Kỹ năng số – nền tảng để người dân tham gia và hưởng lợi từ chuyển đổi số
Chuyển đổi số là một định hướng quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam. Việc ứng dụng công nghệ số vào hoạt động quản lý nhà nước, sản xuất, kinh doanh, giáo dục, y tế và đời sống xã hội không chỉ làm thay đổi phương thức vận hành của các tổ chức mà còn tác động trực tiếp đến cách thức người dân tiếp cận thông tin, thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân, giao tiếp, tham gia vào đời sống xã hội và tiếp cận các nguồn lực phát triển.
Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là “đột phá quan trọng hàng đầu”, đồng thời khẳng định “người dân và doanh nghiệp là trung tâm, chủ thể, nguồn lực và động lực chính” của quá trình này (Bộ Chính trị, 2024). Cùng với việc phát triển hạ tầng và các nền tảng số, Nghị quyết đã đặt ra nhiệm vụ triển khai phong trào học tập số, phổ cập và nâng cao kiến thức khoa học, công nghệ, kiến thức số trong nhân dân. Cụ thể hóa nhiệm vụ này, Kế hoạch 01-KH/BCĐTW ngày 21/03/2025 về triển khai phong trào “Bình dân học vụ số” đã tiếp tục đặt vấn đề phổ cập kiến thức, kỹ năng số gắn với nhu cầu thực tế của người dân.
Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, việc có thiết bị kết nối internet hoặc có tài khoản trên một nền tảng trực tuyến chưa đồng nghĩa với việc một người có thể sử dụng công nghệ một cách hiệu quả. Người dân có thể truy cập được mạng nhưng vẫn gặp khó khăn khi tìm kiếm thông tin đáng tin cậy, hoàn thành thủ tục trực tuyến, bảo vệ tài khoản cá nhân hoặc nhận biết dấu hiệu lừa đảo. Do đó, cần quan tâm đến khoảng cách giữa khả năng tiếp cận công nghệ và khả năng sử dụng công nghệ để giải quyết nhu cầu thực tế.
Theo UNESCO (2018), kỹ năng số bao gồm khả năng sử dụng thiết bị kỹ thuật số, ứng dụng truyền thông và các hệ thống mạng để truy cập, quản lý thông tin; qua đó sáng tạo và chia sẻ nội dung số; giao tiếp, hợp tác và giải quyết vấn đề trong đời sống, học tập, công việc và các hoạt động xã hội. Khung kiến thức, kỹ năng số cơ bản ban hành kèm Quyết định số 757/QĐ-BKHCN ngày 29/04/2025 của Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) xác định sáu nhóm kỹ năng: (1) Sử dụng thiết bị số và phần mềm; (2) Khai thác thông tin và dữ liệu số; (3) Giao tiếp và hợp tác trên môi trường số; (4) Sáng tạo nội dung số; (5) Đảm bảo an toàn, an ninh mạng; (6) Giải quyết vấn đề nhờ ứng dụng công nghệ số.
Từ góc độ xã hội, phổ cập kỹ năng số không chỉ là hướng dẫn người dân sử dụng một thiết bị hay ứng dụng cụ thể mà còn tạo điều kiện để họ chủ động tham gia vào đời sống số, tiếp cận cơ hội và dịch vụ, tự bảo vệ mình trước rủi ro, đồng thời không bị gạt ra ngoài các hoạt động xã hội đang ngày càng số hoá. Để đạt được mục tiêu này, kỹ năng số cần được phát triển song hành với hạ tầng phù hợp, dịch vụ dễ tiếp cận, môi trường trực tuyến an toàn và sự hỗ trợ dành cho những nhóm yếu thế, đặc biệt là người cao tuổi, người khuyết tật và người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi .
Kỹ năng số giúp người dân chủ động tham gia và hưởng lợi từ chuyển đổi số
Thứ nhất, nâng cao khả năng tiếp cận và sử dụng các dịch vụ thiết yếu
Sự phát triển của chính phủ số và xã hội số tạo điều kiện để người dân thực hiện thủ tục hành chính, tiếp cận thông tin y tế, giáo dục và các chính sách an sinh xã hội thông qua môi trường trực tuyến. Để tận dụng những tiện ích này, người dân cần biết tìm kiếm đúng nguồn thông tin, đọc hiểu hướng dẫn, chuẩn bị hồ sơ điện tử và thực hiện các thao tác cần thiết. Những kỹ năng đó có thể giúp giảm thời gian, chi phí đi lại và tạo thuận lợi khi tiếp cận dịch vụ ở xa nơi cư trú.
Đối với các nhu cầu liên quan đến sức khỏe, giáo dục và chính sách an sinh xã hội, khả năng tìm kiếm, đánh giá và vận dụng thông tin số giúp người dân có thêm cơ sở để lựa chọn dịch vụ phù hợp với bản thân và gia đình. Như vậy, kỹ năng số góp phần chuyển khả năng tiếp cận thông tin thành khả năng giải quyết những nhu cầu thiết yếu trong đời sống.
Thứ hai, mở rộng cơ hội học tập, việc làm và tham gia kinh tế số
Kỹ năng khai thác thông tin, sử dụng phần mềm, giao tiếp và hợp tác trên môi trường số giúp người dân tiếp cận tài liệu học tập, tham gia các khóa đào tạo trực tuyến, tìm kiếm việc làm và trao đổi chuyên môn , tiếp cận các nền tảng hỗ trợ công việc. Với người lao động, những kỹ năng này hỗ trợ quá trình học tập suốt đời và thích ứng với yêu cầu công việc. Đối với hộ kinh doanh và người lao động tự do, khả năng sử dụng nền tảng số để giới thiệu sản phẩm, quảng bá dịch vụ, trao đổi với khách hàng và quản lý giao dịch tạo thêm cơ hội mở rộng thị trường.
Việc vận dụng công nghệ để cải tiến phương thức làm việc, tiếp cận khách hàng hoặc tìm kiếm giải pháp cho nhu cầu thực tế còn góp phần thúc đẩy đổi mới trong hoạt động sản xuất, kinh doanh. Theo đó, kỹ năng số không chỉ hỗ trợ người dân thích ứng với những thay đổi mà còn tạo điều kiện để họ chủ động tìm kiếm cơ hội phát triển nghề nghiệp và kinh tế.
Thứ ba, tăng cường khả năng tham gia đời sống xã hội và thực hiện quyền công dân
Kỹ năng giao tiếp, hợp tác và chia sẻ nội dung trên môi trường số giúp người dân duy trì quan hệ với người thân, kết nối với cộng đồng, trao đổi kinh nghiệm và tham gia vào các nhóm có cùng mối quan tâm, đặc biệt với những người có điều kiện đi lại hạn chế hoặc sống xa các trung tâm dịch vụ. Kỹ năng tìm kiếm, chọn lọc thông tin cũng hỗ trợ người dân tiếp nhận thông tin về pháp luật, nghị quyết, chính sách; theo dõi, phản ánh các vấn đề xã hội và thể hiện quan điểm về những nội dung liên quan đến đời sống cá nhân, gia đình và cộng đồng. Vì vậy, kỹ năng số góp phần mở rộng không gian giao tiếp, tăng cơ hội chia sẻ tri thức, tạo điều kiện để người dân tham gia vào các hoạt động xã hội và thực hiện quyền công dân.
Thứ tư, bảo đảm an toàn và nâng cao tính tự chủ trong môi trường số
Kỹ năng bảo đảm an toàn, an ninh mạng giúp người dân nhận diện nguy cơ lừa đảo trực tuyến, kiểm chứng độ tin cậy của thông tin, bảo vệ tài khoản và dữ liệu cá nhân, cũng như sử dụng các nền tảng số một cách có trách nhiệm. Việc biết thiết lập mật khẩu an toàn, kiểm soát quyền truy cập thông tin và nhận diện những dấu hiệu bất thường trong giao dịch giúp hạn chế nguy cơ mất dữ liệu, tổn thất tài chính và xâm phạm quyền riêng tư.
Bên cạnh đó, khả năng sử dụng công nghệ và kiểm soát thông tin còn góp phần nâng cao tính tự chủ của mỗi cá nhân. Khi có đủ kỹ năng để tìm kiếm thông tin, thực hiện giao dịch và quản lý tài khoản, người dân có thể chủ động hơn trong việc giải quyết công việc và đưa ra quyết định liên quan đến bản thân. Trong gia đình, sự hỗ trợ giữa các thành viên có thể giúp người ít kinh nghiệm tiếp cận công nghệ thuận lợi hơn. Tuy nhiên, việc hỗ trợ chỉ thực sự củng cố tính tự chủ khi người sử dụng hiểu được hoạt động đang thực hiện, kiểm soát được thông tin cá nhân và giữ quyền quyết định đối với các giao dịch liên quan đến mình.
Những vấn đề đặt ra và gợi mở định hướng nghiên cứu về chủ đề kỹ năng số
Mặc dù chuyển đổi số mở rộng cơ hội tiếp cận thông tin, dịch vụ và các nguồn lực phát triển cho người dân, nhưng khả năng thụ hưởng những lợi ích này vẫn không đồng đều giữa các nhóm dân cư. Khoảng cách số không chỉ nằm ở điều kiện tiếp cận thiết bị và internet mà còn thể hiện ở sự khác biệt về kỹ năng sử dụng công nghệ và khả năng tận dụng công nghệ để cải thiện cuộc sống. Bên cạnh đó, khoảng cách số còn tồn tại giữa các nhóm xã hội khác nhau về độ tuổi, giới tính, tình trạng khuyết tật, khu vực cư trú,… Người cao tuổi có thể gặp khó khăn khi sử dụng các ứng dụng có giao diện phức tạp ; người khuyết tật có thể gặp rào cản từ thiết kế chưa phù hợp; một bộ phận người dân tộc thiểu số có thể gặp trở ngại do điều kiện kết nối, chi phí thiết bị và khác biệt ngôn ngữ. Những khó khăn này không hoàn toàn xuất phát từ đặc điểm cá nhân mà còn gắn với điều kiện kinh tế – xã hội, môi trường sống và cách thức thiết kế các dịch vụ số.
Khoảng cách số còn có những biểu hiện liên quan đến giới. Khác biệt về cơ hội tiếp cận công nghệ, việc làm, thu nhập và trách nhiệm chăm sóc gia đình có thể ảnh hưởng đến khả năng phát triển kỹ năng số và thụ hưởng lợi ích từ chuyển đổi số của phụ nữ và nam giới. Bên cạnh đó, định kiến giới, quấy rối trực tuyến và bạo lực trên cơ sở giới trong môi trường số cũng ảnh hưởng đến sự an toàn và khả năng tham gia các hoạt động xã hội.
Đồng thời, lừa đảo trực tuyến, đánh cắp danh tính, thông tin sai lệch và xâm phạm dữ liệu cá nhân có thể gây ra những tổn thất về tài chính, tinh thần và các mối quan hệ xã hội. Những rủi ro này không thể được giải quyết chỉ bằng kỹ năng cá nhân mà còn đòi hỏi trách nhiệm từ các nền tảng, đơn vị cung cấp dịch vụ và cơ chế hỗ trợ phù hợp.
Từ góc độ nghiên cứu con người, gia đình và giới, cần tiếp cận chuyển đổi số không chỉ từ khía cạnh công nghệ mà còn từ năng lực, điều kiện sống, quan hệ xã hội và khả năng thụ hưởng của người dân. Trên cơ sở đó, có thể gợi mở một số hướng nghiên cứu sau:
Thứ nhất, kỹ năng số với phát triển con người và khả năng thụ hưởng thành quả chuyển đổi số. Cần làm rõ vai trò của kỹ năng số trong việc mở rộng cơ hội học tập, việc làm, tiếp cận dịch vụ thiết yếu và nâng cao chất lượng cuộc sống; đồng thời phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng chuyển hóa năng lực số thành lợi ích thực tế. Hướng nghiên cứu này giúp phân biệt khả năng tiếp cận công nghệ với khả năng sử dụng công nghệ để mở rộng cơ hội và cải thiện đời sống.
Thứ hai, kỹ năng số từ góc độ quyền con người và an ninh con người. Việc số hóa các dịch vụ và hoạt động xã hội đặt ra yêu cầu bảo đảm người dân có khả năng tiếp cận thông tin, thực hiện các quyền và bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình trong môi trường số. Cần nghiên cứu mối quan hệ giữa kỹ năng số với khả năng bảo vệ dữ liệu cá nhân, quyền riêng tư, nhận diện thông tin sai lệch và ứng phó với các nguy cơ lừa đảo, xâm phạm an toàn trên mạng. Đồng thời, xem xét vai trò của thiết kế nền tảng, đơn vị cung cấp dịch vụ và các cơ chế hỗ trợ trong việc hạn chế rủi ro, bảo đảm an toàn, an ninh mạng.
Thứ ba, khoảng cách số, bất bình đẳng xã hội và khả năng hòa nhập của các nhóm yếu thế. Cần phân tích cách điều kiện kinh tế – xã hội, trình độ học vấn, nơi cư trú, đặc điểm cá nhân và khả năng tiếp cận các nguồn lực ảnh hưởng đến việc hình thành, duy trì và vận dụng kỹ năng số. Đối với người cao tuổi, trẻ em, người khuyết tật, người dân tộc thiểu số và các nhóm có hoàn cảnh khó khăn , nghiên cứu cần nhận diện những rào cản mang tính hệ thống, đánh giá mức độ phù hợp của các dịch vụ và chương trình phổ cập kỹ năng số, từ đó xác định các hình thức hỗ trợ cần thiết, thúc đẩy khả năng tham gia bình đẳng, hạn chế nguy cơ bị gạt ra ngoài các hoạt động xã hội ngày càng số hóa.
Thứ tư, kỹ năng số, bình đẳng giới và sự biến đổi của quan hệ giới. Cần làm rõ sự khác biệt về cơ hội tiếp cận, phát triển và vận dụng kỹ năng số giữa phụ nữ và nam giới; phân tích tác động của chuyển đổi số đối với việc làm, thu nhập, khả năng tự chủ kinh tế và sự tham gia xã hội. Bên cạnh đó, cần xem xét mối liên hệ giữa việc sử dụng công nghệ với phân công lao động, trách nhiệm chăm sóc gia đình, định kiến giới, quấy rối và bạo lực trên cơ sở giới trong môi trường số.
Phát triển kỹ năng số không chỉ là yêu cầu thích ứng với tiến trình chuyển đổi số, mà còn gắn với cơ hội phát triển, khả năng tự chủ và mức độ tham gia của người dân vào đời sống xã hội. Tuy nhiên, những khác biệt về điều kiện kinh tế – xã hội, giới, thế hệ và khả năng tiếp cận các nguồn lực có thể khiến lợi ích từ chuyển đổi số được phân bổ không đồng đều. Từ góc độ nghiên cứu con người, gia đình và giới, việc làm rõ những yếu tố này có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình xây dựng các chính sách phổ cập kỹ năng số theo hướng bao trùm, bảo đảm người dân không chỉ tiếp cận được công nghệ mà còn có khả năng sử dụng và thụ hưởng các lợi ích từ công nghệ trong đời sống.
Tài liệu tham khảo
Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. (2025). Kế hoạch số 01-KH/BCĐTW ngày 21/3/2025 về triển khai phong trào “Bình dân học vụ số”.
Bộ Chính trị. (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/toan-van-nghi-quyet-ve-dot-pha-phat-trien-khoa-hoc-cong-nghe-doi-moi-sang-tao-va-chuyen-doi-so-quoc-gia-119241224180048642.htm
Bộ Khoa học và Công nghệ. (2025). Quyết định số 757/QĐ-BKHCN ngày 29/4/2025 ban hành Khung kiến thức, kỹ năng số cơ bản và Hướng dẫn đánh giá, xác nhận hoàn thành mức độ phổ cập kỹ năng số. https://ngoktu.quangngai.gov.vn/upload/2007064/20251024/Quyet_dinh-757-QD-BKHCN_bcdb7.pdf
UNESCO. (2018; cập nhật 2023). Digital skills critical for jobs and social inclusion. https://www.unesco.org/en/articles/digital-skills-critical-jobs-and-social-inclusion