Hội thảo khoa học “Nữ giới với bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc” tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam
Sáng 31/10/2026, tại Hà Nội, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam phối hợp với Trung tâm Nghiên cứu Nữ giới Phật giáo thuộc Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam tổ chức Hội thảo khoa học “Nữ giới với bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc”. Với 30 tham luận khoa học được tuyển chọn, hội thảo đặt ra những vấn đề về tư liệu lịch sử, thực hành văn hóa và vai trò chủ thể của nữ giới trong bảo tồn di sản và phát triển văn hóa Phật giáo bền vững.
Toàn cảnh Hội thảo khoa học “Nữ giới với bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc” tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam
Tham
dự hội thảo, về phía các tổ chức Phật giáo có Thượng tọa, TS. Thích Giác
Hoàng, Ủy viên Hội đồng Quản trị, Phó Viện
trưởng - Phó Tổng Thư ký Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam; Ni trưởng Như Dung,
Phó Trưởng Phân ban Ni giới Trung ương, Cố vấn Trung tâm Nghiên cứu Nữ giới Phật
giáo; Ni trưởng Thích Thông Mẫn, Trưởng
Phân ban Ni giới tỉnh Quảng Trị; Ni sư, TS. Thích Nữ Như Nguyệt - Phó Viện trưởng
Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh, Giám đốc Trung tâm Dịch
thuật Hán truyền; Ni sư, TS. Thích Như Nguyệt (Huê Lâm), Phó Trưởng Phân ban Ni
giới Trung ương và Thành phố Hồ Chí Minh, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Nữ giới
Phật giáo, cùng chư Tôn đức Tăng Ni và Phật tử đến từ nhiều địa phương.
Về
phía các cơ quan nghiên cứu, quản lý và đào tạo có GS.TS. Đỗ Quang Hưng, Chủ tịch
Hội đồng Khoa học Trung tâm Nghiên cứu Tôn giáo đương đại; GS.TS. Hồ Sĩ Quý,
Thành viên tổ tư vấn cấp cao, Hội đồng lý luận Trung ương. Ủy viên Hội đồng
khoa học Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt
Nam, nguyên Viện trưởng Viện Thông tin Khoa học xã hội; PGS.TS. Phạm Minh Phúc,
Phó Chánh Văn phòng Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam; PGS. TS Phạm Văn
Dương, Bảo tàng Đảng Cộng sản Việt Nam;
PGS.TS. Vương Thị Hường, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Hán Nôm; PGS.TS.
Nguyễn Trường Giang, Trưởng khoa Khoa Nhân học và Tôn giáo học, Trường Đại học
Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học quốc gia Hà Nội, cùng đại diện các viện
nghiên cứu, trường đại học, cơ sở đào tạo và các tác giả tham luận.
Về
phía Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam có PGS.TS. Lê Hải Đăng, Giám đốc Bảo tàng;
PGS.TS. Trần Hồng Hạnh, Phó Giám đốc Bảo tàng, cùng cán bộ, viên chức, người
lao động của đơn vị. Hội thảo còn có sự tham dự của các nhà nghiên cứu, giảng
viên và đại diện các cơ quan thông tấn, báo chí tại Hà Nội đến tham dự và đưa
tin.
Hội
thảo kết nối các nhà nghiên cứu thuộc nhiều lĩnh vực với các Ni giới và những
người trực tiếp thực hành văn hóa Phật giáo. Bên cạnh việc tìm hiểu đóng góp của
nữ giới nói chung, nữ giới Phật giáo nói riêng, các nội dung nghiên cứu liên quan đến tư liệu Hán Nôm về Hậu Phật bia
ký ghi các ni giới đóng góp việc trùng tu, tu sửa chùa và các Phật tử cúng hậu
tại chùa; Vai trò của ni giới với các hoạt động giáo dục, trao truyền văn hóa,
công tác xã hội, tổ ấm tình thương, ủng hộ người nghèo, trồng rừng… Những nội
dung tham luận trình bày đã nêu bật sự đóng góp không nhỏ của Ni giới Phật giáo
Việt Nam gắn với việc bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc, trong đó tiêu biểu
là văn hóa Phật giáo Việt Nam đương đại.
Phát
biểu chào mừng, Thượng tọa, TS. Thích Giác Hoàng, Ủy viên Hội đồng Quản trị,
Phó Viện trưởng - Phó Tổng Thư ký Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam đánh giá sự
phối hợp giữa nghiên cứu Phật học và bảo tàng học là cơ hội để tìm hiểu đầy đủ
hơn các giá trị văn hóa Phật giáo trong đời sống cộng đồng. Thượng tọa khẳng định
luôn coi trọng và chủ động gắn kết các Trung tâm, Viện Nghiên cứu của Phật giáo
với các viện nghiên cứu trong Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, các trường đại học và
những thiết chế bảo tồn di sản văn hóa tiêu biểu của dân tộc Việt Nam, trong đó
có Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam với không gian văn hóa đặc sắc, với các hiện vật
trưng bày hấp dẫn, thu hút được nhiều khách tham quan.
Thượng tọa, TS. Thích Giác Hoàng, Ủy viên Hội đồng Quản trị, Phó Viện trưởng - Phó Tổng Thư ký Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam phát biểu chào mừng hội thảo
Phát
biểu khai mạc, Ni sư, TS. Thích Như Nguyệt (Huê Lâm) nhấn mạnh nhiệm vụ nghiên
cứu, sưu tầm và làm rõ đóng góp của Ni
giới và Phật tử trong lịch sử, văn hóa
dân tộc. Ni sư chia sẻ bên cạnh các đề tài về lịch sử tu học và hành trạng của
các bậc Ni si tiền bối, Trung tâm Nghiên
cứu Nữ giới Phật giáo luôn hướng tới một mong ước lớn hơn: trở thành nhịp cầu kết
nối nghiên cứu và kết nối văn hóa Phật giáo với Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam
Trong
báo cáo đề dẫn, PGS.TS. Lê Hải Đăng cho biết Ban Tổ chức đã tiếp nhận, phản biện
và tuyển chọn 30 bài viết nghiên cứu, đồng thời chuẩn bị cho công tác xuất bản
sau hội thảo. Các nghiên cứu đặt nữ giới trong vai trò chủ thể sáng tạo, thực
hành và trao truyền văn hóa, gắn việc bảo tồn với đời sống, tri thức và tiếng
nói của cộng đồng. Về định hướng hoạt động của bảo tàng, ông nhấn mạnh: “Bảo
tàng cần đồng hành cùng với cộng đồng theo hướng tiếp cận “di sản sống”, chuyển
dịch từ việc “số hóa cái nhìn thấy” sang “số hóa cái làm nên cái nhìn thấy”
thông qua các mô hình thực hành tương tác, đưa chính tiếng nói, câu chuyện và
trải nghiệm đời sống của người phụ nữ, nghệ nhân và các sư Ni vào không gian trưng bày của Bảo tàng
giới thiệu tới công chúng”.
PGS.TS. Lê Hải Đăng, Giám đốc Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, trình bày báo cáo đề dẫn hội thảo
Về
nội dung khoa học, hội thảo tập trung vào ba chủ đề trọng tâm: nữ giới với việc
bảo tồn, truyền thừa các giá trị văn hóa truyền thống và ký ức lịch sử; nữ giới
với phát huy các giá trị văn hóa và định hình bản sắc đương đại; định hướng
phương pháp luận, thiết chế bảo tàng và chính sách phát triển bền vững. Theo
chương trình, các báo cáo được bố trí trong phần khai mạc và hai phiên trình
bày tham luận, kết nối việc tìm hiểu di sản trong lịch sử với những thực hành
văn hóa và yêu cầu bảo tồn, phát triển di sản văn hóa Phật giáo gắn với văn hóa
dân tộc.
Trong
phiên khai mạc, cùng với báo cáo đề dẫn của PGS.TS. Lê Hải Đăng, Ni sư, TS.
Thích Như Nguyệt (Huê Lâm) trình bày báo cáo “Đặc san Hoa Đàm - pháo đài văn
hóa của Ni giới Việt Nam đương đại”. Nội dung này bổ sung góc nhìn về vai trò của
di sản báo chí trong lưu giữ ký ức và kết nối Ni giới, đồng thời gợi mở hướng
khai thác tư liệu để nhận diện những đóng góp của nữ giới trong đời sống văn
hóa Phật giáo.
Ni trưởng Như Dung trình bày báo cáo
Phiên
thứ nhất, “Mạch nguồn lịch sử, di sản tư liệu và sự truyền thừa giới pháp”
và báo cáo“Vai trò của nữ giới đối với
di sản Phật giáo Việt Nam qua văn bia Hán Nôm” do PGS.TS. Vương Thị Hường trình
bày; báo cáo “Ni trưởng Huệ Giác với sự nghiệp trồng rừng và ươm mầm Tăng tài”
của Ni trưởng Như Dung. Trong cùng phiên, Sư cô Thích Nữ Tịnh Đức trình bày báo
cáo “Vài suy nghĩ vụn từ một ngôi chùa nhỏ”. TS. Tống Thị Quỳnh Hương trao đổi
nội dung “Từ bảo trợ đến kiến tạo: Sự biến đổi vai trò của nữ giới trong bảo tồn
và truyền thừa văn hóa Phật giáo ở Ấn Độ và Việt Nam”.
Những
nội dung nghiên cứu về lịch sử và di sản tư liệu tập trung làm rõ vai trò của nữ
giới trong gìn giữ phong tục, tập quán, chuẩn mực đạo đức và thực hành văn hóa
tại cộng đồng. Việc khai thác văn bia Hậu Phật, sổ công đức, tư liệu báo chí và
ký ức truyền khẩu được đặt ra nhằm bổ sung nhận thức về những đóng góp còn mờ
nhạt trong sử liệu. Các góc nhìn từ đời sống tự viện và hoạt động của chư Ni, đồng
thời các báo cáo cũng gợi mở mối liên hệ giữa trao truyền các giá trị văn hóa với
giáo dục, bảo vệ môi trường và phụng sự cộng đồng.
Tại
phiên thứ hai, “Dòng chảy đương đại, thực hành văn hóa và kiến tạo bản sắc mới”,
TS. Lý Thị Hải Yến trình bày báo cáo “Nữ giới và thực hành văn hóa: Sức mạnh mềm
gìn giữ và trao truyền văn hóa Việt trong môi trường đa văn hóa”. Ni sư, TS.
Thích Như Nguyệt (TT) trình bày báo cáo “Ni trưởng Thích Tịnh Nguyện – Đạo hạnh
trang nghiêm, hương từ lan tỏa”. TS. Vũ Hồng Thuật trình bày báo cáo “Ni giới
miền Bắc với việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc: Từ gìn giữ truyền
thống đến kiến tạo văn hóa mới”. Báo cáo “Ni sư Chúc Phương, tiếp nối truyền thống
Ni giới và gìn giữ giá trị văn hóa dân tộc” của Sư cô, NCS. Thích Hòa Nhã.
Trao
đổi về mối quan hệ giữa tôn giáo và văn hóa, GS.TS. Đỗ Quang Hưng trình bày báo
cáo “Phụ nữ - văn hóa tôn giáo và văn hóa dân tộc: Lý thuyết và thực tiễn”. Báo
cáo đặt vấn đề về vai trò của phụ nữ trong mối liên hệ giữa văn hóa tôn giáo và
văn hóa dân tộc, kết nối cách tiếp cận lý thuyết với việc xem xét thực tiễn. Hướng
tiếp cận này gợi mở việc tìm hiểu cách các giá trị tôn giáo được tiếp nhận, thực
hành và trao truyền trong đời sống, qua đó nhận diện sự tham gia của nữ giới
trong gìn giữ các chuẩn mực đạo đức và duy trì những thực hành văn hóa tại gia
đình, cộng đồng. Với báo cáo “Một số vấn đề về vai trò của nữ giới, Ni giới
trong văn hóa Việt Nam”, GS.TS. Hồ Sĩ Quý, bổ sung góc nhìn về vị trí và đóng
góp của nữ giới, trong đó có Ni giới, đối với văn hóa Việt Nam. Đặt trong mạch
thảo luận chung của hội thảo, chủ đề này gắn với yêu cầu nhìn nhận phụ nữ và
chư Ni như những chủ thể gìn giữ, thực hành, sáng tạo và trao truyền văn hóa.
Việc nhận diện vai trò ấy cũng gợi mở những trao đổi về điều kiện để nữ giới
phát huy tiếng nói, năng lực và sự tham gia trong các thiết chế văn hóa, xã hội
và tôn giáo.
Các
nội dung về thực hành văn hóa đương đại chú trọng khả năng thích ứng, sáng tạo
và trao truyền văn hóa giữa các thế hệ. Những nghiên cứu về ngôn ngữ, ẩm thực,
trang phục và đời sống của cộng đồng người Việt ở nước ngoài đặt vấn đề gìn giữ
bản sắc trong mối liên hệ với môi trường đa văn hóa. Các báo cáo của chư Ni tiếp
tục làm rõ vai trò của giáo dục, việc chăm lo học vấn cho thế hệ trẻ và sự kế
thừa truyền thống trong đời sống hiện nay.
Từ
hệ thống các công trình được tuyển chọn, báo cáo đề dẫn còn đặt vấn đề bảo tồn
nghề dệt, trang phục thổ cẩm trong quan hệ với sinh kế, vị thế kinh tế và khả
năng tự quyết của phụ nữ. Với nữ giới Phật giáo, giáo dục mầm non, y tế từ thiện,
an sinh và cứu trợ được xem xét như những lĩnh vực thể hiện sự gắn kết giữa giá
trị đạo đức với nhu cầu xã hội.
Về
phương pháp nghiên cứu và chính sách, hội thảo đặt ra yêu cầu phân biệt sự tham
gia đông đảo với quyền ra quyết định thực chất của nữ giới. Các nội dung cũng gợi
mở việc kết hợp tư liệu văn bản với ký ức, tri thức và thực hành của cộng đồng;
tăng cường vai trò của bảo tàng trong nghiên cứu, sưu tầm, trưng bày và giới
thiệu di sản. Những thách thức từ chuyển đổi số và nguy cơ thương mại hóa không
gian thiêng được đặt trong mối liên hệ với phát triển văn hóa bền vững.
Phát
biểu kết luận hội thảo, Thượng tọa, TS. Thích Giác Hoàng, Phó Viện trưởng, Phó
Tổng Thư ký Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, nhấn mạnh vai trò chủ thể của nữ
giới và Ni giới trong đời sống xã hội, Phật giáo và văn hóa dân tộc. Thượng tọa
ghi nhận vai trò của người phụ nữ trong sinh thành, nuôi dưỡng, giáo dục các thế
hệ, đồng thời đánh giá cao sự đóng góp của phụ nữ và chư Ni trong hoạt động từ
thiện, an sinh và chăm lo cộng đồng.
Bên
cạnh đó, Thượng tọa nhấn mạnh nhiệm vụ trao truyền văn hóa cho thế hệ trẻ người
Việt ở nước ngoài, gắn gìn giữ bản sắc với tiếp nhận các giá trị mới; đồng thời
khẳng định tinh thần bình đẳng trong Phật giáo và yêu cầu phát huy vai trò của
nữ giới, Ni giới. Đối với bảo tàng, Thượng tọa gợi mở cách tiếp cận “di sản sống”,
kết hợp mô hình sáu chữ T gồm Thực thể – Thao tác – Tri thức – Tiếng nói –
Tương tác – Truyền trao với số hóa để tăng cường học tập và tương tác cộng đồng.
Thượng tọa cũng đề nghị nâng cao năng lực số, kỹ năng truyền thông và đạo đức
nghiên cứu cho Ni chúng, phụ nữ trẻ; ứng dụng công nghệ, trí tuệ nhân tạo trên
nền tảng giữ gìn giới hạnh, chú ý nguy cơ thương mại hóa không gian thiêng. Việc
tăng cường hợp tác đa ngành và trao đổi học thuật được đặt ra nhằm đưa kết quả
nghiên cứu vào thực tiễn bảo tồn, giáo dục và đời sống xã hội.
Các đại biểu tham dự hội thảo chụp ảnh lưu niệm tại Bảo tàng Dân tộc học Việt NamTrong khuôn khổ chương trình, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam tặng món quà lưu niệm tới Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam và Trung tâm Nghiên cứu Nữ giới Phật giáo, như lời tri ân và cầu chúc mối thiện duyên hợp tác với Bảo tàng và các Viện nghiên cứu ngày càng bền chặt, cùng chung tay gìn giữ, lan tỏa những giá trị văn hóa tốt đẹp của Phật giáo tới đại chúng.
Cuối buổi Hội thảo, Ban Tổ chức cũng trao giấy chứng nhận cho các diễn giả tham gia hội thảo, ghi nhận những đóng góp về chuyên môn và kinh nghiệm thực tiễn trong nghiên cứu, bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc. Các tham luận cùng ý kiến trao đổi đã bổ sung nhiều góc nhìn về vai trò của nữ giới và Ni giới trong gìn giữ, thực hành và trao truyền văn hóa, đồng thời gợi mở những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu. Hoạt động trao giấy chứng nhận thể hiện sự trân trọng của Ban Tổ chức đối với sự tham gia, đồng hành của các nhà khoa học và chư Ni, cùng mong muốn tiếp tục kết nối, hợp tác trong các hoạt động nghiên cứu và giới thiệu di sản tới cộng đồng./.