Khu di tích Gò Tháp (còn được gọi là Prasat Pream Loven, Chùa Năm Gian hay Tháp Mười) thuộc xã Tân Kiều, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp là tên chung cho một khu vực rộng 6km 2 gồm nhiều gò nhỏ nằm trên một dải đất dài chạy theo hướng đông bắc - tây nam và những cánh đồng ruộng trũng xung quanh. Khu di tích được biết tới lần đầu tiên do ông Silvestre - một thanh tra người Pháp làm việc tại đây vào những năm 1869 - 1878, khi phát hiện được một bánh xe bằng đá và dấu tích móng của một ngôi đền cổ (Gò Tháp Mười hiện nay) (Mallerret 1956: 213) ( Hình 1 ).
Hố khai quật
Đến nay, sau gần 150 năm phát hiện, nghiên cứu với sự
tham gia của nhiều nhà khoa học người Pháp và người Việt, đã chứng minh Gò Tháp là khu di tích có quy mô lớn, nơi tập trung
nhiều dấu tích cư trú ổn định, lâu dài, cùng với nó là hệ thống công trình kiến
trúc tôn giáo, tín ngưỡng được xây dựng và quy hoạch khá quy chuẩn. Bên cạnh
hoạt động kinh tế chính là nông nghiệp, nơi đây đã hình thành nhiều trung tâm
sản xuất thủ công với tính chất chuyên môn hóa cao. Đây là khu di tích lớn nhất
ở trung tâm vùng Đồng Tháp Mười, nơi diễn ra nhiều hoạt động giao lưu, trao đổi
thương mại, văn hóa với các nền văn minh lớn ở khu vực như Ấn Độ, Trung Quốc. Từ những bằng chứng khảo
cổ học và dựa trên lý thuyết về sự hình thành đô thị cho thấy Gò Tháp là một
khu đô thị, trung tâm văn hóa, trung tâm tôn giáo - chính trị đóng vai trò quan
trọng trong sự phát triển của văn hóa Óc Eo - vương quốc Phù Nam.
1. Lý thuyết về sự hình thành đô thị và
lược sử cảnh quan khu đô thị cổ Gò Tháp
Đô thị hình thành và phát triển khi nền sản xuất phát
triển, nghề thủ công ra đời đã tập trung dân cư thành các nhóm, các phường và
các hội. Đô thị ra đời do buôn bán, trao đổi hàng hóa, quan hệ thương mại; do
có sự truyền đạo, truyền bá tôn giáo, truyền bá văn hóa; do tạo ra nơi dừng
chân, nơi nghỉ, trạm dịch; do lựa chọn nơi sinh hoạt tâm linh, thờ cúng, việc
ấn định thời điểm cho một phiên chợ; do quy định vị trí của thủ phủ chính trị
trong quan hệ với thế giới bên ngoài… Một trong những chức năng của đô thị cổ
là sản xuất, thương mại, dịch vụ bên cạnh chức năng phòng thủ, là nơi chốn tín
ngưỡng… (Nguyễn Sĩ Quế và nnk 2012: 4-5). Ở Đông Nam Á lục địa, quá trình đô
thị hóa bắt đầu gắn liền với thời kỳ đồ sắt hoặc thời kỳ Sơ sử; hầu hết các học
giả đều cho rằng quá trình này liên quan đến của quá trình Balamôn hóa hoặc
Sanskit hóa bởi những người từ vùng đồng bằng sông Hằng của đông bắc Ấn Độ. Vào
thời điểm này, người Đông Nam Á đã hình thành những dạng đô thị được coi là các
tiểu quốc nhỏ (Miriam T. Stark 2015: 77).
Đô thị và văn minh đô thị là một đặc trưng nổi bật của
văn hóa Óc Eo, nền văn hóa đô thị hình thành và phát triển trên không gian đồng
bằng châu thổ sông Cửu Long, có khung thời gian tồn tại vào khoảng thiên niên
kỷ I Công nguyên (Đặng Văn Thắng 2008: 163). Quá trình ra đời của các đô thị đã
đánh dấu sự phát triển chuyển tiếp từ tiền Óc Eo sang văn hóa Óc Eo hay nói
cách khác là sự đánh dấu thời tiền sử sang lịch sử. Vào thời kỳ này, nhiều khu
đô thị, trung tâm chính trị, văn hóa, tôn giáo lớn của văn hóa Óc Eo đã ra đời
ở khắp vùng đồng bằng Nam Bộ, gồm: Óc Eo - Ba Thê, Nền Chùa (vùng Tứ Giác Long Xuyên); Cạnh Đền, Kè Một
(Vùng U Minh Thượng); Nhơn Thành (Vùng trũng thấp Ô Môn - Phụng Hiệp); Gò Tháp
(Đồng Tháp Mười),… Trong đó, khu di tích Gò Tháp thuộc xã Tân Kiều (trước tháng
4 năm 1984 thuộc xã Mỹ Hòa), huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp, là khu đô thị
quan trọng, nơi đây đã phát hiện được nhiều di tích, di vật có giá trị - tiềm
năng lớn trong việc nghiên cứu lịch sử ra đời của nền văn minh đô thị thời Óc
Eo.
Khu di tích Gò Tháp trước đây khu vực này thuộc làng Mỹ
Tho, tổng Phong Nam, tỉnh Sa Đéc (Hội
đồng Khoa học Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh 1996: 53), nay thuộc ấp 1, xã Tân
Kiều, huyện Tháp Mười,
tỉnh
Đồng Tháp, là khu vực trung tâm của vùng Đồng Tháp Mười. Đây là một vùng đất
trũng thấp nằm về phía bắc - tây bắc của miền Tây Nam Bộ (Việt Nam), phạm vi
phân bố khoảng 8.000km
2 (dài 130km, rộng từ 60 -
70km), trong đó hơn 1/2 là vùng trũng ngập nước chiếm 4.560km 2 , độ cao tuyệt đối từ
0,5m - 0,3m. Không gian phân bố của Đồng Tháp Mười nằm trong phạm vi hành chính
của các tỉnh: Long An, Tiền Giang và Đồng Tháp, thuộc vùng đồng bằng tích tụ -
xâm thực nằm ở vùng thượng lưu châu thổ sông Cửu Long. Phía đông tiếp giáp
thành phố Hồ Chí Minh với đường ranh Chợ Lớn - Bến Lức - Tân An, giới hạn phía
tây nam là tả ngạn sông Tiền, phía bắc là dải đất chuyển tiếp giữa hai vùng phù
sa cổ và phù sa mới (Bùi Chí Hoàng , Trần Ngọc Nga 2014: 206).
Trong vùng Đồng Tháp Mười, khảo cổ học phát hiện nhiều di
tích khác thuộc giai đoạn văn hóa Óc Eo như: di tích Đìa Tháp, Gò Tám Ấu, Gò Tàu, Gò Chùa,
Gò Chùa Phước Thiện, Gò Côn Éc, Phú Long, Mỹ Tây 3 và một số di tích thuộc
giai đoạn tiền Óc Eo đó là các di tích Gò Hàng, Gò Dung, Gò Đế, Gò Vĩnh Châu A, Trấp Gáo Miễu (Lê Xuân
Diệm và nnk 1995). Cũng như ở vùng đồng bằng miền tây sông Hậu, ở vùng Đồng
Tháp Mười các di chỉ thuộc văn hóa Óc Eo thường được phát hiện trên vùng trũng
thấp ven các đường nước cổ chảy từ Gò Dung đến Gò Hàng qua Gò Tháp rồi chẻ ra
hai hướng. Một hướng chảy về phía đông qua Gò Bảy Liếp đến Đìa Tháp..., một
hướng về phía tây đến Phong Mỹ. Trong khoảng không gian này di chỉ Gò Tháp gần như giữ vị trí trung
tâm (Đào Linh Côn 1993: 30). Ở các di tích này, hầu như có các loại hình di
tích cư trú kiểu nhà sàn dựng trên cọc gỗ, di tích cư trú - xưởng làm gốm, làm
đồ trang sức bằng vàng, hạt chuỗi đá quý, thủy tinh nhiều màu.
2. Đô thị Gò Tháp
2.1. Quy mô và quy hoạch đô thị
Khu di tích Gò Tháp có diện tích rộng, quy mô rất lớn và
quy hoạch xây dựng khá rõ ràng. Diện tích được ghi nhận vượt qua ngoài phạm vi
địa hình cao của Giồng Tháp Mười, tức lớn hơn (1.300 x 300)m = 130 hecta. Cụ
thể về mạn bắc, còn trải dài trên 2.000m, về mạn nam phát hiện trải rộng thêm
1.000m, về phía đông mở rộng 400 - 500m, về phía tây cũng rộng hơn 200 - 300m.
Nhìn chung, khu di tích Gò Tháp gồm hai thế địa hình, một là địa hình cao tức
là địa hình Giồng Tháp Mười và địa hình thấp bao quanh khu vực Giồng Tháp Mười
với tổng diện tích hơn (6.000 x 1.000)m = 600 hecta (Đào Linh Côn, Lê Xuân Diệm
2009: 249). Như vậy, diện tích khu Gò Tháp lớn hơn nhiều so với các đô thị khác
cùng thời trong vùng, thậm chí nó lớn gấp rưỡi khu cảng thị Óc Eo (600 hecta/450
hecta) và gấp đôi khu đô thị Angkor Borei (600 hecta/300hecta) (Miriam T. Stark
1998: 190 - 191).
Khu di tích Gò Tháp được kiến lập theo quy hoạch phân
vùng, phân khu, tiểu khu khá rõ ràng. Gồm khu vực phía bắc Gò Tháp là khu đền
thần giai đoạn sớm (trước đây có một số nhà khoa học gọi là khu mộ táng). Khu
địa hình cao Giồng Tháp là khu trung tâm hoạt động tôn giáo giai đoạn vương
quốc Phù Nam và hậu Phù Nam. Tất cả gò cao đều được xây dựng các kiến trúc đền
thần bằng gạch, trong đó đền Vishnu Gò Tháp Mười và đền thần Shiva Gò Minh Sư
là những kiến trúc đền xây cao có mái che. Bên trong và xung quanh các kiến
trúc kiên cố này đã phát hiện được nhiều tượng thần, biểu tượng thần, vật thờ
liên quan đến Phật giáo, Hindu giáo và các tín ngưỡng lúc bấy giờ. Đây là nơi
linh thiêng, là nơi trú ngụ của thần linh, đồng thời có thể là nơi ở của tiểu
vương và tầng lớp quý tộc.
Cụm di tích Gò Tháp Mười là một tổ hợp các công trình
kiến trúc được xây dựng hoàn thiện nhất, trên một gò đất đắp, cư dân nơi đây đã
đắp gò và chuẩn bị phần nền móng rất cẩn thận trước khi xây dựng kiến trúc. Đây
là gò cao nhất, có độ cao hơn 5m so với mực nước biển. Địa điểm này có tọa độ
địa lý 10 0 36’14” vĩ Bắc và 105 0 49’40” kinh Đông. Gò có
dáng nhô cao như ngày nay là do phần đất mới bồi đắp lên kiến trúc. Các kiến
trúc đều được xây dựng về phía đông và nam gò. Khu vực phía tây và bắc trong
khuôn viên gò sau khi thực hiện nhiều hố thám sát vẫn chưa có các dấu vết cư
trú hay kiến trúc. Trung tâm của tổ hợp kiến trúc là đền thần với nhiều tượng
Vishnu đã phát hiện nằm ở vị trí đỉnh gò, hiện chỉ mới khai quật được một phần
với chiều đông tây khoảng 17.3m. Chính phía đông của kiến trúc đền chính là một
con đường lớn (rộng 5m) dẫn vào đền (phần còn lại của con đường vào đền nằm
dưới đường D2 ngày nay). Bao quanh một phần phía nam và phía đông đền thần
Vishnu Gò Tháp Mười với tổng chiều dài hơn 70m. Con đường rộng gần 2m ở lớp
dưới cùng, thu nhỏ dần với nhiều lớp giật cấp. Trên đường, có nhiều lỗ tròn, có
thể là lỗ cột, và những lỗ cột này có thể liên quan đến các sinh hoạt tôn giáo
mang tính không thường xuyên (các lỗ cột cho các mái che tạm (?). Nơi giao nhau
của hai con đường là một nền gạch lớn, có thể là sân hành lễ phía trước đèn,
một dạng “mandapa” sơ khai. Phía bắc của kiến trúc phụ này là một con đường nhỏ
và ngắn chạy theo hướng bắc nam song song với con đường rộng 1,5m, hiện tại
chưa xác định được chức năng. Ở vị trí khoảng 50m về phía đông bắc đền, gần con
đường lớn dẫn vào đền chính là một Ao thần Gò Tháp Mười là nơi chứa nước (24 x
24)m. Các khoảng không gian còn lại phía đông gò có dấu vết của việc san lấp
với gạch vụn và đất sét, có lẽ được đắp trong quá trình sử dụng để tạo bề mặt
khô ráo. Xa hơn về phía tây gò
(khoảng 38m) là một ao thần Gò Tháp là loại hình ao chứa nước phục vụ sinh hoạt
của cư dân với chiều dài các cạnh: cạnh bắc dài 98m, cạnh nam dài 88m, cạnh
đông 113m và cạnh tây 122m (Đặng Văn Thắng và nnk 2010: 165). Phía bắc đền
chính là một ngôi đền thần Shiva (10GT.H10) cách gần 30m và đền thần Surya
(10GT.H11) cách đền Shiva thêm khoảng 38m (Đặng Văn Thắng và nnk 2017: 106).
Phân khu địa hình thấp xung quanh giồng Gò Tháp là khu
sinh hoạt kinh tế, nơi cư trú của cư dân cổ Gò Tháp. Ở rải rác khắp khu di
tích, chúng tôi đã phát hiện các tàn tích của loại hình di chỉ cư trú kiểu nhà
sàn dựng trên cọc gỗ, loại hình di chỉ cư trú - xưởng thủ công với bằng chứng
là những vật dụng sinh hoạt thường nhật thông dụng là đồ gốm, tàn tích thực
phẩm như di cốt động vật, thực vật, và nguyên liệu phế phẩm của hoạt động thủ
công nghiệp như các mảnh gỗ, phế vật đá, bàn nghiền, khuôn đúc, khuôn ép nắp
gốm, mạt vàng và vàng trứng…
Bằng chứng khảo cổ về quy hoạch đô thị ở Khu di tích Gò
Tháp phù hợp với những tư liệu lịch sử được các sứ bộ nhà Ngô (Trung Quốc) đến
Phù Nam ghi chép và báo cáo: “ Dân
chúng Phù Nam sống trong các cung điện, nhà cửa, các thành phố có tường thành
bao quanh ….” (Hall 1982: 82; Georges Coedès 1971: 42). Nguồn sử liệu
trên phần nào giúp ta có thể khẳng định một cách chắc chắn rằng đô thị Phù Nam,
trong đó có đô thị Gò Tháp đã được quy hoạch cẩn thận.
2.2. Khu sản xuất nhiều nghề thủ công có
tính chất chuyên môn hóa
Các nghề thủ công ra đời từ rất sớm nhằm để thỏa mãn nhu
cầu sử dụng của người sản xuất. Cùng với sự phát triển của xã hội, các nghề thủ
công mở rộng ra nhiều ngành nghề và dần trở thành chuyên hóa. Theo Renfrew, tầm
quan trọng gia tăng của các chuyên gia thủ công là một chỉ số khác của một xã
hội tập trung có thể được xác định về mặt khảo cổ. Các chuyên gia thủ công được
chuyên môn hóa để lại dấu vết rõ ràng, bởi vì mỗi nghề có công nghệ riêng và
thường được thực hiện ở một địa điểm khác nhau trong khu vực đô thị (Renfrew
1991:193). Ở Nam Bộ, nhiều nghề thủ công đã ra đời và phát triển từ thời tiền
sử, đến thời kỳ Óc Eo thông qua con đường thương mại và truyền giáo, các yếu tố
kỹ thuật chế tác, nghệ thuật tạo hình và tư duy thẩm mỹ của Ấn Độ từng bước xâm
nhập và ghi
dấu ấn trên hầu hết các lĩnh vực sản xuất thủ công như: sự xuất hiện của nghề
sản xuất gạch, ngói và dòng gốm mịn với các sản phẩm phục vụ mục đích tôn giáo;
kỹ
thuật chế tác tượng, làm đồ kim hoàn, đồ thủy tinh, đóng thuyền được phát triển
ở trình độ cao, đạt đến trình độ tinh xảo .
Một số nghề sản xuất thủ công ở Gò Tháp được xây dựng và quy hoạch thành phân
khu riêng biệt như:
- Khu Đìa Phật là nơi chuyên sản xuất các tượng Phật bằng
gỗ, nơi đây đã phát hiện 25 pho tượng Phật khá nguyên vẹn và 2 bệ tượng, cùng
nhiều phác vật bằng gỗ… (tháp) chúng có phong cách khá giống nhau làm bằng gỗ
Sao và gỗ Mù U; Ngoài ra khu phía đông Miếu Bà Chúa Xứ cũng là công xưởng đóng
thuyền với sự xuất hiện của nhiều mạt cưa, dăm gỗ, mụn gỗ cùng 2 thanh gỗ lớn,
có dấu vết chế tác, chưa có dấu vết sử dụng (có thể là be thuyền) (Đặng Văn
Thắng và nnk 2016) (
Hình
2, 3 ) .
|

|

|
|
Hình 2.
Tượng phật phát
hiện được ở 13ĐVTS7
|
Hình 3
. Hiện vật gỗ có
thể là be thuyền được phát hiện ở hố thăm dò ký hiệu 16GT.TD15c
|
|
(Nguồn:
Tác giả)
|
- Khu Đìa Vàng là nơi chuyên làm đồ trang sức bằng vàng,
với nhiều mảnh vàng mỏng, nhũ vàng, mạt vàng và vàng hình trứng cá được phát
hiện. Bằng chứng là hơn 300 lá vàng mỏng dẹt, vẽ miết, chạm các hình ảnh nhân
thần và các biểu tượng tôn giáo được dùng trong các nghi thức lễ ký cúng
Garbhanyasa (Mariana Isa 2020: 92). Các mảnh vàng được đặt ở phần bên dưới
trung tâm của các kiến trúc đền thờ. Và khi phát hiện tượng Phật ở khu đìa Phật
vào cuộc khai quật năm 2013, chúng tôi đã tìm thấy các mảnh vàng nhỏ được dát
mỏng đắp trên thân tượng Phật bằng gỗ.
- Khu làm đồ gốm, gạch, ngói có thể nằm ở khu vực chân Gò
Minh Sư với sự phát hiện ra nguồn nguyên liệu
đất sét làm gốm ở khu vực phía đông Gò Tháp cùng nhiều phế phẩm đồ gốm (Lê Thị Liên và nnk 2014: 79), khuôn ép làm
nắp gốm hình hoa sen (Đặng Văn Thắng, Hà Thị Sương 2019), mẫu mangan có thể
dùng để trang trí gốm… Đồng thời, cuộc khai quật năm 2002, đã phát hiện dấu vết
về một mảnh thùng lọc đất bằng gỗ và mảng sét trắng dẻo, được lọc rất mịn. Đây
là những chứng cứ khá rõ ràng về một nơi sản xuất gốm ở Gò Tháp thời văn hóa Óc
Eo (Mariana Isa 2020: 79) ( Hình 4, 5 ) .
|

|

|
|
Hình 4.
Phế phẩm đồ gốm
ở Gò Minh Sư
|
Hình 5.
Khuôn làm nắp
gốm
|
|
(Nguồn: Tác giả)
|
(Nguồn: Đặng Văn Thắng)
|
- Khu làm nghề làm đồ trang sức bằng kim loại với 12 mảnh
khuôn đúc (tháp) bằng đá để đúc đồ trang sức bằng kim loại, vàng… chủ yếu được
phát hiện ở khu cư trú chân Gò Minh Sư, khu vực phía tây Gò Tháp.
- Các điêu khắc đá trong đó có các di vật đang chế tác
dở, chứng minh sự tồn tại của các xưởng điêu khắc đã trong khu vực 300ha khoanh
vùng bảo vệ và mở rộng về phía bắc của khu di tích .
2.3. Khu vực phát hiện nhiều văn khắc quan
trọng đối với lịch sử vương quốc Phù Nam
Ở Khu di tích Gò Tháp đã phát hiện 8 văn bản cổ được khắc
trên bia, trên cột đá, trụ vòm…, trong những đền thần. Đây là những tư liệu bia
ký quan trọng có nhắc đến hai quốc gia mà thư tịch cổ Trung Hoa đã đề cập đó là
Phù Nam và Chân Lạp.
Bản văn bia được ký hiệu K.5 , khắc trên trụ cửa phiến thạch có chốt
(1,90 x 0,92 x 0,23)m (Cœdès 1931) được tìm thấy vào khoảng năm 1878 - 1879,
tại chùa Prasat Pram Loven (Gò Tháp) có nội dung nói về việc vua Phù Nam là Jayavarman
cử thái tử Gunavarman đến cai quản xứ sở sùng đạo chinh phục từ đầm lầy , đồng thời bia còn nhắc đến việc thái tử
dâng cúng hai bàn chân thần Vishnu để cầu mong sự che chở và bảo vệ của thần . Bia này được xác định có niên đại vào
khoảng thế kỷ thứ VI Công nguyên (Cœdès 1931).
Bản văn bia ký hiệu K.6, nội dung ghi việc tôn vinh thần
Puspavatasvami thông qua việc dâng một số nô lệ kèm theo 400 cây cau và 40 cây
dừa lấy từ trong làng và xung quanh đền (Cœdès
1936). Nội dung văn bia cho thấy gò Tháp Mười ngày nay có thể là một vùng có
diện tích lớn hơn, có dân cư sống bao quanh và được phủ xanh bởi rất nhiều thực
vật trong đó có cau và dừa.
Bản văn bia ký hiệu K.7, Bản văn bia còn lại gồm khoảng 20 dòng nói
đến việc dựng tượng (hay đền) thờ thần Puskaraksa, do hoàng tử Sambhuvarmmadeva
lập (Cœdès 1936).
Bản văn bia ký hiệu K.8, nói đến việc dâng nô lệ lên thần Sri
Amratakesvara, một hóa thân của Shiva. Trên bia có ghi niên đại thế kỷ thứ VI
Saka (thế kỷ VII sau Công nguyên) (Cik 2017).
Bản văn bia ký hiệu
K.421, nội dung minh văn liệt kê 9 quốc gia, bốn trong số đầu tiên được đặt tên
theo sông, hai quốc gia tiếp theo theo độ cao và 3 quốc gia cuối cùng được đặt
tên theo tên rừng. Các quốc gia này, có tên được sao chép dưới đây đã đóng góp
một số tô, thuế nhất định mật ong dạng nước và mật ong dạng sáp. Các quốc gia
thuộc gia tộc của Rovan Prei Fri (Cœdès 1936).
Bản văn bia ký hiệu K.517, gồm 19 dòng, liệt kê các loại tô, thuế mà
các làng xã phải đóng cho một ngôi đền. Bia được xác định có niên đại vào
khoảng thế kỷ VI - VII Công nguyên (Cik 2017).
Nội dung các bản văn bia cho thấy Gò Tháp là một khu đô
thị, một trung tâm kinh tế, chính trị, tôn giáo quan trọng thời Phù Nam. Những
nội dung trên phù hợp với những bằng chứng khảo cổ học đã phát hiện như việc
tìm thấy nhiều tượng thần Vishnu, tượng Surya, Linga - Yoni, tượng Phật ở Gò
Tháp và việc phát hiện viên gạch có bàn chân thần Vishnu, phát hiện xơ dừa, gáo
dừa trong kiến trúc giếng thần…
Ngoài các bản văn khắc trên đá được
các nhà nghiên cứu người Pháp dịch và công bố, ở trong khoảng hơn 300 mảnh vàng
phát hiện trong phế tích kiến trúc đền giai đoạn sớm ở phía tây Gò Tháp cũng
tìm thấy khoảng 38 mảnh vàng có văn khắc (Lê Thị Liên 2014: 699). Chúng thể
hiện các yếu tố rất cổ xưa của các kiểu tự dạng Brahmi thuộc nhiều vùng ở Bắc
và Nam Ấn Độ. Một số yếu tố đơn lẻ bảo lưu những tự dạng rất sớm, thời kỳ Asoka
- hậu Maurya (thế kỷ II
I
- I trước Công nguyên). Đặc biệt đáng chú ý là nhiều mảnh có tự dạng vào giai đoạn
Kushana - Satavahana
(thế
kỷ I - II Công nguyên) (Lê Thị Liên 2014: 701).
Và ở cuộc khai quật di chỉ cư trú chân Gò Minh Sư đã tìm
thấy 3 mảnh gốm có chữ viết trên một số mảnh gốm phát hiện ở khu cư trú chân Gò
Minh Sư. Đây là những tự dạng Brahmi có niên đại khoảng thế kỷ IV - VI Công
nguyên ( Hình 6 ).
2.4. Khu di tích lớn nhất có mối quan hệ
với các di tích Đồng Tháp Mười
Nằm ở vị trí trung tâm trong vùng Đồng Tháp
Mười, những bằng chứng về di tích và di vật của khu di tích Gò Tháp cho thấy di
tích này có mối quan hệ mật thiết với các
di tích vệ tinh như Gò Hàng, Gò Đế, Gò Vĩnh Châu A, Trấp Gáo Miễu và Gò Dung,…
trong đó đặc biệt là di tích Gò Hàng.
Di tích Gò Hàng, một di tích nằm phía bắc khu di tích Gò
Tháp có diện tích rộng trên 2km 2 , nội hàm văn hóa vật chất phong phú gồm
nhiều đồ trang sức quý giá bằng vàng, bạc cùng nhiều hạt chuỗi bằng ngọc. Theo
cư dân địa phương, cánh đồng này thường được gọi là “cánh đồng vàng”, bởi lẽ
người ta đã thu nhặt được nhiều đồ vàng. Đáng chú ý trong số lượng di vật lên
đến hàng ngàn cá thể có không ít di vật là đồ ngoại nhập, hoặc phỏng theo đồ
ngoại nhập có xuất xứ chủ yếu từ Ấn Độ và phương Tây. Đó là những đồng tiền
bằng đồng, kẽm có đúc hình con voi và những hình họa khác, hình chim thần
Gadura, tấm bùa đeo hình bò thần Nandi, hình sư tử Simha dập nổi bằng thiếc...
tất cả những hiện vật đó đều cho thấy sự giao lưu, giao thương mạnh mẽ với
phương tây, hay nói cách khác di tích này thời kỳ đó đã là một thị trường rộng
lớn, hay một thị cảng sông nội địa những có tầm hoạt động xuyên lục địa (Đào
Linh Côn, Lê Xuân Diệm 2009: 413). Và khi xác định mối quan hệ giữa di tích Gò
Hàng với khu di tích Gò Tháp, có thể ví di tích Gò Hàng như cảng Óc Eo và khu
di tích Gò Tháp như là vùng Ba Thê. Cả hai di tích có mối quan hệ chặt chẽ, gắn
bó với nhau và đều là những di tích có vị trí quan trọng hàng đầu về kinh tế,
chính trị, văn hóa, tôn giáo trong vùng Đồng Tháp Mười từ thời tiền Óc Eo đến
Óc Eo và hậu Óc Eo.
Đồ gốm ở đây là một phức hợp hệ gốm Tiền sử muộn Đồng Nai;
hệ gốm đen hoặc xám đen giống đồ gốm trong các di chỉ K9, Giồng Cu, Giồng Xoài
trong vùng Tứ giác Long Xuyên và hệ gốm mịn sáng thuộc văn hóa Óc Eo. Niên đại
chung được đoán định là từ thế kỷ II trước Công nguyên đến vài thế kỷ Công
nguyên (Đào Linh Côn, Lê Xuân Diệm 2009: 413).
Như vậy, khu di tích Gò Tháp - Tháp Mười cùng với những
di tích nói trên hợp thành một cụm di tích nằm giữa Đồng Tháp Mười, có quá
trình hình thành từ tiền Óc Eo đến hậu Óc Eo.
Việc phát hiện Khu di tích Gò tháp cùng với các di tích ở
vùng phụ cận đã cho thấy văn hóa Óc Eo ở vùng Đồng Tháp Mười - vùng đất chinh
phục từ đầm lầy có tiến trình hình thành và phát triển đồng hành với vùng Tứ
Giác Long Xuyên. Đồng thời, chỉ rõ văn hóa Óc Eo ở Nam bộ không chỉ giới hạn ở
miền Tây sông Hậu, không chỉ tồn tại bộ phận văn hóa Phù Nam biển mà còn có bộ
phận văn hóa Phù Nam sông hay có thể gọi là văn hóa Phù Nam nội địa. Văn hóa Óc
Eo ngoài cảnh thị còn phát triển cảng sông.
2.5. Nơi có sự giao lưu
văn hóa thương mại với các nền văn minh khu vực
Cùng với những phát hiện của các nhà nghiên cứu Pháp về
các văn bia khắc chữ Brahmi/Sanskrit cổ, hệ thống tượng thần, vật thờ và các
kiến trúc tôn giáo ảnh hưởng bởi văn hóa Ấn Độ,… ở khu Gò Tháp, những phát hiện
gần đây về đồ gốm, đồ đất đã phát hiện những vật phẩm được mang trực tiếp từ Ấn
Độ đến Gò Tháp như: Hai hạt xúc xắc (xí ngầu) hình lập phương phát hiện ở lớp
3, hố khai quật ký hiệu 13GMS.H2 ở phía Đông Gò Minh Sư (Võ Thị Huỳnh Như và
nnk 2014: 273)... Con cờ vua bằng đất nung phát hiện ở di chỉ cư trú chân Gò
Minh Sư năm 2002 (Lê Thị Liên, Nguyễn Thị Mai Hương 2003: 16) ( Hình 7, 8 ) .
|

|

|
|
Hình
7. Hình xúc xắc
|
Hình 8. Quân cờ vua bằng đất
nung
|
|
(Nguồn:
Đặng Văn Thắng & nnk, 2013)
|
(Nguồn:
Tác giả)
|
Yếu tố văn hóa Ấn Độ rõ ràng trong cộng đồng cư dân cổ ở
Đông Nam Á nói chung và khu di tích Gò Tháp nói riêng được thể hiện là những
yếu tố liên quan đến tôn giáo và các hoạt động khác phục vụ cho việc thờ cúng
và thực thi các nghi lễ như kiến trúc, kỹ thuật xây dựng, chế tác tượng và làm
gốm,... Ngoài ra còn có một yếu tố được các nhà nghiên cứu công nhận là cấu
trúc tổ chức vương quyền của nhà nước Phù Nam học tập từ mô hình chính quyền Ấn
Độ, vốn là một hình thức tổ chức liên hệ mật thiết với Hindu giáo, vì Hindu
giáo bảo vệ chế độ đẳng cấp là nền tảng tồn tại của xã hội Ấn Độ cổ đại.
Theo George Cœdès: “Chỉ cần một đợt di thực
đông đảo hơn của những thương nhân và người nhập cư, đi kèm theo là tu sĩ và
người có học thức là có thể đủ để thành lập nên một cách rất mau chóng những
vương quốc Ấn Độ ở đó, nơi mà trước đó chỉ có những bộ tộc bản địa” (Cœdès
2008) . Sự giao lưu, tiếp biến những kỹ thuật chế
tác đồ thủ công của Ấn Độ đã tạo nên sự thay đổi rất lớn trong sản xuất thủ
công cũng như đời sống của cư dân Óc Eo. Bên cạnh lối cư trú ở nhà sàn, làm nhà
bằng tre nứa cư dân bản địa đã xây dựng những đền thờ, công trình kiến trúc
khác bằng gạch; từ chuyên sản xuất gốm thô đã xuất hiện thêm dòng gốm mịn; đặc
biệt là kỹ thuật chế tác tượng, làm đồ kim hoàn, đồ thủy tinh, đóng thuyền đều
đã đạt đến trình độ điêu luyện. Chúng là sự kết hợp giữa kỹ thuật, nghệ
thuật của Ấn Độ và nguồn nguyên liệu chế tác tại chổ, kiểu dáng được cải biên
cho phù hợp với văn hóa địa phương. Dấu ấn của Ấn Độ ở Nam bộ thời kỳ văn hóa
Óc Eo là rất lớn, không chỉ thúc đẩy các nghề thủ công phát triển, nâng cao
trình độ kỹ thuật sản xuất mà còn nâng cao chất lượng cuộc sống tạo nên một nền
văn hóa Óc Eo rực rỡ suốt một thời kỳ dài từ khoảng thế kỷ II trước Công nguyên
đến thế kỷ XII Công nguyên.
Ngoài ra, dựa trên những phát hiện mới của khảo cổ học
tại khu di tích Gò Tháp do Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học
Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh thực hiện từ năm 2010 đến nay và dựa trên nghiên
cứu so sánh, chúng tôi đã tìm thấy một số di vật đồ gốm Trung Quốc đó là:
- Loại hình gốm cứng văn in, hoa văn
xuất hiện trên loại gốm có thành phần sét pha cát hạt mịn, màu xám ghi. Sản
phẩm được nung ở độ nung cao, cứng mang nét đặc trưng của một truyền thống
riêng của gốm Đông Hán niên đại khoảng thế kỷ II - III Công nguyên, khá xa lạ
với những đồ gốm Óc Eo đã phát hiện ở Gò Tháp. Hoa văn trên các mảnh gốm này có
dạng những ô vuông nhỏ.
- Một số mảnh gốm men trắng xanh tìm
thấy ở lớp trên cùng của thăm dò ký hiệu 16GT.TS14A giống với loại hình gốm Trung Quốc thời
Đông Tấn (317 - 420). Đây được gọi là vòi gắn trên vai của loại ấm có tay cầm
rất nổi tiếng ở Trung Quốc từ khoảng thời Đông Tấn được gọi là ấm có vòi hình
đầu gà (Chicken-Headed Ewer). Đầu ấm dài 4,6cm, bị vỡ mất phần mào gà. Đường
kính lỗ vòi phần ráp với thân là 1cm. Đường kính lỗ phần rót nước là 0,6cm. Mỏ
gà được tạo hình là lỗ tròn để rót nước, 2 bên có 2 mào gà rủ xuống, phía trên
có mồng gà nhưng đã bị gãy và 2 mắt gà được tạo hình lồi. Phía trong có miết
tạo thành những đường gờ trước khi được phủ men (Đặng Văn Thắng và nnk 2016:
91) ( Hình
9 ).
Xét về mặt kiểu dáng và chất liệu, đầu ấm phát hiện ở đây có những nét tương
đồng với hiện vật phát hiện được ở lò gốm Yue (một lò gốm cổ ở khu vực Chiết
Giang) (Met Museum) ( Hình 10 ).
|

|

|

|

|
|
Hình 10. Ấm đầu gà thời Đông Tấn ở lò Yue
(Chiết Giang) 1
|
Hình 9. Vòi gốm của loại bình có vòi hình đầu gà khoảng
thế kỷ IV - V
|
Hình 11. Nắp hộp gốm men xanh trắng hình
trái bí ở Gò Tháp
|
Hình 12. Mảnh vỡ bát gốm họa tiết hai con
cá
|
|
(Nguồn: Tác giả)
|
Loại ấm đầu gà này thường được tìm thấy
trong các ngôi mộ ở Nam Trung Quốc từ thời Đông Tấn, và tiếp tục phổ biến vào
triều đại nhà Tùy. Trên cơ sở các kết quả khai quật, loại hình hiện vật này có
diễn trình phát triển từ dạng bình có đầu rót hình đầu gà, tay cầm đơn giản vào
cuối thế kỷ thứ 3 đầu thế kỷ thứ 4 đến loại bình cao với thêm nhiều các chi
tiết trang trí phức tạp, như tay cầm rồng, vào thế kỷ thứ V
(https://artmuseum.princeton.edu/asian-art/objects/43411/).
Tại địa điểm này cũng phát hiện thêm một
mảnh đế chén gốm men trắng xanh gồm phần đế và 1 phần thân của chén gốm. Hiện
vật được làm bằng bàn xoay. Men bị bong tróc nhiều. Đế tròn loe nhỏ. Về phần
loại hình và chất liệu thì nó khá tương đồng với loại ấm có vòi hình đầu gà
thời Đông Tấn. Tuy nhiên, phần vành thân có dấu vết ghè tròn giống loại gốm ghè
thời Óc Eo (Đặng Văn Thắng và nnk 2016: 91). Vì vậy, có thể sau khi bị vỡ, đế
của bát gốm này được tận dụng để ghè tròn, tạo thành một đồ chơi cho trẻ em.
- Trong đợt khai quật “Tường thành phía
Tây Gò Tháp Mười”, cũng đã phát hiện một số mảnh sứ men xanh trắng của loại hộp
gốm hình trái bí giống loại hình hiện vật khá phổ biến thời Tống (960 - 1279) ( 宋 青 白 瓷 瓜 楞 盒 )
( Hình
11 ) .
- Ngoài ra, khi kiểm kê lại toàn bộ
hiện vật văn hóa Óc Eo ở Bảo tàng Đồng Tháp, chúng tôi đã phát hiện 01 hiện vật
Nam Tống có khoảng niên đại 1127 - 1279. Hiện vật được cháu Nguyễn Thành Luân
nhặt được phía sau Đình Đốc Binh Kiều và giao nộp Bảo tàng Đồng Tháp vào ngày
5/8/2001. Đây là một mảnh vỡ của của một bát gốm men ngọc, lòng bát có trang
trí hình hai con cá (chỉ còn thấy hình của 1 con cá). Xương gốm được lọc kỹ nên
trắng, men gốm phủ một lớp dày, hình cá được in nổi rõ nét ( Hình
12 ).
Việc phát hiện các đồ gốm Trung Quốc có niên đại từ thời
Đông Hán (2 - 3 Công nguyên), Đông Tấn (317 - 420 Công nguyên), thời Tống (960
- 1279 Công nguyên) tới thời Nam Tống (1127 - 1279 Công nguyên) cho thấy quá trình giao lưu
với văn hóa Trung Hoa của cư dân cổ Óc Eo ở Gò Tháp được diễn ra thường xuyên
suốt lịch sử từ thời Óc Eo kéo dài sang tới hậu Óc Eo. Phát hiện này cũng giúp
làm sáng tỏ hơn những ghi chép trong thư tịch cổ của Trung Quốc về nhiều chuyến
đi sứ của Vương quốc Phù Nam sang Trung Quốc.
Kết luận
Khu di tích Gò Tháp là một trong những điểm
tụ cư sớm của con người từ một vài thế kỷ trước Công nguyên trong quá trình
khai phá và chinh phục vùng đất đầm lầy ở trung tâm Đồng Tháp Mười.
Qua những phát hiện khảo cổ cho thấy khu di
tích Gò Tháp được quy hoạch hoàn chỉnh với nhiều phân khu, tại đây ngoài hoạt
động sản xuất nông nghiệp, cư dân cổ còn hoạt động sản xuất thủ công phát triển
với trình độ kỹ thuật cao và những hoạt động thương mại sôi động diễn ra thường
xuyên với nhiều khu vực trên thế giới.
Theo những tiêu chuẩn và những thông số về
đô thị cổ thì khu di tích Gò Tháp đã hội đủ thậm chí vượt xa những thông số về
cư dân, mật độ, diện tích, vai trò lãnh đạo trong đời sống kinh tế, xã hội,
chính trị, chức năng cân đối thủ công nghiệp và thương mại, kiến trúc đền
đài,... Điều này cho thấy đây là một khu đô thị cổ quan trọng của Nam Bộ từ
những thế kỷ đầu Công nguyên.
Chú thích:
1. Nguồn trích từ: https://www.metmuseum.org/art/collection/search/42350.
TÀI LIỆU DẪN
BÙI CHÍ HOÀNG, TRẦN NGỌC NGA 2014. Báo cáo tổng hợp đề
tài Nghiên cứu, thăm dò, khai quật di chỉ Khảo cổ học Nhơn Thành, xã Nhơn
Nghĩa, huyện Phong Điền, Tp Cần Thơ .
Thành phố Cần Thơ.
CIK 2017. https://cik.efeo.fr/wp-content/uploads/2017/04/Inventaire-CIK-09042017 . pdf .
Coedès George 1931. Deux
inscriptions Sanskrites de Fou-nan .
BEFEO: 1 - 23.
Coedès George 1936. Etudes cambodgiennes . Bulletin de l'École française
d'Extrême-Orient Année: 1 - 21.
Coedès George 1954 . Inscriptions du Cambodge. In Boccard (Ed.), (Vol. 5).
Coedès George 1971. The Indianized
States of Sputheast Asia .
University Press of Hawaii, Honolulu.
Coedès George 2008. Cổ sử các quốc
gia Ấn Độ hóa ở Viễn Đông .
Nxb. Thế Giới, Hà Nội.
ĐẶNG VĂN THẮNG 2008. Tiền - Sơ sử và giai đoạn văn hóa Óc
Eo ở TP.HCM. Trong Văn hóa Óc Eo và văn minh Phù Nam ( Kỷ yếu hội thảo khoa học nhân 60 năm phát
hiện văn hóa Óc Eo (1944 - 2004). Nxb. KHXH, Hà Nội: 164 - 170.
ĐẶNG VĂN THẮNG, HÀ THỊ SƯƠNG 2019. Khuôn ép nắp gốm bằng
đất nung ở Gò Tháp (Đồng Tháp). Báo cáo tại Hội nghị những phát hiện mới về
Khảo cổ học năm 2019 .
ĐẶNG VĂN THẮNG, NGUYỄN HỮU LÝ, QUẢNG VĂN SƠN, LÊ THỊ HẬU
2010. Báo cáo khai quật “tường thành phía tây” khu di tích Gò Tháp - Đồng
Tháp . Đồng Tháp.
ĐẶNG VĂN THẮNG, VÕ THỊ HUỲNH NHƯ, HÀ THỊ SƯƠNG 2016. Báo
cáo Thăm dò tổng thể khu di tích Gò Tháp và khai quật di tích Gò Tháp Mười năm
2016 . Thành phố Hồ Chí Minh.
ĐẶNG VĂN THẮNG, VÕ THỊ HUỲNH NHƯ, HÀ THỊ SƯƠNG 2017. Báo
cáo khai quật Gò Tháp Mười và thăm dò khu di tích Gò Tháp năm 2016 (Ấp 1, Tân Kiều, Tháp Mười,
Đồng Tháp) . Thành phố Hồ Chí Minh.
ĐÀO LINH CÔN 1993. Báo cáo khai quật di chỉ mộ táng Gò
Tháp (đợt II) . Đồng Tháp.
ĐÀO LINH CÔN, LÊ XUÂN DIỆM 2009. Đề tài Nghiên cứu khoa học cấp Bộ Giá trị văn hóa
Óc Eo ở miền Tây Nam bộ (qua tư liệu khảo cổ) . Thành phố Hồ Chí Minh.
Hall, Kenneth 1982. The Indianization of Funan: An
Economic History of Southeast Asia’s First State. In Journal of Southeast
Asian Studies : 13.
HỘi đỒng KHXH Thành phỐ HỒ Chí
Mi NH 1996. Địa chí Đồng
Tháp Mười . Nxb. Chính trị Quốc
gia, Hà Nội.
Isa, Mariana 2020. Between the Bay of Bengal and the
Java Sea: Marshall Cavendish International Asia Pte Ltd.
LÊ THỊ LIÊN 2014. Một số văn khắc trên các mảnh vàng ở Gò
Tháp: đặc điểm tự dạng và nguồn gốc ảnh hưởng. Trong Những phát hiện mới về khảo cổ học
năm 2013 . Nxb. Khoa học Xã hội,
Hà Nội: 669 - 702.
LÊ THỊ LIÊN, Nishimura
Masanari , NGUYỄN THỊ MAI HƯƠNG
2014. Di tích Gò Tháp - những hiểu biết mới qua các cuộc khảo sát nghiên cứu
gần đây. Trong Khảo cổ học, số 2 :
64 - 83.
LÊ THỊ LIÊN, PHẠM LÝ HƯƠNG 2003. Báo cáo khai quật lần
thứ 2 di chỉ cư trú chân gò Minh Sư (Khu di tích Gò Tháp, xã Tân Kiều, huyện
Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp) .
Hà Nội.
LÊ XUÂN DIỆM, ĐÀO LINH CÔN, VÕ SĨ KHẢI 1995. Văn hóa
Óc Eo những khám phá mới .
Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội.
Mallerret, Louis 1956. La status de Ganesa
de Rochefort-sur-mer. In Arts Asiatiques 3 : 211 - 224.
NGUYỄN SĨ QUẾ, NGUYỄN THỊ THANH MAI, LƯU TRƯỜNG GIANG,
DƯƠNG QUỲNH NGA 2012. Lịch sử đô thị . Nxb. Khoa học và Kỹ thuật.
Renfrew, C., Paul, B. 1991. Archaeology: Theories, Methods,
and Practice . New York: Thames and
Hudson Inc.
Stark, Miriam T 1998. International
Journal of Historical Archaeology ,
2(3), 175-203. doi:10.1023/a:1027368225043.
Stark, Miriam T 2015. Southeast Asian urbanism: from early
city to Classical state. In The Cambridge World History : 74-93.
VÕ THỊ HUỲNH NHƯ, NGÔ THỊ PHƯỢNG, CAO THU NGA 2014. Hai
hạt xúc xắc (xí ngầu) thuộc văn hóa Óc Eo tìm thấy ở khu di tích Gò Tháp (Đồng
Tháp). Trong Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 2013 . Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội.
https://artmuseum.princeton.edu/asian-art/objects/43411/.
https://www.metmuseum.org/art/collection/search/42350.
GÒ THÁP - ANCIENT
URBAN AREA OF FUNAN
HÀ THỊ SƯƠNG
The Gò Tháp site , at Tân Kiều commune, Tháp Mười district, Đồng Tháp province,
is the common name of an area of 6km 2 with many small earthen mounds located on a earthen dune running from northeast to southwest
and around low -lying fields
. The a rchaeological findings and
studies show that the Gò Tháp site area is large-scale, developed and well- planned
with many subdivisions: a center for religious activities with the system of standard constructions for religio n s and supersticious belief s ; settlement area
of Gò Tháp residents; the area of
many
handicrafts such as those for making
ceramics , stone artifacts , jewelry, etc., which are high ly specializ ed ; where there were many trade and cultural interactions with
the major civilizations in
the region such as the India n and Chin ese ones .
Based on the
new
findings and research from the
excavations,
Gò Tháp is considered to be an urban area, a
cultural , political and religious center, which play ed an important role in the development of the Óc Eo culture - the Funan Kingdom.