt tiền hay quý hiếm, mà vì
phản ánh cái dung dị của cuộc sống đời thường.
Thứ hai, từ quan niệm văn hóa là bất biến, đi tìm “hằng số”
của văn hóa đến quan niệm văn hóa như sự pha trộn, đa dạng, luôn vận động và biến
đổi
Đây là nội dung cuộc
tranh luận học thuật nổi tiếng quanh ngôi nhà nửa sàn nửa trệt của người Dao Họ
(khánh thành năm 1999). Khi Bảo tàng trưng bày trong nhà chiếc néo - một công cụ
đập lúa nước - đã có nhà nghiên cứu phê phán rằng người Dao du canh du cư “chỉ
làm nương” thì sao lại có nông cụ làm ruộng. PGS.TS. Nguyễn Văn Huy giải thích:
người Dao Họ ở Bảo Thắng (Lào Cai) tuy trước làm nương nhưng nay đã định cư,
làm thêm ruộng nước, nhà có điện, có tivi, máy bơm; chiếc néo chính là chi tiết
nổi bật kể câu chuyện biến đổi của văn hóa. Tương tự, khi mua ngôi nhà dài của
người Ê-đê năm 2000, nhóm công tác đã chọn đúng ngôi nhà “không thuần khiết” có
hoa văn con voi kiểu Lào và cả mô-típ ngôi sao mới vì văn hóa vốn là kết quả của
giao lưu ngàn đời, chứ không phải một “hằng số” khép kín.
Thứ ba, từ chỗ chỉ chú trọng dân tộc thiểu số, nông thôn, miền
núi đến trình bày cả về đô thị và vùng công nghiệp
Nhận ra rằng đời sống
đô thị cũng là một mảng quan trọng của văn hóa Việt Nam, Bảo tàng lần lượt thực
hiện các trưng bày chuyên đề chạm tới đời sống thị dân: Tết trẻ em: Trung thu
xưa và nay (1999), Gia phả Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại (2001), Làng
thuốc nam Đại Yên (2003), 100 năm đám cưới Việt Nam (2005), Người dân phố cổ và
di sản văn hóa phi vật thể (2006), cùng dự án phim cộng đồng (2009) phản ánh
thách thức của người dân tộc thiểu số khi chuyển về sống ở Hà Nội.
Thứ tư, từ lối trưng bày một chiều ca ngợi, tôn vinh đến
cách tiếp cận suy ngẫm, phản thân và phê phán xã hội
Từ các chuyến tham quan học hỏi ở nước ngoài, đặc biệt là
hai cuộc trưng bày ông xem ở Mỹ năm 1990, một về cách đối xử với người Mỹ gốc
Nhật ở hậu phương trong Thế chiến II, một về nạn phân biệt chủng tộc qua hai
toa xe lửa dành riêng cho người da trắng và da đen đã gợi cho ông suy nghĩ về
trách nhiệm xã hội của bảo tàng. Thay vì áp đặt tư tưởng có sẵn, Bảo tàng trình
bày một cách nhìn trung thực, gợi mở để công chúng tự suy ngẫm. Đỉnh cao của hướng
đi này là trưng bày Cuộc sống ở Hà Nội thời bao cấp, 1975-1986 (6/2006 -
6/2007), đây là một hiện tượng chưa từng có trong giới bảo tàng Việt Nam, thu
hút lượng khách kỷ lục và được báo chí trong, ngoài nước đánh giá cao, bởi đã
nói đúng thực trạng và tâm tư của người dân về “đêm trước” của Đổi mới.
PGS.TS. Nguyễn Văn Huy chụp ảnh lưu niệm cùng các nhà khoa học, chuyên gia quốc tế và các nghệ nhân dân gian nhân dịp kỷ niệm 30 năm thành lập Bảo tàng DTHVN, tháng 10/2025
Một di sản tư tưởng đánh dấu mốc son cho bước ngoặt lịch sử
của ngành bảo tàng ở Việt Nam
Nhìn lại hành trình của PGS.TS. Nguyễn Văn Huy, có thể nhận
ra một sợi chỉ đỏ xuyên suốt về khát vọng đưa tri thức hàn lâm đến gần gũi với
công chúng. Sự thành công trong hành trình tìm ra con đường đi riêng gắn với
quan điểm tiếp cận mới trao quyền cho cộng đồng để họ tự cất lên tiếng nói của
mình. Từ nhà dân tộc học đi khảo tả các tộc người ít người, đến người giám đốc
sáng lập kiến tạo quan niệm bảo tàng học mới, ông đã góp phần thay đổi căn bản
làm bước ngoặt lịch sử trong ngành bảo tàng ở Việt Nam.
Thành tựu lớn nhất của PGS.TS. Nguyễn Văn Huy không chỉ là một
bảo tàng cụ thể, mà là một hệ tư tưởng đã lan tỏa bảo tàng là không gian sống của
văn hóa, nơi cái đời thường được trân trọng, nơi văn hóa được nhìn trong sự vận
động, nơi cộng đồng được lên tiếng, nơi tri thức được tái định hình và được kiến
tạo qua đối thoại. Những cải cách này không chỉ định hình nên bản sắc độc đáo của
Bảo tàng, mà còn tạo ra một cú huých lý luận và thực tiễn, thúc đẩy sự chuyển dịch
tư duy của toàn bộ hệ thống bảo tàng Việt Nam bước vào thời kỳ hội nhập và phát
triển. Tính mới, sự khác biệt và thành công của Bảo tàng là kết quả tiên phong
trong thay đổi và áp dụng các quan niệm mới giữa một thời điểm lịch sử của Đổi
mới và một con người dám nghĩ khác, dám làm khác. Đó là di sản mà Bảo tàng Dân
tộc học Việt Nam hôm nay tiếp tục gìn giữ và phát triển như một lời tri ân với
người đã đặt những viên gạch đầu tiên - PGS.TS. Nguyễn Văn Huy./.
(Nội dung bài viết có dùng tư liệu của một số đồng nghiệp
trong các công trình nghiên cứu của Bảo tàng DTHVN).