Một số biểu hiện chính của liên minh giai cấp, tầng lớp trong phát triển nông nghiệp sinh thái ở Việt Nam hiện nay
Nông nghiệp sinh thái, tuần hoàn, bền vững là xu thế phát triển tất yếu trong nông nghiệp hiện nay. Bởi lẽ, đây không chỉ là bài toán thuần túy về phát triển kinh tế, mà quan trọng hơn cả, còn là mục tiêu bảo vệ, giữ gìn và tái tạo môi trường sống cho nhân loại, cả ở hiện tại và tương lai. Trong xu thế phát triển tất yếu của nền nông nghiệp này, vấn đề liên minh giai cấp, tầng lớp là một trong những giải pháp, điều kiện quan trọng để thực hiện phát triển nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp sạch và bền vững hiện nay.
1. Đặt vấn đề
Là một trong những
nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, liên minh giai cấp, tầng lớp cần
được chú trọng và hiện thực hóa không chỉ trong giai đoạn giành chính quyền, mà
còn trong cả quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhất là trong thời kỳ quá độ.
Trước xu thế của thời đại, sự phát triển như vũ bão của cuộc Cách mạng công
nghiệp lần thứ tư, tình hình thế giới luôn xảy ra nhiều biến động bất ngờ, khó
suy đoán cùng nhiều vấn đề nảy sinh mang tính toàn cầu; việc giải quyết những vấn
đề này không còn là nhiệm vụ riêng của mỗi quốc gia dân tộc, mà cần sự chung
sức của cộng đồng quốc tế. Là một trong số ít quốc gia đang trong quá trình xây
dựng chủ nghĩa xã hội, Việt Nam cũng không nằm ngoài sự tác động của các đặc
điểm và xu thế đó.
Nằm trong mục tiêu
xây dựng chủ nghĩa xã hội, vấn đề phát triển bền vững nói chung, trong lĩnh vực
nông nghiệp nói riêng đối với Việt Nam cũng là một trong những yêu cầu bức
thiết, nhất là đối với một quốc gia có tỷ trọng nông nghiệp còn cao trong cơ
cấu GDP, lại có nguy cơ ảnh hưởng lớn từ những thay đổi của biến đổi khí hậu và
tình trạng nước biển dâng… Do vậy, phát triển nông nghiệp sinh thái ở Việt Nam - nông nghiệp tuần hoàn, nông nghiệp bền vững, là một xu hướng tất yếu. Song,
để làm được điều này, không chỉ là nhiệm vụ của những người nông dân, mà còn là
trách nhiệm của toàn xã hội, trong đó, ngoài vai trò định hướng của Đảng, sự
quản lý của Nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao nhận thức và hiện
thực hóa mối liên minh giữa các giai cấp, tầng lớp trong toàn xã hội là một
trong những giải pháp quan trọng.
2. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
Cách tiếp cận: Bài viết dựa trên
những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ
trương, chính sách và pháp luật của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong những nội
dung về giai cấp, tầng lớp; liên minh giai cấp, tầng lớp; kết hợp cả hai phương
pháp định lượng và định tính để có cái nhìn, cách tiếp cận toàn diện và tổng
quan; tiếp cận theo mô hình hệ thống hóa, lịch sử và lôgíc, thực tiễn nhằm phân
tích các yếu tố liên quan và mối quan hệ tương tác đa chiều, nghiên cứu sự phát
triển và lôgíc nội tại của mối liên minh giai cấp, tầng lớp trong bối cảnh phát
triển nông nghiệp sinh thái hiện nay.
Phương pháp nghiên
cứu: Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu qua việc thu thập các
thông tin thống kê, các đánh giá mang tính khoa học về nội dung cần nghiên cứu;
đồng thời, sử dụng phương pháp khái quát hóa để xác định những biểu hiện của
liên minh giai cấp, tầng lớp trong điều kiện mới hiện nay ở Việt Nam.
3. Nội dung
Như đã nêu, phát
triển nông nghiệp sinh thái - nông nghiệp xanh, nông nghiệp tuần hoàn bền vững,
là một trong những xu hướng mới phát triển nền nông nghiệp hiện nay, nhất là ở
nước ta, khi nền nông nghiệp vẫn đang chiếm tỷ trọng lớn. Năm 2019, Hội đồng Tổ
chức Lương thực và Nông nghiệp của Liên hợp quốc (FAO) đã đưa ra 10 nội dung
của nông nghiệp sinh thái gồm: tính đa dạng; chia sẻ kiến thức và cùng sáng
tạo; tính cộng hưởng; tính hiệu quả; sự tái chế; sức chống chịu; giá trị xã hội
và nhân văn; truyền thống ẩm thực và văn hóa; quản lý có trách nhiệm; kinh tế
tuần hoàn và tương trợ. Theo đó, các nguyên tắc của kinh tế tuần hoàn được áp
dụng triệt để vào thực tiễn hoạt động sản xuất - kinh doanh trong nông nghiệp;
nhờ đó, giúp nền nông nghiệp có khả năng thích ứng thông minh nhất, hiệu quả
nhất trước các tác động của biến đổi khí hậu, mà hiện nay, những tác động tiêu
cực của nó ngày càng hiện hữu và có nguy cơ gia tăng. Theo thống kê năm 2023,
tỷ trọng nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản ở Việt Nam là 11,96% và vẫn tiếp
tục khẳng định là vị thế quan trọng, trụ đỡ của nền kinh tế; bảo đảm vững chắc
an ninh lương thực cũng như các cân đối lớn của nền kinh tế, góp phần ổn định
kinh tế vĩ mô (Xem: Đào Tuấn, 2023); năm 2024, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy
sản tăng 2,99%, đóng góp 4,86% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền
kinh tế và vẫn chiếm tỷ trọng 11,86% trong cơ cấu GDP (Xem: Cục Thống kê,
2024).
Ở Việt Nam, nông
nghiệp xanh được xác định là một chủ trương quan trọng, cấp thiết nhằm hướng
đến một mô hình nông nghiệp có chất lượng tăng trưởng cao, bền vững và gắn với
bảo vệ môi trường sống (môi trường sinh thái). Đây cũng là một trong những mục
tiêu của phát triển bền vững, với tư cách là sự phát triển kết hợp chặt chẽ,
hợp lý và hài hòa giữa 3 mặt, gồm: bảo đảm phát triển kinh tế nhanh (tăng
trưởng kinh tế cao), bảo đảm phát triển xã hội hài hòa (thực hiện tiến bộ, công
bằng xã hội; xóa đói giảm nghèo và giải quyết việc làm…) và bảo vệ môi trường
sống của con người, cả trong hiện tại cũng như hướng tới sự tồn tại trong tương
lai (xử lý, khắc phục ô nhiễm, phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường;
phòng, chống cháy và chặt phá rừng; khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm tài
nguyên thiên nhiên…).
Đại hội VI của Đảng
(năm 1986) đã khẳng định, cần thống nhất, kết hợp chặt chẽ giữa chính sách kinh
tế với chính sách xã hội (Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam, 2005: 90; 198-199) và
nhìn nhận rõ tầm quan trọng của bảo vệ rừng, tài nguyên thiên nhiên. Đại hội
VII của Đảng (năm 1991) đã làm rõ hơn quan điểm của Đại hội VI khi khẳng định
“mục tiêu của chính sách xã hội thống nhất với mục tiêu phát triển kinh tế” và
“kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, xã hội, giữa
tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2005: 279); “Tăng
trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội, phát triển văn
hóa, bảo vệ môi trường” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2005: 339). Đến Hội nghị
đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (năm 1994), Đảng ta tiếp tục
khẳng định, cần “gắn tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội, phát
triển văn hóa, bảo vệ môi trường” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 1994: 28); đồng
thời, “quan tâm đến công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và kinh tế nông
thôn, phát triển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến…,
bảo vệ môi trường, đáp ứng yêu cầu phát triển trước mắt cũng như lâu dài” (Đảng
Cộng sản Việt Nam, 1994: 29-30).
Tiếp đến, Đại hội
VIII của Đảng (năm 1996) khẳng định cần thực hiện “tăng trưởng kinh tế gắn liền
với tiến bộ và công bằng xã hội, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc,
bảo vệ môi trường sinh thái” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2005: 459); “tăng trưởng
kinh tế gắn với cải thiện đời sống nhân dân […], bảo vệ môi trường” (Đảng
Cộng sản Việt Nam, 2005: 471). Bước vào thế kỷ XXI, Đại hội IX của Đảng (năm
2001), tiếp tục làm rõ quan điểm “thực hiện tăng trưởng kinh tế đi liền với
phát triển văn hóa, […], thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ và cải
thiện môi trường” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2005: 638); đồng thời, “sử dụng hợp
lý và tiết kiệm tài nguyên, bảo vệ và cải thiện môi trường tự nhiên, bảo tồn đa
dạng sinh học, […], thực hiện nghiêm Luật Bảo vệ môi trường” (Đảng Cộng sản
Việt Nam, 2005: 643). Đại hội X của Đảng (năm 2006) khẳng định, cần đặc biệt
coi trọng các yếu tố phát triển theo chiều sâu, phát triển kinh tế tri thức;
phải gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa…, tiến bộ và công bằng xã
hội; phải rất coi trọng bảo vệ và cải thiện môi trường ngay trong từng bước
phát triển (Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam, 2006: 178-179).
Đến Đại hội XI,
Đảng khẳng định “phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm; thực hiện
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri
thức và bảo vệ tài nguyên, môi trường” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2011: 75),
trong đó, bảo vệ môi trường là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của toàn
xã hội và nghĩa vụ của mọi công dân. Phát triển năng lượng sạch, sản xuất sạch
và tiêu dùng sạch. Quản lý, bảo vệ, tái tạo và sử dụng hợp lý, có hiệu quả tài
nguyên quốc gia (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2011: 78). Đại hội XII của Đảng (2016)
khẳng định, phát triển nhanh, bền vững, quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng
tiết kiệm, hợp lý, có hiệu quả và bền vững tài nguyên gắn với mục tiêu phát
triển kinh tế - xã hội... Chú trọng sử dụng năng lượng mới, năng lượng sạch,
năng lượng tái tạo và thân thiện với môi trường (Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam,
2016: 21, 31-32). Tiếp đó, Đại hội XIII của Đảng (năm 2021) yêu cầu: Kết hợp
“giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng
xã hội, bảo vệ môi trường” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tập I: 39), chủ động
thích ứng hiệu quả với biến đổi khí hậu, quản lý, khai thác, sử dụng hợp lý,
tiết kiệm, hiệu quả và bền vững tài nguyên, xây dựng nền kinh tế xanh, kinh tế
tuần hoàn, thân thiện với môi trường.
Những quan điểm của
Đảng qua các kỳ đại hội nói trên chính là sự khẳng định quyết tâm của Đảng
trong thực hiện phát triển bền vững, xây dựng nền kinh tế xanh, sạch và thân
thiện với môi trường; qua đó, góp phần quan trọng trong quá trình xây dựng chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Tuy nhiên, để phát
triển bền vững nói chung, phát triển nông nghiệp sinh thái nói riêng, ngoài vai
trò chính yếu của người nông dân, ở khu vực kinh tế ngành nông nghiệp, còn rất
cần những sự tương tác và giúp đỡ từ các thành tố khác trong cơ cấu của nền
kinh tế cũng như sự điều chỉnh, định hướng các giá trị trong xã hội. Trong đó,
liên minh giữa các giai cấp, tầng lớp hay nói cách khác, sự phối hợp, kết hợp,
san sẻ và cộng đồng trách nhiệm giữa các thành phần kinh tế, các ngành kinh tế,
cũng như sự định hướng của Đảng, tác động về chính sách của Nhà nước trong thực
hiện tăng trưởng xanh, bền vững nói chung, trong nông nghiệp nói riêng, là điều
kiện quan trọng.
Để xây dựng chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam nói chung, từng lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội,
văn hóa, chính trị nói riêng, trong đó có phát triển nông nghiệp sinh thái hiện
nay, rất cần sự đoàn kết, chung sức, đồng lòng, sự sáng tạo của mọi giai cấp,
tầng lớp, của hệ thống chính trị và toàn xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng, cũng
như sự quản lý, định hướng của Nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Riêng đối
với việc phát triển nông nghiệp sinh thái hiện nay, sự liên minh giữa các giai
cấp, tầng lớp cũng như sự đầu tư, định hướng phát triển nông nghiệp sinh thái của
Nhà nước là rất quan trọng.
Thực tế liên minh
giai cấp, tầng lớp trong phát triển nông nghiệp sinh thái ở nước ta hiện nay
cho thấy, mối quan hệ trên đang có những biểu hiện cụ thể như sau:
Thứ nhất, liên minh trên
lĩnh vực kinh tế giữa các giai cấp, tầng lớp ngày càng được củng cố và hoàn
thiện, đi vào chiều sâu.
Kinh tế là lĩnh vực
thể hiện rõ nét nhất về lợi ích không chỉ của Nhà nước, quốc gia, dân tộc, mà
còn của mỗi giai tầng trong xã hội, và đây chính là cơ sở quan trọng của liên
minh. Trong mỗi giai đoạn, thời kỳ khác nhau, sự thống nhất về lợi ích chung sẽ
có các mẫu số khác nhau, song, về mặt kinh tế, vấn đề hài hòa lợi ích, được
sống trong điều kiện đầy đủ về vật chất và tinh thần, được tự do, bình đẳng,
sáng tạo… trong hoạt động kinh tế là nhu cầu chung.
Trong thời kỳ đổi
mới ở Việt Nam hiện nay, việc phấn đấu hiện thực hóa mục tiêu dân giàu, nước
mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, để mọi người dân đều có cuộc sống ấm no,
khỏe mạnh, tự do, hạnh phúc, là vấn đề cốt yếu, trọng tâm trong việc liên minh
về kinh tế giữa các giai cấp, tầng lớp. Trong đó, tăng trưởng xanh, phát triển
nông nghiệp sinh thái ở một quốc gia có tỷ trọng nông nghiệp còn lớn là một
trong những nội dung của phát triển bền vững. Điều này ngày càng rõ ràng vì,
ngày nay, con người, không phân biệt giai cấp, tầng lớp, giới tính, dân tộc…,
không chỉ có nhu cầu ăn no, mặc đủ như trước đây, mà cần hướng tới nhu cầu ăn
ngon, mặc đẹp, tiêu dùng an toàn, có môi trường sống an lành, sạch đẹp… Do vậy,
việc ủng hộ phát triển nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp xanh, bền vững là nhu
cầu chung trong xã hội. Khi liên minh về kinh tế nói chung, trong phát triển
nông nghiệp sinh thái nói riêng, được củng cố, sẽ là cơ sở và làm nền tảng cho
hiện thực hóa khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy được tiềm năng, sức sáng
tạo của mọi tầng lớp nhân dân trong thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển
kinh tế - xã hội của đất nước.
Nội dung kinh tế
của liên minh giai cấp, tầng lớp ở nước ta hiện nay không chỉ bó hẹp trong mối
quan hệ về mặt kinh tế giữa giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ
trí thức, mà còn mở rộng ra với các giai tầng khác, như đội ngũ doanh nhân,
nhóm làm các loại hình dịch vụ trong các lĩnh vực của đời sống xã hội. Ngoài
ra, Nhà nước, với tư cách là chủ thể định hướng đối với sự phát triển bền vững
nói chung, phát triển nông nghiệp sinh thái nói riêng, cũng có tác động qua lại
nhất định, thể hiện qua các chính sách phát triển kinh tế (trong đó có lĩnh vực
nông nghiệp sinh thái), tạo sự phát triển hài hòa giữa các khu vực kinh tế
(công nghiệp – nông nghiệp – dịch vụ) và giữa các giai tầng (công nhân – nông
dân – trí thức – doanh nhân…), qua đó, giúp tạo sự hài hòa về lợi ích giữa các
giai tầng, các loại hình kinh tế, cũng như với lợi ích của Nhà nước. Các chính
sách trên cũng tạo điều kiện cho mỗi giai tầng trong tăng cường phát triển sản
xuất, nâng cao năng suất lao động và kinh doanh, dịch vụ, cũng như hoạt động
phụ trợ khác.
Thành tựu từ liên
minh giai cấp trên lĩnh vực kinh tế nói chung, trong lĩnh vực nông nghiệp sinh
thái nói riêng, trước hết thể hiện qua những thành tựu đạt được của nền kinh tế
đất nước nói chung, trong lĩnh vực nông nghiệp nói riêng. Những “thành tựu
to lớn, có ý nghĩa lịch sử” và “cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc
tế” (Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tập I: 25) ngày càng cao, như đánh
giá của Đại hội Đảng lần thứ XIII; GDP luôn tăng trưởng dương, kể cả trong giai
đoạn ảnh hưởng của dịch COVID-19 cũng tăng 2,91% (Xem: IMF, 2021); năm 2023 đạt
433,7 tỷ USD (theo tính toán của IMF), đứng thứ 34 trong số 40 nước có quy mô
kinh tế hàng đầu thế giới; GDP bình quân đầu người tăng từ 200 USD năm 1990 lên
2.779 USD năm 2020 và 4.284,5 USD năm 2023; năm 2024, GDP đạt 476,3 tỷ USD, quy
mô kinh tế cao thứ 4 trong khu vực Đông Nam Á, xếp trên Philippines (462 tỷ
USD) và Malaysia (422 tỷ USD), và là nền kinh tế lớn thứ 33 trên thế giới (tăng
một bậc so với năm 2023) (Xem: Thư viện Pháp luật, 2025); kinh tế Việt
Nam đã từng bước ổn định, ngày càng tăng trưởng và hội nhập mạnh mẽ với kinh tế
khu vực và thế giới; xây dựng nông thôn mới với nhiều thành tựu tích cực (Xem:
Nguyễn Bích Lâm, 2025); văn hóa, xã hội và đời sống nhân dân trong các giai
tầng xã hội không ngừng được nâng cao; v.v., là minh chứng thể hiện những thành
công của sự nghiệp đổi mới. Trong đó, ngoài đường lối, chính sách đúng đắn của
Đảng và Nhà nước, sự liên minh, đoàn kết, đồng lòng, chủ động, sáng tạo và tích
cực tham gia của các giai tầng, các thành phần kinh tế vào sự nghiệp đổi mới
đóng vai trò quan trọng.
Trong lĩnh vực nông
nghiệp sinh thái: nhiều năm qua, cùng với việc thực hiện chiến lược phát triển bền vững,
xây dựng nông thôn mới qua nhiều giai đoạn với chất lượng ngày càng cao, bộ mặt
nông nghiệp, nông thôn đã có nhiều khởi sắc tích cực; nông dân và cư dân nông
thôn ngày càng có trình độ; thu nhập, chất lượng cuộc sống và vị thế, vai trò
của người nông dân ngày càng tăng; nền nông nghiệp được định hình và phát triển
theo hướng nông nghiệp sinh thái, hiện đại, bền vững, có năng suất, chất lượng,
hiệu quả và có quy mô sản xuất hàng hóa và sức cạnh tranh ngày càng cao, góp
phần quan trọng trong việc ổn định kinh tế - xã hội, phòng, chống thiên tai,
dịch bệnh, bảo vệ môi trường… Trong đó, phát triển nông nghiệp công nghệ cao,
đổi mới và ứng dụng khoa học công nghệ được coi là một trong những giải pháp
then chốt, trọng tâm nhằm giải quyết các thách thức trong phát triển nông
nghiệp. Theo đó, công nghệ sinh học, công nghệ nhà kính, công nghệ tưới nhỏ
giọt, công nghệ cảm biến, tự động hóa, internet vạn vật… giúp sản xuất nông
nghiệp tiết kiệm chi phí, tăng năng suất, hạ giá thành và nâng cao chất lượng
nông sản, bảo vệ môi trường, cũng như giúp nông dân chủ động trong sản xuất,
giảm lệ thuộc vào thiên nhiên, khắc phục được tính mùa vụ, qua đó, đáp ứng được
nhu cầu thị trường cả về thời gian đáp ứng và chất lượng, số lượng nông sản.
Theo tính toán, tiến bộ về khoa học công nghệ đóng góp trên 30% giá trị gia
tăng trong sản xuất nông nghiệp, 38% trong sản xuất giống cây trồng, vật nuôi,
giảm mức độ tổn thất của nông sản,… Việc áp dụng và sản xuất nông nghiệp theo
tiêu chuẩn VietGAP mang lại sản phẩm an toàn, chất lượng tốt, năng suất cao,
với nhiều sản phẩm OCOP, cho phép liên kết sản xuất và tiêu thụ nông sản theo
chuỗi giá trị… Tất cả những kết quả trên đã góp phần đưa kim ngạch xuất khẩu
nông sản của Việt Nam tăng cao giá trị. Năm 2019, tổng kim ngạch xuất khẩu
nông, lâm, thủy sản ước đạt 41,3 tỷ USD; thặng dư thương mại toàn ngành ước đạt
mức 10,4 tỷ USD; năm 2020 đạt khoảng 40 tỷ USD. Riêng trong 8 tháng năm 2024,
tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 40,08 tỷ USD, nhập khẩu đạt
28,28 tỷ USD. Như vậy, xuất siêu của ngành nông nghiệp là 11,8 tỷ USD, tăng
68,4% (VTV Online, 2024).
Đây cũng chính là
sự thể hiện vai trò, vị thế quan trọng và ngày càng được nâng cao của khối liên
minh công nhân – nông dân – trí thức và các giai tầng xã hội khác. Sự nghiệp
đổi mới với sáng tạo đặc sắc của Đảng trong phát triển nền kinh tế nhiều thành
phần vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý, định hướng của Nhà nước
Việt Nam xã hội chủ nghĩa; chấp nhận nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần
kinh tế, dẫn đến hình thành một cơ cấu xã hội mới, đa dạng. Theo đó, sự vận
động, biến đổi của giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, tầng lớp trí thức,
các giai tầng khác và của khối liên minh đã có những thay đổi nhất định. Đại
hội IX của Đảng khẳng định: “Trong thời kỳ quá độ, có nhiều hình thức sở hữu về
tư liệu sản xuất, nhiều thành phần kinh tế, giai cấp, tầng lớp xã hội khác
nhau, nhưng cơ cấu, tính chất, vị trí của các giai cấp trong xã hội ta đã thay
đổi nhiều cùng với những biến đổi to lớn về kinh tế, xã hội” (Đảng Cộng sản
Việt Nam, 2001: 22).
Tuy rằng trong khối
liên minh, giai cấp công nhân là chủ thể quan trọng, đi đầu; song, trong xây
dựng nông nghiệp sinh thái hiện nay, giai cấp nông dân phải đi đầu, vì họ là
chủ thể ở nông thôn, hạt nhân quan trọng xây dựng nông thôn mới, cũng như xây
dựng nông nghiệp sinh thái. Do vậy, trong bối cảnh hội nhập quốc tế, tác động
từ cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, để phát triển hơn nữa nông nghiệp,
nông dân và nông thôn ngày càng văn minh, hiện đại, xây dựng nền nông nghiệp
sinh thái bền vững, cần: “Phát huy vai trò chủ thể của nông dân trong phát
triển nông nghiệp, kinh tế nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới. Gắn xây
dựng giai cấp nông dân với phát triển nông nghiệp và quá trình công nghiệp hóa,
đô thị hóa nông thôn... Có chính sách hợp lý để chuyển lao động nông thôn sang
các ngành phi nông nghiệp. Huy động và phát huy mọi nguồn lực từ nông dân, nông
thôn cùng với các nguồn lực khác để thực hiện thành công mô hình nông nghiệp
sinh thái, nông thôn hiện đại và nông dân văn minh” (Đảng Cộng sản Việt Nam,
2021, tập I: 166-167).
Thứ hai, liên minh chính
trị giữa công nhân, nông dân, trí thức và các giai tầng khác ngày càng thực
chất, qua đó, đáp ứng tốt việc thực hiện các mục tiêu trong xây dựng chủ nghĩa
xã hội ở nước ta; đồng thời, tạo cơ sở chính trị - xã hội vững chắc cho Đảng
Cộng sản và Nhà nước Việt Nam.
Sự liên minh, đoàn
kết, gắn bó chặt chẽ giữa các giai tầng ở Việt Nam là cơ sở quan trọng cho Đảng
cầm quyền, lãnh đạo quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện thực
hơn. Điều này thể hiện trước hết ở việc giữ vững ổn định chính trị, bảo vệ
Đảng, Nhà nước Việt Nam, đóng góp tích cực và sáng tạo vào thực hiện thắng lợi
đường lối của Đảng vì lợi ích chung của toàn dân tộc. Việc toàn dân đoàn kết,
đồng thuận, bảo vệ hệ thống chính trị, bảo vệ Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ
nghĩa; tích cực thực hiện mô hình xây dựng chủ nghĩa xã hội với 6 đặc trưng
theo Cương lĩnh 1991 (Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam, 2005: 315-316) và 8 đặc
trưng theo Cương lĩnh 2011 (Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam, 2011: 70); thực hiện
10 mối quan hệ lớn (Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tập I: 119); 3 đột phá
chiến lược về thể chế phát triển, gồm: thể chế phát triển nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa; thể chế phát triển nguồn nhân lực, nhất là
nguồn nhân lực chất lượng cao và thể chế xây dựng hệ thống kết cấu hạ
tầng đồng bộ, hiện đại cả về kinh tế và xã hội (Xem: Đảng Cộng sản Việt
Nam, 2021, tập I: 203-204); phấn đấu thực hiện độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã
hội - mục tiêu chính trị chung của đất nước; thực hiện dân giàu, nước mạnh,
dân chủ, công bằng, văn minh; v.v., thể hiện rõ và thực chất nhất mối liên
minh giai cấp, tầng lớp ở nước ta trong lĩnh vực chính trị. Hơn nữa, việc liên
minh để thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, bảo đảm ổn định chính trị -
xã hội, sẽ là cơ sở để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp,
nông thôn, trong xây dựng nông thôn mới cũng như xây dựng nền nông nghiệp sinh
thái.
Tính đoàn kết, liên
minh, đồng thuận giữa các giai tầng về chính trị còn thể hiện trong cơ cấu
thành phần bộ máy của Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội; trong
cơ cấu bộ máy quyền lực cao nhất của quốc gia – Quốc hội và Hội đồng Nhân dân
các cấp. Quá trình đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng thể hiện ở
chỗ, đảng viên được kết nạp vào hàng ngũ của Đảng có nguồn gốc từ tất cả các
giai tầng xã hội, từ công nhân, nông dân, trí thức, doanh nhân… Hơn nữa, không
chỉ có mặt trong hàng ngũ của Đảng, nhiều đảng viên xuất thân từ công nhân,
nông dân, doanh nhân… đã được tín nhiệm bầu vào các vị trí lãnh đạo chủ chốt
trong các cơ quan Đảng và Nhà nước, ở cả Trung ương và địa phương. Đây cũng là
sự phản ánh thực trạng cơ cấu xã hội - giai cấp trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội ở nước ta, đồng thời thể hiện sự đồng thuận, đoàn kết, và khả năng
tập hợp ngày càng nhiều các nhân tố tích cực để thực hiện mục tiêu, sự nghiệp
xây dựng đất nước của Đảng.
Trong điều kiện xây
dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế, và
tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, yêu cầu trí thức hóa trong
Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị ngày càng tăng, nhằm thích ứng không chỉ
với điều kiện khoa học hiện đại và công nghệ mới, mà còn giúp Đảng, Nhà nước có
khả năng tiếp cận, đi tắt đón đầu các thành tựu của cách mạng khoa học và công
nghệ của các nước tiên tiến để phát triển kinh tế trong nước, xây dựng các tiền
đề, cơ sở vật chất và kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội, trong đó có xây dựng nền
nông nghiệp bền vững, nông nghiệp sinh thái…
Những điều trên
phản ánh sự thống nhất về tư tưởng, chính trị của các giai cấp, tầng lớp xã hội
trong nước, cũng như phản ánh sự phát triển về chất lượng của Đảng, Nhà nước và
hệ thống chính trị trong thời kỳ mới. Cần phải khẳng định rằng, chủ nghĩa Mác -
Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh - hệ tư tưởng của giai cấp công nhân, là nền tảng
tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và của cách mạng Việt Nam, cũng
như của toàn dân tộc, tuy nhiên, trí tuệ của Đảng ngày càng được nâng cao, tăng
cường hơn nhờ sự thu hút vào Đảng những cá nhân ưu tú nhất trong các giai tầng
của xã hội, nhất là từ đội ngũ trí thức.
Liên minh giai cấp,
tầng lớp trong chính trị ở Việt Nam ngày càng bền chặt, thống nhất còn do việc
Đảng và Nhà nước Việt Nam tăng cường mở rộng dân chủ trong mọi lĩnh vực của đời
sống xã hội, nâng cao quyền dân chủ, làm chủ của mọi tầng lớp nhân dân. Điều
này thể hiện ở chỗ, các dự thảo chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật,
chương trình, dự án của Nhà nước và các cơ quan Nhà nước trước khi ban hành đều
được đưa ra thảo luận, xin ý kiến phản biện, đóng góp, xây dựng của nhân dân;
và, trong quá trình thực hiện, nhân dân tiếp tục có quyền giám sát, khuyến
nghị, nhất là tại cơ sở. Không chỉ Hiến pháp và pháp luật, các quy chế như Quy
chế thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan (1998), Pháp lệnh Thực
hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn (2007), Luật Thực hiện dân chủ ở cơ
sở (2022) đã quy định rất rõ quyền hạn, nghĩa vụ không chỉ của các cơ quan
nhà nước ở cơ sở, mà quan trọng hơn là đã trao quyền cho nhân dân trong thực
hiện cả trực tiếp và gián tiếp các quyền dân chủ tại cơ sở, trong việc bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Theo đó, quyền hạn, trách nhiệm, nghĩa vụ
của mọi công dân, bất kể từ giai tầng nào đều bình đẳng như nhau. Ngoài ra, với
vị trí, quyền hạn, vai trò của mình, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị
- xã hội cũng giúp tập hợp, đoàn kết mọi tầng lớp nhân dân, thay mặt nhân dân
thực hiện giám sát và phản biện xã hội, qua đó, góp phần củng cố và tăng cường
sự tham gia của mỗi giai tầng cũng như của toàn xã hội vào quá trình hoạch định
chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.
Bên cạnh đó, cùng
với các phương tiện truyền thông và sự tận dụng các tiến bộ của khoa học và công
nghệ, của Internet, mạng xã hội, không chỉ các vấn đề chính trị, tư tưởng, mà
mọi vấn đề liên quan đến đời sống xã hội và có liên quan đến quyền, lợi ích và
nghĩa vụ hợp pháp của công dân, như: kinh tế, văn hóa, xã hội, các thông tin
báo chí, xuất bản, tự phê bình và phê bình, đấu tranh phê phán các hiện tượng
tiêu cực… đều được thông tin, qua đó, không chỉ nâng cao nhận thức, mà còn tạo
một cơ chế tự phản vệ, tự đấu tranh trước các thông tin sai lệch, chống đối,
thù địch của các thế lực thù địch, phản động.
Thứ ba, liên minh giai
cấp, tầng lớp trong lĩnh vực văn hóa, xã hội là cơ sở tạo dựng sự bền
vững trong liên minh xây dựng nền nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp xanh,
sạch.
Không chỉ liên minh
về kinh tế và chính trị, liên minh giai cấp, tầng lớp trong xây dựng nền nông
nghiệp sinh thái, nông nghiệp xanh, sạch còn thể hiện qua việc liên minh trong
thực hiện xã hội bền vững và văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, văn hóa phát
triển. Cùng với việc đẩy mạnh phát triển kinh tế, các vấn đề xã hội được giải quyết
hài hòa ngay trong từng bước phát triển, coi trọng các yếu tố phát triển theo
chiều sâu. Đảng yêu cầu phải gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa…,
tiến bộ và công bằng xã hội; phải rất coi trọng bảo vệ và cải thiện môi trường
ngay trong từng bước phát triển (Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam, 2006: 178-179).
Đó là sự nhất quán trong quá trình lãnh đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt
Nam của Đảng và Nhà nước ta hiện nay. Do vậy, luôn quan tâm lợi ích của người
lao động, bảo đảm đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, nhất là chủ
trương “xóa đói, giảm nghèo”, nâng cao đời sống của nhân dân trong từng chính
sách và trong suốt quá trình phát triển, trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội, được coi là một quốc sách.
Dưới sự lãnh đạo
của Đảng, sự quản lý và tổ chức thực hiện của Nhà nước, cùng sự đóng góp của
toàn xã hội, sự tương trợ lẫn nhau về kinh tế, phát huy truyền thống tương thân
tương ái, những năm qua, Việt Nam đã thực hiện tốt công cuộc xóa đói, giảm
nghèo, được cộng đồng thế giới đánh giá cao, coi là một hình mẫu, tấm gương
trong thực hiện xóa đói, giảm nghèo. Theo thống kê, tỷ lệ xóa đói, giảm nghèo ở
Việt Nam đã giảm mạnh, từ 53% năm 1993 xuống còn dưới 4% năm 2019 (Xem: Nguyễn
Xuân Phúc, 2019), và năm 2023, chỉ còn 2,93% (theo chuẩn nghèo đa chiều) (Xem:
Cục Thống kê, 2023). Số hộ đói nghèo trong công nhân, nông dân, trí thức ở các
vùng miền, cả thành thị và nông thôn, ngày càng giảm. Tỷ lệ hộ nghèo đa chiều
và cận nghèo năm 2023 cũng giảm đáng kể; tỷ lệ hộ nghèo chỉ còn 2.93% - giảm 1,1%
so với cuối năm 2022 (Xem: Phúc Minh, 2024). Theo công bố của Bộ Lao động -
Thương binh và Xã hội, năm 2024, tỷ lệ nghèo đa chiều chung toàn quốc là 4,06%,
giảm 1,65% so với năm 2023. Cả nước còn khoảng gần 1,26 triệu hộ nghèo và hộ
cận nghèo đa chiều (Xem: PV, 2025).
Các chính sách đầu
tư giáo dục, phát triển và chăm sóc y tế, thực hiện an sinh xã hội, chăm sóc,
hỗ trợ các gia đình thương binh, liệt sĩ, gia đình có công với cách mạng được
bảo đảm. Chỉ số phát triển con người (HDI) được cải thiện vượt bậc (Từ năm 1990
đến 2023, chỉ số HDI của Việt Nam đã tăng từ 0,499 lên 0,766, tương đương mức
tăng 53,5%, một bước tiến ấn tượng) (Xem: Nhật Anh, 2025), đặc biệt
trong lĩnh vực y tế và sức khỏe. Tuổi thọ trung bình của người Việt Nam đã tăng
lên từ 65,5 tuổi (năm 1993) lên 74,5 tuổi (năm 2023) (Xem: HM, 2024), cao hơn
nhiều quốc gia có cùng mức thu nhập bình quân đầu người. Điều này khẳng định sự
thành công của Việt Nam trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống, chăm sóc sức
khỏe người dân. Số người tham gia bảo hiểm xã hội cũng tăng lên, với tỷ lệ tham
gia năm 2023 là 39,05% (Xem: Bảo hiểm xã hội Việt Nam, 2024).
Chú trọng khoa học
và công nghệ trong phát triển, phục vụ công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội nói
chung, trong xây dựng nông nghiệp sinh thái nói riêng, việc quy hoạch, phát
triển công nghiệp, khoa học công nghệ, nhất là công nghệ cao, công nghệ giúp
tăng trưởng xanh, bền vững, gắn với xây dựng và phát triển nông thôn, tăng
cường kết cấu hạ tầng hiện đại được chú trọng, qua đó, góp phần khai thác tốt những
tiềm năng của nông - lâm - ngư nghiệp. Hơn nữa, nghiên cứu, chuyển giao khoa
học và công nghệ hiện đại ở khu vực nông - lâm - ngư nghiệp ngày càng được chú
ý và đẩy mạnh hiện thực hóa hơn, qua đó, góp phần tăng cường sự liên minh chặt
chẽ giữa các giai tầng trong xã hội ở nước ta.
Xác định văn hóa là
nền tảng tinh thần của xã hội, xây dựng và phát triển “văn hóa, con người Việt
Nam thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ
Tổ quốc” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tập I: 116), Đảng và Nhà nước ta luôn
chú ý tăng đầu tư cho phát triển văn hóa, tạo môi trường và điều kiện xã hội
thuận lợi nhất để khơi dậy truyền thống yêu nước, niềm tự hào dân tộc… qua đó,
trở thành mục tiêu, động lực phát triển quan trọng nhất của đất nước.
Thứ tư, sự thống nhất,
đồng thuận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong thực hiện sự nghiệp đổi
mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội Việt Nam nói chung, trong xây dựng nông nghiệp
sinh thái, thực chất là kết quả từ nền tảng của liên minh công - nông - trí thức
và các giai tầng xã hội khác.
Trong thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, với sự phát triển kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa, cơ cấu xã hội - giai cấp mang tính đa dạng và phức hợp
nhiều thành phần là tất yếu. Các giai tầng này, với vị trí nhất định trong nền
sản xuất xã hội sẽ có những mục tiêu, lợi ích không hoàn toàn đồng nhất; giữa
các giai tầng xã hội có thể tồn tại những khác biệt, song không mang tính đối
kháng. Do vậy, để hình thành và thực hiện lợi ích chung, các giai tầng tất yếu
phải vừa liên minh, vừa điều hòa và giải quyết hài hòa các lợi ích trong khuôn
khổ thống nhất lợi ích cơ bản của chế độ xã hội chủ nghĩa, trong đó, giai cấp
công nhân giữ vai trò nòng cốt, lãnh đạo.
Hiện nay, cơ cấu
giai cấp ở nước ta bao gồm: giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, đội ngũ trí
thức, người sản xuất nhỏ, đội ngũ doanh nhân. Do đó, liên minh giai cấp, tầng
lớp ở Việt Nam chính là tìm kiếm sự đồng thuận, lợi ích cốt lõi, chung nhất,
phù hợp với nhu cầu và nguyện vọng của các giai cấp, tầng lớp trong xã hội;
đồng thời, qua đó tạo lập cơ sở xã hội, sự đoàn kết, thống nhất vững chắc trong
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Trong khối liên
minh, giai cấp công nhân, thông qua Đảng Cộng sản Việt Nam, giữ vai trò lãnh
đạo, định hướng và quyết định xu hướng phát triển của xã hội. Giai cấp nông dân
và các tầng lớp nhân dân lao động có vai trò ngày càng quan trọng, là động lực
phát triển. Đội ngũ trí thức ngày càng có vai trò quyết định trong việc ứng
dụng những thành tựu khoa học công nghệ phục vụ sự nghiệp xây dựng, phát triển
đất nước. Tầng lớp doanh nhân phát huy tiềm năng và vai trò tích cực của mình,
hoạt động theo pháp luật, có những đóng góp quan trọng vào sự phát triển của
đất nước.
Sự phát triển ngày
càng mạnh mẽ của kinh tế - xã hội đã và đang thúc đẩy cơ cấu xã hội - giai cấp
ở nước ta biến đổi theo hướng tiến bộ, thể hiện ở những chuyển biến tích cực
trong từng giai cấp, tầng lớp xã hội. Các giai cấp, tầng lớp xã hội ngày càng
xích lại gần nhau hơn, liên minh, hợp tác chặt chẽ với nhau. Trong đó, liên
minh công - nông - trí thức là lực lượng chính trị - xã hội cơ bản, là nền tảng
của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Chính sự đoàn kết, thống nhất đó tạo nên
sức mạnh tổng hợp, là cơ sở quan trọng để thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ, mục
tiêu phát triển đất nước, trong đó có mục tiêu phát triển nông nghiệp sinh
thái, nông nghiệp sạch và bền vững.
Kết luận
Liên minh giai cấp,
tầng lớp trong phát triển nông nghiệp sinh thái ở Việt Nam hiện nay là một
trong những nội dung quan trọng trong xây dựng chủ nghĩa xã hội Việt Nam. Đây
là cơ sở quan trọng không chỉ góp phần đưa đất nước ta đạt được các mục tiêu
theo các mốc chiến lược đến năm 2030 (100 năm thành lập Đảng - Là nước đang
phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao) (Xem: Đảng Cộng
sản Việt Nam, 2021, tập I: 217) và đến năm 2045 (100 năm thành lập nước - Trở
thành nước phát triển, thu nhập cao (Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tập I:
218), mà còn là yêu cầu trong bảo vệ, gìn giữ, tái tạo môi trường nhằm đáp ứng
yêu cầu sinh tồn cho các thế hệ hiện tại và tương lai. Mỗi nội dung cụ thể của
liên minh đều có vai trò nhất định trong tham góp vào quá trình phát triển nông
nghiệp sinh thái hiện nay.
Tài liệu tham khảo
1. Bảo hiểm xã
hội Việt Nam. (2024). 6 tháng đầu năm 2024, toàn Ngành đạt các kết quả nổi
bật, tạo đà hoàn thành tốt nhiệm vụ năm. (https://
baohiemxahoi.gov.vn/tintuc/Pages/hoat-dong-he-thong-bao-hiem-xa-hoi.aspx?ItemID=23262&CateID=52).
Truy cập ngày 09/07/2024.
2. Cục Thống
kê. (2023). Thông cáo Báo chí về tình hình kinh tế - xã hội quý IV và năm
2023. (https://www.nso.gov.
vn/tin-tuc-thong-ke/2023/12/thongcao-bao-chi-ve-tinh-hinh-kinh-te-xahoi-quy-iv-va-nam-2023/).
3. Cục Thống
kê. (2024). Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý IV và năm 2024.
(https://www.nso.gov.vn/baitop/2025/01/bao-cao-tinh-hinh-kinhte-xa-hoi-quy-iv-va-nam-2024).
4. Đảng Cộng
sản Việt Nam. (1994). Văn kiện Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ
khóa VII (Lưu hành nội bộ).
5. Đảng Cộng sản
Việt Nam.
(2001). Văn kiện
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX. Hà Nội: Nxb. Chính trị quốc gia.
6. Đảng Cộng sản
Việt Nam. (2005). Văn kiện Đảng thời kỳ đổi mới (Đại hội VI, VII, VIII,
IX). Hà Nội: Nxb. Chính trị quốc gia.
7. Đảng Cộng
sản Việt Nam. (2006). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X. Hà
Nội: Nxb. Chính trị quốc gia.
8. Đảng Cộng
sản Việt Nam. (2011). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI. Hà
Nội: Nxb. Chính trị quốc gia.
9. Đảng Cộng
sản Việt Nam. (2016). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII.
Hà Nội: Nxb. Chính trị quốc gia.
10. Đảng Cộng
sản Việt Nam.
(2021). Văn kiện
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Tập I. Hà Nội: Nxb. Chính trị quốc
gia Sự thật.
11. Đào Tuấn.
(2023). Nông nghiệp Việt Nam tiếp tục khẳng định vị thế trụ đỡ của nền kinh
tế. (https://media.
chinhphu.vn/nong-nghiep-viet-namtiep-tuc-khang-dinh-vi-the-tru-do-cuanen-kinh-te-102231230155700964.
htm). Truy cập ngày
31/12/2023.
12. HM.
(2024). Tuổi thọ trung bình của người Việt Nam đạt 74,5 tuổi. (
https://baochinhphu.vn/tuoi-tho-trungbinh-cua-nguoi-viet-nam-dat-745tuoi-102240711142540252.htm).
Truy cập ngày 11/07/2024.
13. IMF.
(2021). GDP bình quân đầu người của Việt Nam năm 2020 đạt trên
10.000 USD. (https://tapchitaichinh.
vn/su-kien-noi-bat/imf-nam-2020gdp-binh-quan-dau-nguoi-cua-vietnam-dat-tren-10000-usd-331067.
html). Truy cập ngày 05/01/2021.
14.Nguyễn Bích Lâm.
(2025). Chuyển dịch cơ cấu kinh tế và nâng cao chất lượng tăng trưởng – Chìa
khóa cho sự thịnh vượng quốc gia. (https://xaydungchinhsach.chinhphu.
vn/chuyen-dich-co-cau-kinh-te-vanang-cao-chat-luong-tang-truongchia-khoa-cho-thinh-vuong-quocgia-119250901191451405.htm).
Truy cập ngày 02/09/2025.
15. Nguyễn
Xuân Phúc. (2019). Toàn văn Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội năm 2019 và
kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2020. (https://diendandoanhnghiep.
vn/toan-van-bao-cao-tinh-hinhkinh-te-xa-hoi-nam-2019-va-kehoach-phat-trien-kinh-te-xa-hoinam-2020-10055079.html).
Truy cập ngày 21/10/2019.
16. Nhật Anh.
(2025). Việt Nam duy trì Chỉ số phát triển con người ở mức cao.
(https://nhandan.vn/viet-nam-duytri-chi-so-phat-trien-con-nguoi-o-muccao-post877966.html).
Truy cập ngày 07/05/2025.
17. Phúc Minh.
(2024). Tỷ lệ hộ nghèo trong cả nước là 2,93%, tương đương 815.101 hộ nghèo
theo chuẩn nghèo đa chiều. (https://vneconomy.
vn/ty-le-ho-ngheo-trong-ca-nuoc-la2-93-tuong-duong-815-101-ho-ngheotheo-chuan-ngheo-da-chieu.htm).
Truy cập ngày 20/02/2024.
18. PV. (2025).
Tỷ lệ nghèo đa chiều toàn quốc năm 2024 là 4,06%. (https://nhandan.vn/ty-le-ngheo-dachieu-toan-quoc-nam-2024-la-406post859379.html).
Truy cập ngày 10/02/2025.
19. VTV Online.
(2024). Xuất khẩu nông sản lập kỳ tích hơn 40 tỷ USD sau 8 tháng.
(https://vtv.vn/kinh-te/xuatkhau-nong-san-lap-ky-tich-hon-40-tyusd-sau-8-thang-20240902103052411.
htm). Truy cập ngày 02/09/2024.
Tác giả: Nguyễn
Dương Hùng
Tiến sĩ, Học viện
Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
Email:
hungnd66@gmail.com
Nguồn:
https://iopjournal.vn/index.php/tcth/vi/article/view/1108