Tọa đàm khoa học: Bài học kinh nghiệm của một số nước Đông Á cho Việt Nam trong việc thực thi chính sách phát triển cụm công nghiệp xanh
Ngày 26/8/2026, tại trụ sở Liễu Giai, Ngọc Hà, Hà Nội, Viện Thông tin Khoa học xã hội (KHXH) đã tổ chức Tọa đàm khoa học “Bài học kinh nghiệm của một số nước Đông Á cho Việt Nam trong việc thực thi chính sách phát triển cụm công nghiệp xanh”. Đây là hoạt động trong khuôn khổ Nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp Bộ 2025-2026 “Chính sách phát triển các cụm công nghiệp xanh ở một số nước Đông Á” do PGS.TS. Nguyễn Duy Lợi chủ nhiệm, Viện Nghiên cứu Châu Á - Thái Bình Dương chủ trì thực hiện, nhằm trao đổi kinh nghiệm thực tiễn và làm rõ những hàm ý chính sách có thể tham khảo cho Việt Nam.

Quang
cảnh buổi Tọa đàm
Tọa đàm do PGS.TS. Nguyễn
Duy Lợi, Phó Viện trưởng Viện Thông tin KHXH, Chủ nhiệm nhiệm vụ chủ trì. Tham
dự có các thành viên thực hiện nhiệm vụ; các chuyên gia, nhà khoa học, nghiên
cứu viên và cán bộ Viện Thông tin KHXH. PGS.TS. Dương Văn Huy và TS. Tống Thùy
Linh, Viện Nghiên cứu Châu Á - Thái Bình Dương tham dự và trình bày tham luận.
Phân tích chính sách phát
triển cụm công nghiệp (CCN) xanh tại Trung Quốc, PGS.TS. Dương Văn Huy cho
biết, trên cơ sở định hướng phát triển xanh, carbon thấp và tư tưởng văn minh
sinh thái, Trung Quốc triển khai quá trình chuyển đổi theo hai hướng: xanh hóa
các ngành công nghiệp hiện có và phát triển các ngành công nghiệp xanh mới.
Trong quá trình này, CCN và khu công nghiệp xanh được xác định là một trong
những công cụ quan trọng thúc đẩy chuyển đổi xanh trong sản xuất công nghiệp,
đồng thời gắn mục tiêu tăng trưởng kinh tế với yêu cầu bảo vệ môi trường.
Theo PGS.TS. Dương Văn
Huy, CCN xanh của Trung Quốc gồm 03 loại hình chính: các CCN và sản xuất xanh,
các CCN xanh mới nổi (pin mặt trời, pin lithium và xe năng lượng mới), cụm kinh
tế tuần hoàn và sử dụng tài nguyên toàn diện. Các CCN của Trung Quốc là sự kết
hợp giữa tăng trưởng kinh tế và trách nhiệm bảo vệ môi trường; sứ mệnh của CCN
xanh là giải quyết thách thức kép: khử carbon trong công nghiệp và duy trì tăng
trưởng kinh tế.

PGS.TS.
Dương Văn Huy, Viện Nghiên cứu Châu Á - Thái Bình Dương trình
bày tham luận tại Tọa đàm
Từ kinh nghiệm của Trung
Quốc trong điện khí hóa và phát triển năng lượng sạch, sử dụng tín hiệu chính
sách để định hướng chuyển đổi, tăng cường cơ chế thị trường, mở rộng thị trường
điện xanh, thúc đẩy công nghệ và ứng dụng số, PGS.TS. Dương Văn Huy đã chỉ ra
một số hàm ý chính sách cho Việt Nam, trong đó chú trọng xanh hóa trong tất cả
các lĩnh vực công nghiệp, xây dựng các mô hình CCN xanh thí điểm và thực hiện
chuyển đổi xanh theo cách tiếp cận có tính hệ thống.
Đối với Hàn Quốc, TS.
Tống Thùy Linh cho biết, chính phủ Hàn Quốc xem tăng trưởng xanh là trục xương
sống kinh tế. CCN hội tụ xanh hình thành nhằm mục tiêu tập trung hóa nguồn lực,
hiện thực hóa mục tiêu trung hòa carbon vào năm 2050. Bản chất của sự “hội tụ”
là không chỉ gắn kết các ngành công nghiệp xanh mà còn thể chế hóa việc kết
nối: nghiên cứu và phát triển, thực chứng công nghệ, thương mại hóa và sản
xuất, đào tạo nhân lực chuyên sâu.

TS.
Tống Thùy Linh, Viện Nghiên cứu Châu Á - Thái Bình Dương trình
bày tham luận tại Tọa đàm
Trên cơ sở phân tích cụ
thể 10 CCN hội tụ xanh của Hàn Quốc, TS. Tống Thùy Linh đưa ra 03 khuyến nghị
chính sách cho Việt Nam trong việc thực thi chính sách phát triển CCN
xanh. Một là thể chế hóa bằng luật định chuyên biệt, tránh xây
dựng các khu công nghiệp sinh thái hoặc CCN xanh chỉ dựa trên các quyết định
hành chính hoặc thông tư thí điểm riêng lẻ dễ bị gián đoạn chính sách. Hai
là xây dựng cơ chế sàng lọc “doanh nghiệp đổi mới xanh” để tập trung
các nguồn lực tài chính, ưu đãi thuế địa phương và các hạt nhân công nghệ xanh
có năng lực thực chứng tốt. Ba là thiết lập mô hình quản trị
tích hợp và cơ quan chủ quản rõ ràng để vừa vận hành CCN xanh, vừa kết nối
nguồn lực công - tư và triển khai các chương trình hỗ trợ cụ thể.
Phân tích trường hợp ở
Indonesia, PGS.TS. Nguyễn Duy Lợi chỉ ra những nguyên nhân chính khiến
Indonesia phải xanh hóa các CCN: do tiêu hao năng lượng, phát thải khí nhà kính
gia tăng; do đòi hỏi ngày càng cao về tiêu chuẩn môi trường, trách nhiệm xã hội
của thị trường và chuỗi cung ứng toàn cầu; và do yêu cầu nâng cao năng lực cạnh
tranh dài hạn.
Trên cơ sở phân tích mục
tiêu của Indonesia, đến năm 2030 (≥50% khu công nghiệp, CCN đạt chứng nhận công
nghiệp xanh; giảm khoảng 30% cường độ CO₂ so với năm 2010) và năm 2060 (phát
thải ròng bằng 0 cho toàn bộ hệ thống công nghiệp); phân tích 04 trụ cột chính
sách về quy hoạch hạ tầng, cơ chế ưu đãi tài chính, tiêu chuẩn pháp lý và năng
lực công nghệ; đánh giá lộ trình thực thi với thông điệp “xanh hóa không chỉ là
đầu tư công nghệ mà là bài toán thể chế và quản trị” cùng các kết quả đạt được của
Indonesia qua 10 năm thực hiện, PGS.TS. Nguyễn Duy Lợi nhấn mạnh bài học kinh
nghiệm cho Việt Nam là muốn CCN xanh thành công phải đồng thời xanh hóa hạ
tầng, xanh hóa tài chính và xanh hóa quản trị.
Các tham luận và nội dung
trình bày tại Tọa đàm đã nhận được nhiều ý kiến trao đổi, phản biện của các
chuyên gia, nhà khoa học và đại biểu tham dự, qua đó góp phần làm rõ thêm những
điều kiện, công cụ và cách thức tổ chức thực hiện chính sách phát triển CCN
xanh trong những bối cảnh khác nhau.

PGS.TS.
Nguyễn Duy Lợi - Phó Viện trưởng Viện Thông tin KHXH phát
biểu bế mạc Tọa đàm
Phát biểu bế mạc Tọa đàm,
PGS.TS. Nguyễn Duy Lợi - Phó Viện trưởng Viện Thông tin KHXH, Chủ nhiệm nhiệm
vụ ghi nhận 10 lượt phát biểu tham luận, ý kiến trao đổi, thảo luận sôi nổi với
tinh thần trách nhiệm cao, tập trung vào nhiều nội dung xoay quanh chủ đề về
CCN xanh ở Trung Quốc, Hàn Quốc và Indonesia. Qua đó cho thấy, phát triển CCN
xanh là một xu thế tất yếu, thực chất là sự chuyển đổi mô hình tăng trưởng của
các quốc gia trên thế giới, từ sử dụng nhiều nguồn năng lượng hóa thạch sang sử
dụng các năng lượng xanh, tuần hoàn, thân thiện hơn với môi trường. Mô hình này
không chỉ giúp các doanh nghiệp phát huy năng lực cạnh tranh, mà còn thể hiện
sức mạnh quốc gia trong quan hệ quốc tế.
Từ kinh nghiệm của ba
quốc gia, một số vấn đề có ý nghĩa tham khảo đối với Việt Nam được đặt ra, gồm:
từng bước hoàn thiện thể chế và các tiêu chí về phát triển xanh; xây dựng hạ
tầng đồng bộ cho các ngành công nghiệp xanh; phát triển các công cụ hỗ trợ như
tín dụng xanh, trái phiếu xanh và công nghệ xanh; tăng cường ứng dụng công nghệ
số trong quản lý, giám sát và đánh giá quá trình chuyển đổi.

Các đại
biểu tham dự Tọa đàm chụp ảnh lưu niệm
Kết quả Tọa đàm bổ sung
thêm cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc thực hiện Nhiệm vụ khoa học và công
nghệ cấp Bộ “Chính sách phát triển các cụm công nghiệp xanh ở một số nước Đông
Á”, đồng thời cung cấp những kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với quá trình
hoàn thiện chính sách phát triển CCN xanh ở Việt Nam. Qua kinh nghiệm của Trung
Quốc, Hàn Quốc và Indonesia có thể thấy, hiệu quả của quá trình chuyển đổi xanh
phụ thuộc đáng kể vào sự đồng bộ giữa thể chế, hạ tầng, nguồn lực tài chính,
công nghệ và năng lực quản trị.