Hội thảo khoa học: “Viễn Đông trong chính sách hướng Đông của Nga kể từ năm 2014”
Sáng 23/9/2026, tại tầng 10 trụ sở số 176 Thái Hà, Viện Nghiên cứu Châu Âu và Châu Mỹ (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) đã tổ chức hội thảo khoa học “Viễn Đông trong chính sách hướng Đông của Nga kể từ năm 2014”.
Tham dự hội thảo, về phía khách mời có TS. Đinh Lê Hồng
Giang, Học viện Ngoại giao. Về phía Viện Nghiên cứu Châu Âu và Châu Mỹ có
PGS.TS. Nguyễn Chiến Thắng, Viện trưởng; TS. Vũ Thụy Trang, Giám đốc Trung tâm
Nghiên cứu Nga và SNG; PGS.TS. Nguyễn Thị Ngọc, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu
EU; TS. Lê Thị Vân Nga, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Mỹ Latinh; cùng các cán bộ
nghiên cứu của Viện.
Phát biểu khai mạc hội thảo, PGS.TS Nguyễn Chiến Thắng nhấn
mạnh Viễn Đông Nga với vai trò là một khu vực kinh tế và địa chiến lược đang có
những bước phát triển mạnh mẽ. Chiến lược phát triển Viễn Đông không chỉ là một
công cụ mà còn là phần thiết yếu trong tổng thể chiến lược địa chính trị của
Nga, đặc biệt là đối với chiến lược hướng Đông, giúp Nga có khả năng cạnh tranh
trên trường quốc tế. Đối với Việt Nam, nghiên cứu về Viễn Đông có giá trị thực
tiễn cao, giúp hiểu rõ những thay đổi trong chính sách của Nga, cách thức Nga vận
dụng Viễn Đông để thực hiện kết nối và hợp tác với các đối tác châu Á để tận dụng
cơ hội hợp tác trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, năng lượng và quốc phòng,
phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế cũng như chính sách đối ngoại cân bằng.
Quang cảnh Hội thảo
Trong phần tham luận, ThS. Nguyễn Anh Nam tập trung phân
tích vùng Viễn Đông như cửa ngõ duy nhất giúp Nga tiếp giáp trực tiếp các nền
kinh tế Đông Bắc Á. Biên giới Nga trên bộ giáp với Trung Quốc, Mông Cổ, Triều
Tiên và trên biển giáp với Nhật Bản, Hoa Kỳ. Phần lớn khối lượng hàng hóa Nga -
Trung lưu thông qua hoặc gắn với hạ tầng Viễn Đông. Sau 2022, khi thị trường
châu Âu gần như đóng lại, chức năng cửa ngõ chuyển từ tiềm năng sang thiết yếu.
Xét về an ninh - quốc phòng, đây là nơi đóng quân của hạm đội Thái Bình Dương;
là tuyến phòng thủ phía đông trong cạnh tranh nước lớn tại Ấn Độ Dương - Thái
Bình Dương. Phát triển thành công Viễn Đông, Nga sẽ có tính chính danh của một
cường quốc trải dài hai châu lục. Nếu Nga suy thoái hoặc phụ thuộc kinh tế vào
một láng giềng thì sẽ thu hẹp thực chất không gian cường quốc, dù diện tích
trên bản đồ không đổi.
Theo TS. Đinh Lê Hồng Giang, về tổng thể, Viễn Đông đang
chuyển từ vị thế của một không gian phát triển mang tính ngoại vi thành một mắt
xích ngày càng quan trọng trong quá trình tái cấu trúc không gian kinh tế, năng
lượng và vận tải của Nga. Tuy nhiên, sự gia tăng vị trí chiến lược của khu vực
chưa đồng nghĩa với việc các mục tiêu dài hạn đã được hiện thực hóa đầy đủ. Khoảng
cách giữa định hướng chiến lược, năng lực hạ tầng và khả năng triển khai thực tế
cho thấy quá trình “xoay trục” về phía Đông của Nga vẫn đang tiếp diễn và sẽ phụ
thuộc đáng kể vào khả năng chuyển hóa các cam kết chính sách thành năng lực vật
chất trong những năm tới.
Quang cảnh Hội thảo
TS. Vũ Thụy Trang chỉ ra sự gia tăng hiện diện quân sự của
Trung Quốc tại Viễn Đông đang tạo ra căng thẳng tiềm ẩn với các cường quốc khu
vực, đặc biệt là Mỹ, Nhật Bản và Hàn Quốc trong khu vực châu Á - Thái Bình
Dương. Chiến lược mở rộng của Trung Quốc đang thay đổi cân bằng quyền lực khu vực,
buộc các quốc gia láng giềng phải điều chỉnh chính sách quốc phòng và ngoại
giao của mình. Những diễn biến tại Viễn Đông có thể ảnh hưởng sâu rộng đến an
ninh Đông Bắc Á và toàn bộ khu vực châu Á - Thái Bình Dương, đòi hỏi các giải
pháp ngoại giao chủ động.
Trong bài tham luận của ThS. Trần Thị Khánh Hà, bà đã đánh
giá hiệu quả sau một thập kỷ vận hành khu vực phát triển ưu tiên (TOR), Cảng tự
do Vladivostok (SPV) và Diễn đàn Kinh tế phương Đông (EEF). Đây là một mô hình
phát triển mới của Viễn Đông bởi TOR và SPV tạo điều kiện đặc biệt về ưu đãi
thuế, hạ tầng, thủ tục, còn EEF đưa các điều kiện ấy đến với nhà đầu tư. TOR,
SPV và EEF đã chứng minh được sự thay đổi bức tranh đầu tư của Viễn Đông và tạo
nền tảng thể chế cho các dự án lớn. Đánh giá cuối cùng phụ thuộc vào việc biến
đầu tư đã đăng ký thành sự phát triển bền vững của các vùng và những thay đổi
rõ rệt trong đời sống người dân Viễn Đông.
Ngoài các phát biểu tham luận, Hội thảo cũng ghi nhận thêm
nhiều ý kiến trao đổi cởi mở. Trong đó có đóng góp thảo luận của TS. Bùi Việt
Hưng, đề cập đến sự bất tương xứng giữa chính sách ưu đãi thể chế và hiệu quả
thu hút FDI thông qua đối sánh thực tiễn tại Việt Nam và vùng Viễn Đông. Tại Việt
Nam, các vùng Tây Bắc, Tây Nguyên dù hưởng nhiều đặc quyền chính sách nhưng
không thể hình thành các cụm công nghiệp; ngược lại, dòng vốn FDI lại hội tụ về
các khu vực tăng trưởng như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh nhờ lợi thế kinh tế tích tụ
và hạ tầng. Tương tự, cấu trúc FDI tại vùng Viễn Đông trong bối cảnh cấm vận chủ
yếu mang tính khai thác tài nguyên, phụ thuộc vào nguồn vốn Trung Quốc và đối mặt
với rào cản thâm hụt lao động. Do đó, tính khả thi của việc doanh nghiệp Việt
Nam đầu tư sang Viễn Đông đòi hỏi phía Nga phải có khung ưu đãi và thị trường đầu
ra rõ ràng, nhằm hướng tới hiệu quả kinh tế thực chất.
Phát biểu bế mạc, TS. Vũ Thụy Trang đánh giá cao các ý kiến
đóng góp của các chuyên gia và nhà khoa học. Các tham luận và trao đổi tại Hội
thảo đã cung cấp nhiều luận cứ khoa học quan trọng, góp phần làm rõ cơ sở lý luận
và thực tiễn trong chiến lược phát triển vùng Viễn Đông và chính sách hướng
Đông của Liên bang Nga kể từ năm 2014./.