Tấm bia về đạo thầy trò trên đất Nghệ An
Đầu tháng 9 năm 2000, nhân chuyến điền dã lên vùng Thanh Chương (Nghệ An) để xác minh vài tư liệu địa chí, tình cờ chúng tôi được tiếp cận tấm bia đá đặt trong vườn nhà thầy giáo Nguyễn Thế Bình ở xóm Đức Nghĩa, Xã Thanh Tường, phía trên thị trấn Dùng khoảng 2 km. Bia có kích thước: 195 x 85 x 14,5cm, riêng đế hình hộp dày và cao 38,5cm. Về trang trí thì cả mặt trước và mặt sau đều giống nhau: Trán bia có hình hai con rồng chầu mặt trăng (Lưỡng Long triều nguyệt) và diềm hai bên là họa tiết hoa văn hình dây leo. Qua tìm hiểu, được biết đây là tấm bia do các môn sinh Hán học của nhà giáo Cử nhân Nguyễn Thế Cát (1855 - 1937) tạo dựng vào năm Mậu Dần (1938). Và đá làm bia phải mua tận Thanh Hóa rồi chở bằng thuyền theo đường Kênh nhà Lê vào đến Vinh, lại ngược sông Lam, cả thảy ngót tháng trời mới đưa về tận nơi. Nhà bia lúc đầu làm bằng gỗ, nhưng năm 1968 bị bom Mỹ làm hỏng nên sau đó con cháu làm lại xây gạch như hiện tại. Do gìn giữ và bảo quản chu đáo nên tấm bia vẫn nguyên vẹn như mới tạc, chỉ cần lau sạch bụi là đọc được từ đầu đến cuối. Mặt sau ghi phần “công đức” với tiêu đề: “Tử đệ khoa sắc tính danh tịnh cung ngân ký” gồm danh sách trên mấy chục người theo thứ tự khoa “có hai đại khoa” rồi đến sắc...

Văn bia (mặt trước) có tiêu đề: “Đồng Doanh Vĩnh Am Nguyễn tiên sinh bi” có nghĩa là: “Bài bia tiên sinh họ Nguyễn, tự là Vĩnh Am ở Đồng Doanh” (1). Toàn văn dịch nghĩa như sau:

“Thời cuộc biến đổi, bãi bể nương dâu; nhưng cái Đạo cao quí của ta thì vẫn như núi Thái Sơn, sao Bắc Đẩu. Đạo cốt ở nhân tâm, tâm còn thì Đạo còn. Cỏ chi, hoa huệ dù héo tàn vẫn không phai lạt mùi thơm, huống chi người có Đạo lúc sống tiếng thơm lan tỏa khắp nơi thì lẽ nào sau khi chết lại không được ca ngợi ?

Sau ngày Vĩnh Am Nguyễn tiên sinh qua đời tròn năm (nguyên văn: cơ niên), các môn sinh muốn theo phong tục xưa cung kính tạc vào bia đá tấm lòng đối với thầy, nên có nhờ tôi soạn cho lời văn. Tôi lưỡng lự, vì tự thấy khả năng văn bút chưa hẳn đã bằng kẻ thuộc hạ là Phạm Hi Văn (?), nói chi so với Quách Hữu Đạo (?) vốn chuyên về văn bia! Nhưng xét ở điều nghĩa thì thật không nỡ chối từ, bởi: Với thân phụ tôi thì Tiên sinh là chỗ bạn đồng niên, với tôi thì học trò của ngài cũng đều là bằng hữu. Và hơn tất cả, đó là ý chí, sự nghiệp, cùng với phẩm hạnh cao đẹp của Tiên sinh từng được người đời truyền tụng lâu nay nên không thể không ghi chép lại...

Tiên sinh sinh năm ất Mão đời vua Tự Đức(1855), là con thầy đồ Nguyễn ở Đồng Doanh(2). Tính tình điềm đạm, ôn nhã, ham đọc sách, từ nhỏ đã có tiếng văn học. Năm Mậu Dần (1878) đỗ Cử nhân Ân khoa. Tiếp đến, trải hai lần thi Hội, đều trúng tam trường. Đến khi được triều đình cử đi công cán ở huyện Thanh Chương, rồi huyện Can Lộc, sau đó điều vào Kinh nhận chức mới. ít lâu sau lại theo lệnh ra làm việc tại phủ Thọ Xuân và tiếp đến là được cử đi chấm thi Hương ở một số tỉnh cũng như ở Kinh. Trải hơn mười năm làm quan, với đức hạnh và đạo nghĩa trong sáng, trước sau Tiên sinh vẫn giữ mình nghiêm cẩn bằng sự thanh đạm trong thú vui văn chương. Còn như những thứ lợi lộc, bạc tiền thì tuyệt nhiên không một mảy may tơ màng đến.

Thế rồi, tuy chưa đến tuổi, nhưng do gặp đại tang nên đã từ quan rồi trở về với chiếu văn và khuây khỏa tháng ngày cùng phong cảnh núi sông ở chốn quê nhà. Lại cũng không quên lấy việc đào tạo lớp hậu tiến làm sự nghiệp nên chẳng quản ngại tuổi tác cùng những ràng buộc khác về riêng tư. Học trò theo học ngày một đông, bất kể thân hay sơ đều được tiếp nhận và rèn dạy chu đáo. Bấy giờ chế độ học hành đã có những thay đổi, không còn được như trước. Một số kẻ xu thời nhân đó đã chạy đua theo vòng danh lợi, riêng Tiên sinh vẫn lấy đạo thánh hiền mà giảng dạy cho con cháu, không hề suy tính thiệt hơn và vẫn giữ nếp sống thanh đạm như vốn có. Lý Cố nói: “Nhân chi thanh giả vi hiền” tức sống thanh cao là người hiền, thì chính tiên sinh là người như thế...

Lúc bấy giờ, con trai và con rể đều đỗ Cử nhân (nguyên văn: Hiếu liêm), riêng học trò thì một người đỗ Đình nguyên, ba người đỗ Phó bảng(3) (nguyên văn: Phó mặc). Còn như bọn đỗ đầu, thứ hai, thứ ba... thi Hương thì nhiều lắm. Với những người không đỗ đạt thì phần lớn vẫn được hưởng lộc triều đình. Ngộ giả những kẻ ít may mắn hơn thì cũng không đến nỗi hèn kém mà làm mất danh giáo. Đó là nhờ công ơn dạy bảo của Tiên sinh mà có.

Năm Duy Tân thứ 6 (1912) do tiếng tăm của Tiên sinh vọng tới triều đình nên đã được chuẩn thăng “Phụng thành Đại phu Hàn lâm viện thị giảng”.

Năm ngoái, ở tuổi 83 xuân thọ, Tiên sinh đã qua đời tại nhà và an táng ngoài cánh đồng gần làng (nguyên văn: táng vu cận giao). Ngẩng trông xa xăm, tưởng nhớ Người đã hết lòng chăm lo cho con trẻ mà dựng đình, tiếc thương mà dâng rượu. Nỗi niềm này đâu chỉ là tấc lòng riêng của học trò đối với thầy mà thôi...

Trời đất còn thì đạo nghĩa còn. Điều này cứ ngẫm ở Tiên sinh là thấy rõ. Bậc hiền trí dù đã đi xa mà danh vọng, tên tuổi vẫn được tôn vinh như Tiên sinh quả là hiếm vậy. Xin được cầm bút làm bài minh cung Kính dâng Tiên sinh. Minh rằng:

Kính nhớ Tiên sinh
Người thầy đức độ
Châu ngọc sáng tỏ
Phượng hoàng uy nghi
Như Hán ấu An
Như Đường Sùng Chi
Một lòng vì đạo
“Dị thế đồng qui”
Núi Nhẫn cao thay
Sông Lam trong thay
Đá bền ghi tạc
Tiên hiền bia đây(3)

Triều vua Bảo Đại năm thứ 13, mùa đông Mậu Dần (1938), ngày tốt (cốc nhật) tháng 11.

Tham gia biên soạn:

- Cựu Thượng thư bộ Lễ(4), Phó bảng Mai Khê Nguyễn Thúc Dinh, tự Tử Nhai soạn thảo (nguyên văn: bái thư).

- Nhị giáp Tiến sĩ cựu tham tri(5) An Kim Đinh Văn Chấp tham gia hiệu đính (nguyên văn: tham đính)

- Bạn đồng niên ân giải Đại phu thị giảng hưu trí thọ quan Chu Đình Tùng Trai Lê Tâm hiệu khảo.

Tất cả môn đệ kính ghi (6).

 

Chú thích:

(1), (2)  Đồng Doanh (gọi tắt) tức là làng Doanh (Dinh) Châu, xã Đại Đồng (tổng Đại Đồng, huyện Thanh Chương, Nghệ An) trước Cách mạng tháng 8/ 45. Tục thường gọi là làng Vịnh Giấy, nay thuộc xã Thanh Tường, Thanh Chương.

(3) Nguyên văn bài minh như sau (phiên âm): “Cung duy tiên sinh, Chi đức khả sư. Châu ngọc kỳ quang, Phượng hoàng kỳ nghi. Hán chi ấu An, Đường chi Sùng Chi. Trí đạo đốc hành, Dị thế đồng qui. Nhẫn Sơn chi dương, Lam Giang chi thanh. Trinh miên vĩnh tục, tư hiền chi bi”.

(4) Nguyên văn: “Lễ bộ Thượng thư trí sự”

(5) Nguyên văn: “Tham tri trí sự”. ở đây dựa theo ý mà dịch “trí sự” thành “cựu”.

(6) Nguyên văn: “Môn đệ đồng bái chí”.

Nguyễn Phương Thoan
Nguồn bài viết: Tạp chí Hán Nôm, Viện Nghiên cứu Hán Nôm
Tin xem nhiều
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1