Nghiệm thu nhiệm vụ khoa học cấp cơ sở năm 2026: Tác động của chuyển đổi số đến việc làm của người lao động tại TPHCM
27/10/2026
Sáng ngày 27/10/2026, tại Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ, Hội đồng nghiệm thu nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp cơ sở tổ chức đánh giá nhiệm vụ “Tác động của chuyển đổi số đến việc làm của người lao động tại TPHCM trong bối cảnh hiện nay”, mã số NB/NV/2026-06, do ThS. Nguyễn Thị Cúc Trâm làm chủ nhiệm.
Hội đồng được thành lập theo Quyết định số 243-QĐ/VKHXHVNB
ngày 15/10/2026, gồm PGS.TS. Vũ Tuấn Hưng làm Chủ tịch; PGS.TS. Nguyễn Hoàng
Phương (Học viện Chính trị khu vực II) và TS. Phạm Anh Thắng (Văn phòng Bộ Nội
vụ) là phản biện; TS. Nguyễn Thị Phương (Phân hiệu Học viện HC&QTC tại
TPHCM) và TS. Nguyễn Thị Nhung (Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ) là ủy viên.
ThS. Từ Thị Phi Điệp, Bộ phận Quản lý khoa học, là thư ký hành chính.
Hội đồng nghiệm thu nhiệm vụ khoa học cấp cơ sở mã số NB/NV/2026-06
Nhiệm vụ tập trung làm rõ những thay đổi về nội dung công việc,
yêu cầu kỹ năng và điều kiện làm việc trong quá trình chuyển đổi số, đồng thời
xem xét năng lực và thái độ thích ứng của người lao động. Đối tượng khảo sát gồm
công chức, viên chức và người lao động hợp đồng tại các cơ quan hành chính nhà
nước và một số đơn vị sự nghiệp công lập ở TPHCM.
Theo kết quả nghiên cứu, chuyển đổi số góp phần sắp xếp lại
nhiệm vụ và phương thức xử lý công việc. Một số thao tác thủ công, giấy tờ giảm,
nhưng người lao động đồng thời phải thực hiện thêm các công việc liên quan đến
dữ liệu, phần mềm và theo dõi quy trình. Tình trạng nhập lại thông tin vẫn xảy
ra khi các phần mềm chưa liên thông, làm gia tăng yêu cầu về thời gian và tiến
độ xử lý.
Trong mẫu khảo sát, 87,3% người trả lời ghi nhận cường độ
làm việc tăng, 86,3% ghi nhận năng suất xử lý công việc tăng, trong khi 26,3%
cho rằng thu nhập tăng. Những kết quả này gợi mở vấn đề về sự tương xứng giữa nỗ
lực làm việc và cơ chế ghi nhận đối với người lao động trong quá trình chuyển đổi
số.
Về năng lực thích ứng, phần lớn người tham gia thể hiện sự sẵn
sàng điều chỉnh thói quen, cập nhật kiến thức và chia sẻ kinh nghiệm. Tuy
nhiên, một bộ phận vẫn gặp khó khăn kéo dài khi sử dụng công nghệ mới; khoảng
cách giữa yêu cầu công việc và khả năng đáp ứng còn thể hiện ở các kỹ năng gắn
với phần mềm chuyên môn và xử lý dữ liệu. Nghiên cứu cũng ghi nhận vai trò hỗ
trợ của đồng nghiệp và lãnh đạo, đồng thời cho thấy nhu cầu cải thiện thời gian
học tập và hỗ trợ kỹ thuật tại cơ quan.
Từ các phát hiện trên, nhiệm vụ đề xuất đào tạo kỹ năng số
theo vị trí việc làm, gắn với phần mềm và nhiệm vụ thực tế; bố trí thời gian thực
hành trong giờ làm việc và đầu mối hỗ trợ kỹ thuật tại chỗ. Bên cạnh đó, các cơ
quan cần rà soát khối lượng công việc khi triển khai phần mềm mới, hạn chế nhập
lại thông tin và gắn việc ghi nhận năng lực số với điều kiện học tập, hỗ trợ
phù hợp.
Tại buổi nghiệm thu, các thành viên Hội đồng đề nghị chủ nhiệm
làm rõ giới hạn của nghiên cứu về phạm vi và nội dung của nhiệm vụ. Các giải
pháp và kiến nghị cần được cụ thể hóa cho TPHCM, gắn với bối cảnh mới của Thành
phố. Hội đồng đánh giá nhiệm vụ xếp loại Khá./.
Nguồn bài viết: Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ