Quá trình chiếm lĩnh vùng ngập mặn Đông Nam Bộ thời Tiền sử và Sơ sử
Dẫn nhập
Vùng ngập mặn Đông Nam Bộ thuộc địa bàn các tỉnh Đồng
Nai, Long An, Bà Rịa - Vũng Tàu và thành phố Hồ Chí Minh. Trong nghiên cứu khảo
cổ học tiền sơ sử Đông Nam Bộ, vùng ngập mặn ven biển Đông Nam Bộ có một vị trí
quan trọng, bởi đây chính là cửa ngõ vào châu thổ sông Đồng Nai và phần bắc của
châu thổ sông Cửu Long - hai châu thổ có liên quan mật thiết tới hai giai đoạn
lớn trong quá trình hình thành, phát triển văn hóa kim khí Đồng Nai và mở
đầu cho văn hóa Óc Eo. Tuy nhiên, trong một thời gian dài, việc tiếp cận khu vực ngập mặn
như một tiểu vùng văn hóa riêng còn ít được chú ý. Trong khoảng một thập kỷ trở
lại đây mới có một vài công trình tiếp cận vùng ngập mặn theo hướng này. Nhưng
các công trình đó, hoặc là chỉ giới hạn trong phạm vi hành chính của một tỉnh
(Bảo tàng Đồng Nai 2006), hoặc là chỉ hệ thống lại
quá trình phát hiện và nghiên cứu khảo cổ ở khu vực này (Bùi Chí Hoàng 2008),
chứ chưa đề cập cụ thể đến quá trình chiếm lĩnh và khai phá vùng ngập mặn cũng
như vị trí của nó trong bối cảnh khảo cổ học tiền - sơ sử Đông Nam Bộ.
Trong bài viết này, dựa trên nguồn tài liệu khảo cổ học,
tôi hy vọng tiếp cận quá trình chiếm lĩnh và khai phá vùng ngập mặn Đông Nam Bộ
của các nhóm cư dân tiền - sơ sử. Bên cạnh đó, bước đầu xác định vị trí của
vùng ven biển Đông Nam Bộ trong thời tiền - sơ sử Nam Bộ, đặc biệt là giai đoạn
chuyển tiếp lên văn hóa Óc Eo.
1. Vài nét về cảnh quan tự nhiên và môi
trường sinh thái
Vùng ngập mặn Đông Nam Bộ bao gồm một khu vực khá rộng
lớn, phân bố ở các huyện Nhơn Trạch (Đồng Nai), Nhà Bè, Bình Chánh, Cần
Giờ (Thành phố Hồ Chí Minh), Cần Giuộc, Cần Đước (Long An) và vùng ven biển tây nam tỉnh Bà Rịa - Vũng
Tàu. Đây là một vùng địa lý sinh thái đặc thù, với những đặc điểm sau:
1.1. Theo các nhà địa lý - địa chất, tuy về mặt hành chính khu
vực này thuộc Đông Nam Bộ, nhưng về mặt cơ thức hình thành rất giống đồng
bằng sông Cửu Long, còn được gọi là "châu thổ thủy triều" hay đồng bằng tích tụ Tây Nam Bộ (Hà Quang
Hải 1996; Lê Bá Thảo 2001). Vùng đất này có địa hình bằng phẳng, với hệ thống
sông rạch chằng chịt, nổi lên trên đó là các đảo phù sa lớn nhỏ có độ cao
khoảng 1 - 2m so với xung quanh và thường xuyên chịu tác động của thủy triều.
Bên cạnh đặc điểm chung này, ở đây còn có một số tiểu vùng với cảnh trí tự
nhiên mang nét khác biệt và ít chịu tác động của thủy triều. Ví dụ như, vùng
đất phù sa mới giáp t hành phố Biên Hòa, cao khoảng 4 - 5m, hay vùng ô
trũng nước ngọt ven đồi gò đất đỏ bazan xung quanh t hành phố Bà Rịa. Các tiểu vùng này tuy nằm trong vùng đồng bằng
ven biển nhưng ít hoặc không chịu tác động của thủy triều, nhờ vậy mà nguồn
nước ở đó ít hoặc không bị nhiễm mặn.
Trong khi đó, ở khu vực còn lại hầu hết tầng nước mặt lẫn
nước ngầm đều bị ngập mặn do tác động của thủy triều. Các con sông chính ở
vùng này là sông Đồng Nai, Sài Gòn, Vàm Cỏ và sông Thị Vải đều có đặc điểm là rộng và sâu nên thuận
lợi cho giao thông đường thủy, nhưng mặt khác nó cũng chính là điều kiện để
thủy triều xâm nhập dễ dàng vào sâu trong lục địa. Từ vịnh Gành Rái vào sâu
trong đất liền khoảng 50 km vẫn thấy có tác động của thủy triều. Không chỉ bị
nhiễm mặn nguồn nước, mà mùa khô ở đây còn kéo dài hơn các vùng khác, lượng mưa
cũng thấp hơn lượng mưa trung bình toàn vùng, ví dụ như ở Cần Giờ lượng mưa là
1010mm, ở Cần Giuộc là 1200m, ở Vũng Tàu là dưới 1500mm, trong khi ở các khu
vực cao hơn lượng mưa thường đạt trên 1500mm.
1.2 . Một đặc điểm nổi bật của khu vực này là hệ sinh thái
rừng ngập mặn, hay còn gọi là "Rừng Sác". Đây là rừng nhiệt đới
phát triển ở vùng đất lầy mặn ven biển, ở những vùng cửa sông bị phủ ngập thủy
triều. Thành phần thông thường của rừng ngập mặn bao gồm các loại cây như: cây
mắm, đước, gió, dừa nước. Ngoài ra còn có các loại cây ô-rô, sậy, hoặc cói, lác,
cỏ ráng. Rừng ngập mặn có tác dụng giữ đất, chống lại tình trạng xâm thực đồng
thời cũng là môi trường thích hợp cho các loại thủy hải sản nước mặn và nước lợ
phát triển. Trong các rừng ngập mặn ở Việt Nam, mức độ thủy hải sản tự nhiên ở
vùng Cần Giờ là cao nhất (Nguyễn Thị Hậu 1997).
1.3. Đây cũng là vùng có nguồn sét và than bùn khá phong phú.
Trầm tích chủ yếu của khu vực này thuộc hệ tầng Cần Giờ, với thành phần là sét
và than bùn (Hà Quang Hải 1996). Có thể nói, nguồn sét, than bùn và củi đước
chính là những điều kiện quan trọng cho nghề thủ công làm gốm thời tiền sử phát
triển.
1.4. Cuối cùng, một đặc điểm quan trọng nữa cần phải nhắc đến,
đó là ở đây có một số núi đá hoa cương vươn cao trên một vùng gần như bình
địa, ví dụ như núi Dinh và núi Thị Vải ở huyện Tân Thành cao 491m và 470m, hay núi Lớn ở mũi Vũng
Tàu - Ô Cấp cao 245m, có vai trò như những cột mốc đánh dấu đất liền ( landmark ) cho những người đi biển ( Thạch Phương, Nguyễn Trọng Minh
2005; Reinecke A., Nguyen Thi Thanh Luyen 2009b).
Tóm lại, có thể thấy vùng ngập mặn ven biển Đông Nam Bộ
là vùng đất thấp, hình thành muộn, địa hình bị chia cắt mạnh mẽ bởi hệ thống
sông rạch chằng chịt. Mùa khô ở đây cũng kéo dài hơn và lượng mưa cũng
thấp hơn các vùng khác, trong khi đó tầng nước mặt và tầng nước ngầm đều bị
nhiễm mặn. Điều kiện sinh thái nơi
đây không thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, trồng trọt mà chủ yếu chỉ phát
triển phương thức khai thác tự nhiên. Tuy vậy, vùng này cũng có những thế mạnh
riêng của nó, thể hiện ở chỗ có trầm tích cát, sét là nguyên liệu quan trọng
cho các ngành nghề thủ công làm gạch, gốm; có than bùn, củi đước làm chất đốt;
có nguồn lợi thủy hải sản dồi dào. Bên cạnh đó, vùng này nằm ở vị trí chiến
lược trên con đường giao thương Đông - Tây, với một hệ thống sông sâu và rộng,
thuận lợi cho giao thông đường thủy, đó chính là tiền đề hình thành nên các
cảng thị sơ khai.
2. Vài nét về quá trình phát hiện và nghiên
cứu
Quá trình phát hiện và nghiên cứu khảo cổ học ở khu vực
này có thể chia làm hai giai đoạn, đó là trước 1975 và sau 1975.
2.1. Giai đoạn trước 1975
Đây là giai đoạn mà các hoạt động sưu tầm cổ vật và
nghiên cứu khảo cổ đều do các quan chức và học giả phương Tây thực hiện. Tuy
nhiên, các hoạt động này hầu như chỉ được triển khai trên vùng đất có địa hình
cao thoáng, còn vùng đất thấp cận biển ít được quan tâm. Ngoài một thông báo
của học giả Pháp là E.T.Hamy về những công cụ đá phát hiện được ở Xóm Cai Vàng
(tức Cái Vạn) năm 1897 (Bảo tàng Đồng Nai 2006) và việc Fraisse phát hiện
địa điểm Rạch Núi năm 1937 (Phạm Quang Sơn 1978a) thì khu vực này gần như là vùng trắng về khảo cổ học.
2.2. Giai đoạn sau 1975
Sau năm 1975, khi đất nước thống nhất, hoạt động khảo cổ
học đã được triển khai mạnh mẽ trên hầu khắp các vùng địa hình của Nam Bộ.
Trong giai đoạn này đã có nhiều phát hiện mới về khảo cổ học ở vùng ngập mặn Thị Vải - Cần Giờ, hay còn
gọi là vùng Rừng Sác, vốn đã bị bỏ quên trong giai đoạn trước đó. Sau hơn 40
năm phát hiện và nghiên cứu, nguồn tài liệu khảo cổ hiện nay cho phép chúng ta
hình dung về một quá trình chiếm lĩnh và khai phá vùng đất ngập mặn ở Đông Nam
Bộ thông qua các nhóm di tích khảo cổ như Rạch Núi, Cái Vạn, Bưng Thơm - Bưng
Bạc, Cần Giờ - Long Sơn. Đây là một quá trình lâu dài cả ngàn năm, kéo dài từ
giai đoạn hậu kì Đá mới cho tới đầu Công nguyên, trong đó các nhóm cư dân tiền
- sơ sử đã sáng tạo nên nhiều giá trị văn hóa vật chất phong phú và độc đáo,
góp phần tạo tiền đề cho sự hình thành văn hóa Óc Eo nổi tiếng sau này.
3. Quá trình chiếm lĩnh vùng ngập mặn Đông
Nam Bộ
3.1. Những lớp cư dân đầu tiên thời Đá mới
Các tư liệu khảo cổ hiện nay cho biết, vào hậu kì Đá mới,
đã có hai nhóm cư dân đầu tiên đến chiếm lĩnh và khai phá vùng đất ngập
mặn này, mà di tồn vật chất họ để lại chính là nhóm di tích khảo cổ Cái Vạn và Rạch Núi.
3.1.1. Nhóm Cái Vạn
Nhóm này gồm các địa điểm như Cái Vạn, Rạch Lá (Nhơn
Trạch, Đồng Nai) và ND11 1 (Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh). Đây là nhóm di tích
phân bố ở vùng đất thấp ven sông Đồng Nai, Nhà Bè và sông Thị Vải, có địa thế thấp, tiếp giáp với vùng
phù sa mới và vùng địa hình phù sa cổ ở phía bắc. So với các khu vực ngập mặn khác trong châu
thổ Cần Giờ - Thị Vải, thì đây là khu vực có độ ngập mặn không cao và không
thường xuyên, mặt khác lại có nguồn nước ngọt khá dồi dào. Có lẽ đây là một
trong những lí do thu hút cư dân cổ đến sinh sống từ khá sớm. Nghiên cứu vị trí
phân bố của các địa điểm Cái Vạn, Rạch Lá, có thể thấy các di tích này tuy ở
trong vùng đất thấp, nhưng nhìn chung đều nằm trên các thế đất tương đối cao so
với xung quanh, nhằm hạn chế ảnh hưởng của thủy triều, nhưng cũng không cách
quá xa dòng chảy để tiện cho việc di chuyển và khai thác thủy sản.
Đặc trưng của nhóm di tích này là kiểu cư trú trên nhà
sàn ven sông rạch, một lối cư trú tương thích với môi trường nước nổi. Ở Rạch
Lá, Cái Vạn và ND11 đều tìm thấy những cọc gỗ cắm sâu xuống sinh thổ. Những
chiếc cọc này dài khoảng 1,0 - 2,0 m, đường kính từ 14 - 30 cm, được đẽo nhọn
một đầu, trên thân khoét ngoàm hoặc khấc. Các tác giả khai quật cho rằng đây là
những cọc nhà sàn của người xưa, với phần đầu vót nhọn là để cắm xuống đất còn
những ngoàm, khấc ở thân là nhằm gá những thanh ngang vào để làm sàn, lợp mái,
tạo thành dạng nhà sàn đơn giản nhất. Những ngôi nhà sàn với hệ thống cọc gỗ
đơn giản như vậy thích hợp với vùng đất sình lầy, còn nhiều sự bất ổn định và
chịu ảnh hưởng của thủy triều (Trịnh Sinh và nnk 2002). Cùng với tính chất
không kiên cố của nhà cửa, tầng văn hóa ở các địa điểm này cũng không dày, thể
hiện thời gian cư trú không lâu. Tầng văn hóa địa điểm Rạch Lá chỉ dày
khoảng 0,3m, tầng văn hóa Cái Vạn dày nhất cũng chỉ khoảng 0,8m, nhưng cũng
phân bố không đều.
Về di vật, ngoài những cọc gỗ nhà sàn như trên đã nói,
trong các địa điểm này hiện vật tìm được chủ yếu là đồ đá và đồ gốm. Đồ đá có
các loại hình như đàn đá/đá kêu, dao hái, chì lưới, vòng tay; các loại
công cụ sản xuất như rìu, cuốc, đục, trong đó công cụ có vai chiếm ưu thế hơn
so với công cụ tứ giác. Đồ gốm có các loại hình
như bàn xoa, dọi xe chỉ, chì lưới, cà ràng và các loại nồi, bình hay bát bồng.
Gốm có hai dòng thô và mịn, trong đó loại gốm thô chiếm ưu thế hơn. Gốm thô
thường có văn thừng, chải, ít có văn trang trí. Gốm mịn cũng có văn thừng
hoặc chải, nhưng được kết hợp với các đồ án khắc vạch, chấm dải khá đẹp mắt. Nhìn chung, những
loại hình đồ đá và đồ gốm này đều mang những đặc điểm chung của truyền
thống Đồng Nai, cụ thể là rất giống với các địa điểm Bến Đò, Bình Đa hay Cù Lao
Rùa lớp dưới. Điều này nhắc
nhở chúng ta về mối quan hệ mang tính truyền thống của nhóm di tích này với các
di tích ở vùng cao.
Tuy nhiên, bên cạnh những loại hình đồ đá và đồ gốm mang
truyền thống Đồng Nai, bộ di vật ở các địa điểm này cũng mang những nét đặc thù
riêng. Trước hết, đó là sự có mặt phổ biến của những công cụ, dụng cụ bằng gỗ,
với các loại hình như thuổng, mai, mái chèo, mũi nhọn, kiếm, dao... trong đó
riêng bộ sưu tập đồ gỗ của Cái Vạn đã lên tới gần 300 hiện vật. Đồ gốm thì có
sự khác biệt ngay trong chất liệu, thể hiện ở sự tăng lên đáng kể của loại gốm
xốp (loại gốm pha bã thực vật và vỏ nhuyễn thể). Sự có mặt của gốm tô màu cũng là nét đáng chú ý của nhóm di tích này
(Trịnh Sinh và nnk 2002; Bảo tàng Đồng Nai 2006).
Những di tồn vật chất nói trên cộng với cảnh quan tự
nhiên của khu vực cho phép chúng ta hình dung về diện mạo kinh tế của nhóm cư
dân ở đây. Có thể nói bên cạnh các nghề thủ công như chế tác đá, chế tác
đồ gỗ và làm đồ gốm, nhóm cư dân Cái Vạn có đời sống kinh tế dựa vào nguồn lợi
sông biển là chính. Nơi cư trú của họ thường
ở vùng đầu rạch, chính là nơi dễ khai thác thủy sản nhất. Những công cụ gỗ của
họ để đào đất sình lầy, bắt hải sản như trùng trục, chem chép. Cũng không loại
trừ khả năng họ dùng rìu bôn đá để chặt cây, phát quang làm nông nghiệp ở những
chỗ đất cao hơn không nhiễm mặn, theo kiểu "đốt rẫy mà ăn, gác sàn mà
ở" như Đại Nam Nhất thống chí từng ghi chép về thổ dân vùng này trước đây (Trịnh Sinh
và nnk 2002: 4).
Về niên đại, các tác giả khai quật cũng như đa số nhà
nghiên cứu trong nước đều xếp nhóm di tích này vào thời đại Kim khí (Trịnh
Sinh và nnk 2002; Bảo tàng Đồng Nai 2006; Hán Văn Khẩn và nnk 2008). Trong khi đó, một số nhà nghiên cứu như
Phạm Quang Sơn, Phạm Văn Kỉnh, M.Nishimura, C. Sarjeant lại cho rằng, những di
tích như Cái Vạn và tương đương Cái Vạn như Bến Đò, Bình Đa, Rạch Núi... vẫn
thuộc thời Đá mới (Phạm Quang Sơn 1978b; Phạm Văn Kỉnh 1978; Nishimura Masanari
2002; Carmen Sarjeant 2014). Khi nghiên cứu cụ thể từng địa điểm trong nhóm
này, chúng tôi cho rằng nên xếp nhóm di tích này thuộc thời đại Đá mới, bởi
những yếu tố đá mới ở đây khá đậm nét. Như trên đã nói, trong sưu tập hiện vật
của các địa điểm này, đồ đá chiếm số lượng áp đảo. Ở Rạch Lá, tỉ lệ đồ đá là 95%,
ở Cái Vạn là 73%, còn ở ND11 hiện vật sưu tầm được cũng chủ yếu là đồ đá. Các
loại hình công cụ lao động phổ biến của thời Đá mới như rìu, đục, cuốc, dao hái
có mặt với số lượng khá lớn, chứng tỏ vị trí quan trọng của nó trong đời sống
của nhóm cư dân này. Có ý kiến cho rằng để đẽo được những chiếc cọc nhà sàn,
chắc chắn người ta phải dùng rìu bằng kim loại. Nhưng tài liệu dân tộc học chỉ
ra rằng, chỉ với chiếc rìu đá sắc bén, người xưa hoàn toàn có thể đẽo được
cả chiếc thuyền độc mộc (Đặng Văn Thắng và nnk 1998: 338). Mặt khác đồ gốm của Cái Vạn hay ND11
cũng khá giống với các di tích Đá mới khác như Bến Đò, Bình Đa hay Đa Kai, nhất
là kiểu hoa văn trang trí khắc vạch trên nền thừng/chải hoặc chấm dải trong
khung khắc vạch hay khắc vạch bên trong thành miệng 2 . Theo chúng tôi,
nhóm di tích này có niên đại hậu kì Đá mới, tồn tại trong khoảng 3500 - 3000
năm BP 3 .
3.1.2. Nhóm Rạch Núi
Nhóm di tích này gồm khoảng 10 địa điểm, phân bố ở vùng
sình lầy ven biển huyện Cần Giuộc (tỉnh Long An) và huyện Tân Thành (tỉnh
Bà Rịa - Vũng Tàu) (Nguyễn Mạnh Thắng 2006; Bùi Chí Hoàng 2012). Đây là vùng cửa sông ven biển, có địa hình
chia cắt mạnh, thủy triều lên xuống hai lần trong ngày. Trên vùng sình lầy này
nổi lên những gò/giồng đất cao hơn xung quanh khoảng 1,0 - 2,0m, có dấu vết của
cư dân tiền sử, ví dụ như Rạch Núi, Gò Cá Sỏi, Gò Cây Me, Gò Cây Chôm, Gò Bảy
Mộ, Gò Quát Trong, Gò Quát Ngoài... Trong nhóm di tích này, ba địa điểm Rạch
Núi, Gò Cá Sỏi và Gò Cây Me đã được khai quật, nghiên cứu khá bài bản. Dựa trên
kết quả khai quật, có thể nhận ra một số đặc trưng của nhóm di tích này.
Về phương thức cư trú, dù sống trong vùng ngập mặn cửa
sông ven biển, nhưng cư dân ở đây không làm nhà sàn mà cư trú trên nền đất,
cách ứng phó với hiện tượng nước dâng bằng cách tôn nền. Điều đó lí giải tại
sao tầng văn hóa của nhóm di tích nơi đây khá dày, từ khoảng 1m - 5,7m, bên
trong có những vỉa đất màu đỏ dày khoảng 0,1 - 0,2m nằm xen kẽ với các lớp đất
văn hóa. Đó có thể là dấu vết tôn nền cư trú sau mỗi lần lũ lụt.
Di vật trong tầng văn hóa chủ yếu là đồ đá, đồ gốm, đồ
xương và hoàn toàn không thấy có dấu vết của việc chế tác hay sử dụng kim loại.
Đồ đá ở đây đơn giản về loại hình, chỉ có rìu bôn, cuốc, đục, dao hái, bàn mài
hay hòn ghè, không phát hiện chì lưới hay trang sức. Trong nhóm công cụ lao
động tồn tại cả công cụ có vai và tứ giác, tuy nhiên có sự khác biệt giữa các
địa điểm. Ví dụ như ở Gò Cá Sỏi và Gò Cây Me số lượng công cụ có vai lớn hơn
công cụ tứ giác đôi chút, trong khi ở Rạch Núi công cụ tứ giác lại chiếm ưu thế
tuyệt đối. Đồ gốm có số lượng lớn nhưng ít có sự diễn biến theo địa tầng, gồm
hai loại chất liệu thô và mịn, trong đó loại gốm thô xốp (xương pha bã thực vật
vỏ nhuyễn thể) chiếm vị trí chủ đạo. Loại hình đặc trưng của nhóm di tích này
là vò/nồi có miệng đứng hoặc hơi khum, nặn tay đơn giản, thân hình cầu, đáy
tròn, thân đập văn thừng. Hoa văn chủ đạo là văn thừng trên gốm thô và văn chải
trên gốm mịn, đôi khi thấy có kết hợp văn khắc vạch trên nền thừng, chải. Văn
khắc vạch cũng khá đơn giản, chủ yếu là những băng khắc vạch song song hoặc
sóng nước. Đồ xương có rìu vai, công cụ mũi nhọn, dao, dùi và hạt chuỗi. Bên
cạnh các loại di vật nói trên, ở các di tích này còn tìm thấy khá nhiều tàn
tích động vật như vỏ sò, ốc hay xương răng động vật.
Về phương thức kinh tế, bên cạnh các nghề thủ công chế
đá, xương và làm gốm, nhóm cư dân Rạch Núi vẫn dựa vào kinh tế khai thác tự
nhiên là chủ đạo. Khác biệt ít nhiều với khu vực phân bố của nhóm Cái Vạn, khu
vực phân bố của nhóm Rạch Núi bị ngập mặn thường xuyên và khó có khả năng để
trồng lúa. Nhưng ngược lại, thế mạnh của nhóm cư dân ở đây là khai thác nguồn
đạm động vật rất dồi dào của hệ sinh thái ngập mặn, như tôm, cua, cá, ngao, sò,
ốc, khỉ và cá sấu... Hiện nay người dân sống tại khu vực này vẫn có thể bắt các
loại thủy sản nước lợ chỉ bằng các phương pháp đơn giản như bẫy, tát, đào
bới... Bên cạnh việc khai thác tự nhiên, có thể người Rạch Núi đã bước đầu
thuần hóa động vật, thể hiện ở việc tìm được xương lợn thuần hóa ở địa điểm Gò
Cây Me (Nguyễn Mạnh Thắng 2006). Ở Rạch Núi cũng tìm được thực vật thuần hóa là
cau và kê đuôi cáo (Oxenham MF. et al. 2015).
So sánh những đặc điểm về kết cấu địa tầng, đặc trưng về
đồ đá, đồ gốm và đồ xương của nhóm di tích Rạch Núi với các địa điểm khác ở
Đông Nam Bộ, chúng tôi nhận thấy nhóm di tích này có nhiều nét tương đồng với
giai đoạn muộn của các di tích An Sơn, Lộc Giang. Điều này gợi nhắc ta về mối
quan hệ truyền thống của nhóm Rạch Núi với hai di tích này. Rất có thể, vào
giai đoạn muộn của các di tích An Sơn và Lộc Giang, một nhóm dân cư đã xuôi
theo dòng Vàm Cỏ Đông tiến về phía biển và định cư tại gò đất Rạch Núi, rồi từ
đó theo các dòng chảy chằng chịt của vùng Cần Giờ - Thị Vải đến cư trú trên các
gò nổi vùng ngập mặn Tân Thành.
Về niên đại, ý kiến chung hiện nay xếp nhóm di tích Rạch
Núi vào sơ kì Kim khí. Tuy nhiên theo chúng tôi, dựa trên tổng thể di tích và di
vật tìm được, nhóm di tích này vẫn thuộc hậu kì Đá mới, tồn tại trong khung
niên đại 3500 - 3000 năm BP 4 .
3.2. Những lớp cư dân thời Kim khí
Sau những cư dân Đá mới tiên phong Cái Vạn và Rạch Núi,
quá trình chiếm lĩnh vùng ngập mặn được tiếp bước bởi những cư dân thời Kim
khí, mà di tồn vật chất họ để lại tại các địa điểm như Cái Lăng, Gò Me, Bưng
Thơm, Bưng Bạc hay tại chính Cái Vạn.
3.2.1. Nhóm Cái Lăng
Gồm có hai địa điểm là Cái Lăng và Cái Vạn (giai đoạn
muộn), phân bố ở vùng ngập mặn ven sông Thị Vải thuộc huyện Nhơn Trạch (Đồng
Nai), trong đó di tích Cái Lăng chỉ cách Cái Vạn khoảng 2,0 km về phía nam.
Theo chúng tôi, nhóm Cái Lăng chính là sự phát triển trực tiếp từ nhóm Cái Vạn
thời Đá mới. Ở nhóm Cái Lăng, chúng ta vẫn thấy những đặc trưng cơ bản của nhóm
Cái Vạn, đó là phương thức cư trú trên nhà sàn ven sông, tầng văn hóa không dày
(chỉ khoảng 0,4 - 0,5m), sự có mặt các công cụ đá có vai và tứ giác bằng đá, sự
phổ biến của công cụ gỗ hay sự gia tăng của gốm xốp và tồn tại gốm tô màu. Tuy
nhiên, cũng có nhiều yếu tố mới xuất hiện trong nhóm này như sau:
- Sự xuất hiện của khuôn đúc: ở Cái Vạn đã tìm được 11
mảnh, còn ở Cái Lăng tìm được 43 mảnh, trong đó có cả mảnh khuôn đúc "liên
hoàn" giống Bưng Thơm, Bưng Bạc.
- Cùng với khuôn đúc, ở Cái Vạn đã tìm được1 rìu đồng và
1 giáo đồng.
- Xuất hiện loại công cụ hình rìu nhưng lưỡi tày giống
với Bưng Thơm, Bưng Bạc.
- Xuất hiện những hạt chuỗi làm bằng mã não và thủy tinh
ở Cái Lăng.
- Đồ gốm xuất hiện loại đồ đựng miệng loe, bản miệng
rộng, bên trên có trang trí văn in hoa thị hoặc in mép vỏ sò, là kiểu trang trí
tiêu biểu của thời đại Sắt ở khu vực ngập mặn ven biển.
- Xuất hiện gốm Giồng Cá Vồ ở lớp trên của Cái Vạn và lớp
dưới Cái Lăng.
- Về diện mạo kinh tế, bên cạnh những nét cơ bản của giai
đoạn trước (khai thác nguồn lợi sông biển, đánh bắt thủy hải sản, chế tác đồ
đá, làm mộc tạo dựng nhà sàn, dệt vải và làm gốm), người Cái Lăng đã biết đến
kĩ nghệ đúc đồng (Trịnh Sinh và nnk 2001). Cái Vạn, Cái Lăng giai đoạn này
chính là những làng thủ công đúc đồng thời sơ sử.
Từ những đặc điểm vừa nêu, chúng ta có thể thấy nhóm Cái
Lăng chính là sự phát triển tiếp nối của nhóm di tích Đá mới Cái Vạn. Nhóm di
tích này đã bước vào thời đại đồ đồng phát triển, thậm chí đã sang sơ kì Sắt,
tồn tại trong khoảng 3000 - 2500 năm BP 5 .
3.2.2. Nhóm Gò Me
Cũng phân bố trong vùng ngập mặn Nhơn Trạch, chỉ cách Cái
Lăng khoảng 15km về phía tây nam, còn có một nhóm cư dân khác sinh sống, đó là
nhóm Gò Me. Cho đến nay mới chỉ phát hiện duy nhất địa điểm Gò Me thuộc nhóm
này.
Di tích Gò Me là một giồng cát nổi cao giữa vùng ruộng
trũng và gần nguồn nước ngọt (rạch Ông Kèo). Kết quả thám sát và khai quật cho
thấy đây là di chỉ mộ táng, có tầng văn hóa dày khoảng 0,6m, bên trong chứa các
di vật như đồ đá, đồ gốm, đồ xương và đồ kim loại, không hề thấy dấu vết của
cọc gỗ hay đồ gỗ. Đồ đá có các loại hình như rìu có vai, rìu tứ giác, đục, dao
hái, giáo, bàn mài, bàn nghiền, lõi vòng, vòng tay, hạt chuỗi. Đồ gốm có
các loại như bi gốm, gốm mài tròn, trụ gốm (giá kê?), cà ràng và gần 30.000 mãnh vỡ của các loại
đồ đựng khác nhau. Đồ xương có 1 mũi lao có ngạnh và một số xương răng động vật
của các loại thú, chim, cá. Về đồ kim loại có 1 rìu đồng nguyên, 1 lục lạc và
mảnh vỡ của 2 rìu đồng khác tìm được trong hai mộ đất. Về hiện vật liên quan
đến nghề đúc đồng, có 1 mảnh khuôn đúc rìu bằng đá và 1 mảnh nồi rót bằng gốm
(Phạm Quang Sơn 2008).
Từ tư liệu trên, có thể nhận thấy một số điểm đáng chú ý
của di tích Gò Me. Trước hết, tuy phân bố trong vùng
ngập mặn nhưng cư dân ở đây không chọn lối cư trú trên nhà sàn mà cư trú trên
nền đất. Kết cấu tầng văn hóa ở đây cho thấy đó là những lớp cư trú chồng lên
nhau. Ở Gò Me cũng không tìm thấy các loại công cụ bằng gỗ vốn phổ biến ở các
di tích Cái Vạn, Cái Lăng gần đó. Tuy vậy, mang đặc điểm chung của vùng ngập
mặn, đồ gốm Gò Me cũng có một số lượng đáng kể gốm xốp, là loại gốm xương đen
pha nhiều bã thực vật. Đáng chú ý là trong sưu tập gốm Gò Me có loại gốm điển
hình của nhóm Rạch Núi, đó là loại gốm thô xốp, miệng đứng hoặc hơi khum, thân
hình cầu, đáy tròn. Hoa văn trang trí trên gốm Gò Me có nhiều nét giống với các địa điểm An Sơn và Lộc Giang ở
Long An. Tuy không có đồ gỗ nhưng ở Gò Me lại tìm thấy đồ xương, một đặc điểm
giống với nhóm di tích Rạch Núi và An Sơn, Lộc Giang.
Về kinh tế, ở Gò Me có các nghề thủ công như chế tác đá,
chế tác đồ xương, dệt vải và sản xuất gốm. Bên cạnh đó cư dân Gò Me cũng đã
biết đến đúc đồng. Những tàn tích xương răng động vật trong di chỉ cho thấy
kinh tế khai thác tự nhiên vẫn giữ vai trò quan trọng.
Về niên đại, các tác giả khai quật cho rằng di tích Gò Me
có hai giai đoạn phát triển sớm muộn khác nhau: giai đoạn sớm từ 3000 - 2700
năm BP, giai đoạn muộn từ 2700 - 1800 năm BP, căn cứ vào niên đại C14 muộn nhất
của di tích là 1820 ± 60 BP, trong đó giai đoạn sớm có nhiều nét giống với giai
đoạn muộn của An Sơn, Rạch Núi (Phạm Quang Sơn 2008). Có thể nói, nếu ý kiến
cho rằng giai đoạn sớm của Gò Me tương đương với giai đoạn muộn của An Sơn hay
Rạch Núi là khá xác đáng, thì việc định một khung niên đại quá dài cho giai
đoạn sau lại không hợp lý bởi nó không phù hợp với độ dày của tầng văn hóa. Mặt
khác, xem xét tổng thể di vật của địa điểm này, chúng tôi cũng không thấy có
loại hình hiện vật nào biểu hiện cho một niên đại muộn như vậy. Theo chúng tôi,
Gò Me là di tích thời đại Kim khí, tồn tại trong khoảng 3000 - 2500 năm BP. Di
tích này có mối quan hệ mang tính truyền thống với các di tích như An Sơn hay
Lộc Giang, là sự lan tỏa xuống vùng đất thấp ven biển của nhóm Đá mới ven sông
Vàm Cỏ.
3.2.3. Nhóm di tích Bưng Thơm - Bưng Bạc
Gồm hai địa điểm Bưng Bạc và Bưng Thơm, phân bố gần thành
phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Hai di tích phân bố trong vùng đầm lầy cổ
thuộc địa hình đồng bằng cận biển, ven rìa vùng đất đỏ bazan, với hệ thống dòng
chảy tự nhiên ngang dọc tạo hệ sinh thái rừng rậm ẩm ướt khác hẳn hệ sinh
thái khô cạn trên địa hình đồi gò xung quanh. Tuy có vị trí gần biển (cách biển
chỉ từ 7 - 10km), nhưng nhóm di tích này
lại không bị ảnh hưởng của chế độ thủy triều mà chịu tác động của nước ngập
theo mùa (khi các dòng chảy tự nhiên đổ nước vào mùa lũ). Kết quả thám sát và
khai quật đã chỉ ra một số nét đặc trưng của nhóm di tích.
Về phương thức cư trú, cũng như ở Cái Vạn, đây là nhóm cư
dân sống trên nhà sàn ven sông/rạch. Do dấu tích nhà sàn ở Bưng Bạc, Bưng Thơm
được bảo tồn tốt, nên có thể nhận biết khá rõ về kiểu nhà sàn này. Đó là loại
nhà sàn thấp, có thềm sân nhỏ bó bằng cọc ngắn, cửa quay hướng đông, gắn với
các rạch nước. Kết cấu nhà khá đơn giản, bao gồm hệ cọc đỡ sàn và cột gác mái
bằng cành hoặc thân cây nhỏ, đường kính dưới 25cm. Sàn, mái cũng là cành, thân
cây hoặc ván, liên kết với hệ thống cọc đỡ sàn và cột gác mái bằng dây kết hợp
với ngoàm hoặc chạc cây hình chữ Y.
Về di vật, trong tầng văn hóa dày khoảng 50 - 60cm, bên
cạnh di tích cọc, ván... của nhà sàn, đã tìm thấy các di vật như đồ đá, đồ
đồng, đồ gốm, đồ gỗ và xương răng động vật. Đồ đá ở Bưng Thơm, Bưng Bạc có
số lượng khá lớn, với đặc trưng là sự chiếm ưu thế gần như tuyệt đối của loại
công cụ lưỡi tày 6 hình rìu, hình
chày. Khuôn đúc cũng tìm thấy khá phổ biến, đặc biệt là sự có mặt của loại
khuôn đúc liên hoàn. Ở Bưng Bạc còn tìm thấy rất nhiều phác vật, phế vật chế
tác vòng tay. Đồ gỗ ở đây có loại hiện vật hình chữ T khá độc đáo, bên cạnh đó
là những mái chèo cầm tay cũng lần đầu được phát hiện; ngoài ra là các loại
hình như dao, chày, mũi nhọn, thoi dệt. Đồ đồng có số lượng không nhiều, chỉ có
1 rìu xòe cân, 1 chiếc chàng và 2 vòng đồng. Đồ gốm có số lượng khá lớn, trong
đó đáng chú ý là sự chiếm ưu thế của loại đồ đựng chân cao (bát bồng). Hoa văn
trang trí trên gốm Bưng Thơm, Bưng Bạc cũng rất đáng chú ý. Trước hết là kiểu
trang trí khắc vạch trên nền chải ở các loại hình nồi/vò đáy tròn, với các
mô-típ chữ S nằm ngang hoặc đối đầu nhau. Đặc điểm nổi nét khác về gốm Bưng
Bạc, Bưng Thơm là kiểu trang trí tô, vẽ
màu trên bát bồng. Người xưa đã kết hợp tô màu với vẽ nét tạo thành những đồ án
hoàn chỉnh phủ toàn thân đồ đựng rất đẹp mắt (Vũ Quốc Hiền 2004). Bên cạnh đó,
một điểm đáng chú ý là ở Bưng Thơm, Bưng Bạc đã tìm thấy vỏ thóc (Hồ Khắc Bửu
2002: 82).
Từ những tài liệu vừa trình bày, không khó để nhận ra
những nét tương đồng giữa Bưng Thơm - Bưng Bạc với nhóm di tích Cái Lăng - Cái
Vạn. Về phương thức cư trú, cả hai nhóm cùng có phương thức cư trú trên nhà sàn
ven sông rạch. Về di vật, cả hai nhóm cùng có loại khuôn đúc liên hoàn, các
loại vòng tay, lõi vòng và công cụ hình rìu lưỡi tày. Đồ gốm Bưng Bạc, Bưng
Thơm cũng có loại gốm mịn trang trí khắc vạch trên nền chải rất giống Cái Vạn,
Cái Lăng. Đặc biệt là cả hai nơi đều tìm thấy gốm màu. Ở cả hai nhóm đều
có mặt phổ biến công cụ, dụng cụ bằng gỗ, với các loại hình rất giống nhau. Chính từ những nét tương đồng đó mà Hồ Khắc
Bửu đã đi đến nhận xét rằng cư dân Bưng Bạc, Bưng Thơm có mối quan hệ huyết tộc với cư dân ở Cái
Lăng (Hồ Khắc Bửu 2002: 76). Tuy vậy, cũng phải thấy rằng, so với nhóm Cái
Lăng, nhóm di tích Bưng Thơm - Bưng Bạc có một trình độ phát triển cao hơn hẳn,
thể hiện ở sự quy chuẩn của nhà sàn, của những bằng chứng rõ ràng về tính chất
công xưởng sản xuất mang tính chuyên hóa với các sản phẩm như vòng tay,
bát bồng hay đồ kim loại. Như vậy, từ Cái Vạn tới Bưng Bạc - Bưng Thơm, chúng ta thấy một sự chuyển đổi
trong diện mạo kinh tế, với vai trò ngày càng rõ rệt của kinh tế sản xuất.
Về niên đại, đa số các nhà nghiên cứu Việt Nam xếp Bưng
Bạc - Bưng Thơm thuộc sơ kì thời đại Sắt, khoảng thế kỉ 5 - 4 BC (Hồ Khắc Bửu
2002; Vũ Quốc Hiền 2004; Phạm Đức Mạnh 1996). Tuy nhiên, Nishimura, dựa trên
việc nghiên cứu so sánh chi tiết các sưu tập gốm ở miền Nam Việt Nam, lại cho
rằng Bưng Bạc - Bưng Thơm chính là sự phát triển tiếp nối của thời Đá mới và
vẫn nằm trong thời đại Đồng thau (Nishimura 2005:110 - 115, 137). Sau khi
nghiên cứu sưu tập hiện vật tại hai địa điểm này, đặc biệt là so sánh với các
di tích như Cái Vạn, Cái Lăng, chúng tôi cho rằng nhóm Bưng Bạc - Bưng Thơm tồn
tại trong khoảng 3000 - 2500 năm BP, phát triển từ thời đại Đồng thau sang sơ
kì Sắt 6 .
3.3. Những cư dân mới đến
Với những nét đặc thù về vị trí địa lý và môi trường sinh
thái, vùng ngập mặn Đông Nam Bộ không chỉ thu hút các nhóm cư dân vùng cao Đồng
Nai, Vàm Cỏ đến chiếm lĩnh và khai thác, mà vào sơ kì Sắt còn có những nhóm cư
dân từ nơi khác tới đây sinh cư lập nghiệp, góp phần tạo nên không gian sống
hết sức năng động của tiểu vùng văn hóa này. Di tồn vật chất mà các nhóm cư dân
nơi đây để lại rất phong phú và đa dạng, thể hiện qua hai nhóm di tích khảo cổ
ở Cần Giờ và Long Sơn.
3.3.1. Nhóm Cần Giờ
Nhóm này gồm hơn 20 di tích, phân bố trong vùng ngập mặn
ven biển thuộc huyện Cần Giờ (Thành phố Hồ Chí Minh), vùng "cửa
ngõ" ra biển Đông của miền Đông Nam Bộ. Trên địa bàn Cần Giờ có nhiều gò nổi mà dân địa phương gọi là
giồng (đất hoặc cát), có độ cao từ 1 - 3m so với mực nước biển. Trên các giồng này thường có di tích khảo
cổ. Cho đến nay, ở Cần Giờ đã phát hiện được 26 di tích khảo cổ học phân
bố trên các giồng/gò đất ven sông thuộc xã Lý Nhơn và xã Long Hòa, trong đó
tiêu biểu là các di tích như Giồng
Cá Vồ, Giồng Phệt hay Khu Bao Đồng (Nguyễn Thị Hậu 2012). Dựa trên kết quả khai
quật, có thể thấy đặc trưng của nhóm di tích này như sau:
Về tính chất di tích, có thể nói đây là nhóm có số lượng
di tích khá lớn với ba loại hình chính, đó là: di chỉ cư trú và sản xuất gốm,
di tích sản xuất gốm, di chỉ cư trú và mộ táng với hai loại hình táng tục mộ
chum và mộ đất, trong đó mộ chum là chủ đạo.
Di vật phát hiện trong nhóm di tích này rất phong phú và
đa dạng về loại hình và chất liệu. Về đồ gốm, xuất hiện "gốm cứng văn
in" với loại hình đặc trưng là "bình Giồng Cá Vồ", cùng với đó
là nhiều loại hình mới, như mô hình tháp, tượng chim, nắp gốm, ấm gốm; xuất
hiện kĩ thuật làm gốm bằng khuôn, thể hiện trên loại "bình Giồng
Phệt". Hoàn toàn không thấy có mặt công cụ đá trong nhóm di tích này, thay
vào đó là các loại đồ trang sức như hạt chuỗi, vòng tay, khuyên tai (khuyên tai
ba mấu hoặc hai đầu thú) làm bằng đá mã não, đá nephrite hay đá garnet (ngọc
hồng lựu). Đồ đồng có các loại như vòng tay, lục lạc, rìu, giáo. Đồ sắt có các loại
như giáo, kiếm, dao găm, dao chữ S, lưỡi câu. Đồ thủy tinh đa số là những hạt chuỗi đơn sắc, bên cạnh đó là vòng tay hay
khuyên tai. Đáng chú ý là sự xuất hiện của những hiện vật vàng trong nhóm di
tích này, với các loại hình như hạt chuỗi, nhẫn. Ngoài ra còn có đồ xương và vỏ nhuyển thể
được dùng để chế tác vòng tay hay hạt chuỗi.
Về phương thức cư trú, nhóm cư dân này không ở trên nhà
sàn ven sông như nhóm Rạch Lá - Cái Vạn hay Bưng Thơm - Bưng Bạc mà họ cư trú
trên các giồng đất cao ven biển, ứng phó với nước ngập bằng cách gia cố nền cư
trú (địa tầng các địa điểm này đều có những vệt đất/nền đất cứng).
Về phương thức kinh tế, có thể thấy nhóm cư dân này có
những hoạt động kinh tế khá đa dạng. Trước hết, đây là những người thợ sản
xuất gốm chuyên nghiệp, thể hiện ở các di tích như Khu Bao Đồng, Giồng Cá Vồ (lớp dưới) hay Giồng Phệt (lớp
dưới). Có thể nói quy mô sản xuất gốm của các di tích này đã đạt tới mức công
xưởng, lớn hơn rất nhiều các địa điểm có hoạt động sản xuất gốm đã biết trong
giai đoạn trước như Cái Lăng, Cái Vạn hay Bưng Thơm - Bưng Bạc, với những sản
phẩm chuyên biệt, đó là bình Giồng Cá Vồ và bình Giồng Phệt. Bên cạnh sản xuất
gốm, người Cần Giờ còn chế tác thủy tinh, chế tác đồ trang sức bằng đá hay vỏ
nhuyển thể. Trao đổi, buôn bán cũng là một trong những thế mạnh của nhóm cư dân
này, thể hiện ở sự có mặt không ít của những hiện vật ngoại lai (Đặng Văn Thắng
và nnk 1998: 347). Tóm lại, sự xuất hiện của lớp cư dân Cần Giờ đã đánh dấu một
sự thay đổi mang tính thời đại tại vùng ngập mặn này, từ phương thức kinh tế
khai thác là chủ đạo sang phương thức kinh tế sản xuất và thương mại (Vũ Quốc
Hiền 2008: 125).
Về niên đại, ý kiến chung hiện nay cho rằng nhóm di tích
Cần Giờ nằm trong khung niên đại từ 3000 - 2000 năm BP , trong đó di tích Khu
Bao Đồng và Giồng Cá Vồ (lớp dưới - cư trú) thuộc giai đoạn sớm, nằm trong
khoảng 3000 - 2500 năm BP (Đặng Văn Thắng, Nguyễn Thị Hậu 2006), Giồng Cá
Vồ (lớp trên - mộ táng) và Giồng Phệt nằm trong khoảng 2500 - 2000 năm BP 7 (Đặng Văn Thắng và nnk 1998: 309). Tuy nhiên, theo chúng
tôi giới hạn dưới như vậy là hơi sớm so với tổng thể di tích và di vật tìm
được. Cần phải nhớ rằng, ngay từ lớp dưới của các địa điểm Khu Bao Đồng hay
Giồng Cá Vồ đã xuất hiện loại gốm
cứng văn in, một loại gốm chỉ xuất hiện ở Việt Nam từ sơ kì Sắt. Nơi có truyền
thống gốm cứng văn in sớm và gần Việt Nam nhất là Nam Trung Quốc. Tại đây, gốm
cứng văn in đã xuất hiện manh nha trong một số địa điểm hậu kì Đá mới ở Giang
Tây, Phúc Kiến và Quảng Đông, phát triển cực thịnh vào thời Xuân Thu (thế
kỉ 8 - 5 BC) và suy thoái dần trong thời Chiến Quốc (thế kỉ 5 - 3 BC) (Phùng Tiên Minh 1998: 41). Do đó, theo
chúng tôi, giai đoạn sớm của nhóm di tích này nằm trong khoảng 2700 - 2500 năm
BP thì hợp lý hơn. Tóm lại, đây là nhóm di tích thuộc thời đại Sắt, tồn tại
trong khoảng thời gian khá dài từ 2700 - 2000 năm BP, trong đó có một giai đoạn
tương đương với Cái Lăng - Cái Vạn, Gò Me và Bưng Thơm - Bưng Bạc.
3.3.2. Nhóm Long Sơn
Đối diện với Cần Giờ, ở phía bắc của vịnh Gành Rái là đảo
Long Sơn, thuộc thành phố Vũng Tàu. Cũng
như Cần Giờ, đảo Long Sơn bị chia cắt với đất liền bởi hệ thống chi lưu của
sông Thị Vải. Trên địa bàn đảo Long
Sơn, bên cạnh thảm rừng ngập mặn và mạng lưới kênh rạch chằng chịt, nổi lên
những giồng đất/cát cao khoảng 1 - 2m so với xung quanh. Trên các giồng đất/cát
này, cho đến nay các nhà khảo cổ đã phát hiện được khá nhiều di tích khảo cổ
học, trong đó tiêu biểu là địa điểm Giồng Lớn, Giồng Ông Trượng và Bãi Cá
Sóng (Vũ Quốc Hiền và nnk 2008; Trương Đắc Chiến 2014; Lê Văn Chiến và nnk 2014). Qua kết quả khảo sát và khai
quật, có thể nhận ra một số đặc trưng của nhóm di tích này.
Về tính chất di tích, nhóm này cũng có 3 loại cơ bản, đó
là: di chỉ cư trú và mộ táng, di chỉ sản xuất gốm, di tích mộ táng với hai loại
hình mộ đất và mộ chum, trong đó mộ đất là chủ đạo.
Di vật tìm được khá phong phú về loại hình và chất liệu.
Về đồ gốm, ở đây cũng tìm thấy các loại gốm đặc trưng của vùng Cần Giờ như
bình Giồng Cá Vồ, bình Giồng Phệt, các loại cà ràng có trang trí, các kiểu nắp gốm, chai gốm, mô hình tháp, tượng
chim, linga. Về đồ đá, có các loại đồ trang sức như hạt chuỗi, vòng tay làm bằng đá mã não và đá
nephrite. Đồ đồng có các loại như vòng tay, lục lạc. Đồ sắt có các loại như giáo, kiếm, dao găm,
dao chữ S, đục. Đồ thủy tinh chủ yếu là những hạt chuỗi đơn sắc. Đồ vàng
có số lượng và loại hình khá phong phú, như: mặt nạ, linga, hạt chuỗi, khuyên
tai, lá vàng.
Về phương thức cư trú, cũng như Cần Giờ, nhóm cư dân này
cư trú trên các giồng đất cao ven biển, ứng phó với nước ngập bằng cách
gia cố nền cư trú (khá rõ ở Giồng Ông Trượng) (Lê Văn Chiến và nnk 2014).
Về đời sống kinh tế, cũng như Cần Giờ, có thể nhận thấy
đây là nhóm cư dân không làm nông nghiệp. Họ vừa sản xuất gốm, vừa chế tác đồ
trang sức bằng thủy tinh và đá quý. Họ cũng khai thác nguồn lợi của vùng sinh
thái ngập mặn để phục vụ cho nhu cầu cuộc sống của mình, mà các di tích động
vật trong địa tầng Giồng Ông Trượng là những bằng chứng rõ nét. Thương mại cũng
là một thế mạnh của nhóm cư dân này, thể hiện ở vị trí địa lý của nó cũng như
những hiện vật có nguồn gốc ngoại lai tìm được trong các địa điểm khảo cổ.
Từ những điều vừa trình bày, có thể nhận thức, nhóm di
tích Long Sơn tương đồng với nhóm Cần Giờ trên nhiều phương diện. Tuy nhiên,
không khó để nhận ra những nét muộn hơn ở nhóm di tích này. Giồng Ông Trượng là
di chỉ sản xuất gốm, nhưng loại hình chủ yếu lại là kiểu bình Giồng Phệt. Trong
di tích mộ táng Giồng Lớn có nhiều hiện vật giống Giồng Cá Vồ và Giồng Phệt,
nhưng đặc điểm muộn hơn cũng khá rõ. Về đồ gốm có loại gốm xương đen áo trắng,
cổ và miệng hẹp, có nắp Óc Eo điển hình. Đặc biệt là sưu tập đồ vàng có loại
hình phong phú hơn Giồng Cá Vồ rất nhiều, ngoài đồ trang sức còn xuất hiện
các loại hình mới như khuyên tai, mặt nạ, linga..., được chế tác với một trình
độ điêu luyện hơn.
Về niên đại, chúng tôi cho rằng nhóm di tích Long Sơn nằm
trong khung niên đại từ thế kỉ 3 BC đến khoảng thế kỉ 1 - 2 AD 8 , tương đương với
giai đoạn muộn của Cần Giờ và đã bắt đầu phát triển sang Óc Eo sớm.
Tóm lại, nhóm Long Sơn chính là sự lan tỏa của nhóm Cần
Giờ bên kia vịnh Gành Rái. Có lẽ vào giai đoạn muộn, khi những nguồn lực (nguồn
sét, củi đốt, diện tích có thể cư trú) ở Cần Giờ bắt đầu trở nên hạn hẹp, những
cư dân Giồng Cá Vồ, Giồng Phệt đã sang cư trú trên đảo Long Sơn, nơi có các
điều kiện sinh thái tương đồng với Cần Giờ, để tiếp tục thực hiện các hoạt động
sản xuất và buôn bán của mình.
4. Kết luận
4.1 . Trong khoảng thời gian từ 3500 năm BP cho đến thế kỉ 1
- 2 AD, tức là từ hậu kì Đá mới cho tới sơ kì Sắt, vùng ngập mặn Đông Nam Bộ đã
được các nhóm cư dân khác nhau đến khai phá và chiếm lĩnh. Khởi đầu là những cư
dân Cái Vạn, Rạch Núi, tiếp đó là những cư dân Cái Lăng, Gò Me, Bưng Thơm -
Bưng Bạc và cuối cùng là những cư dân ở Cần Giờ, Long Sơn. Quá trình này không
chỉ là sự lan tỏa của các cư dân vùng cao ra phía biển mà còn là sự thâm nhập
của các nhóm dân cư từ phía biển vào đất liền.
4.2. Những di vật tìm được rất phong phú về số lượng, đa dạng
về loại hình và chất liệu, thể hiện những đặc trưng văn hóa của vùng ngập mặn
Đông Nam Bộ.
- Về đồ gốm, có thể thấy nét đặc trưng nổi bật là sự xuất
hiện và chiếm tỉ lệ ngày càng lớn của gốm xốp trong các di tích vùng ngập mặn.
Đây là loại gốm pha nhiều bã thực vật và vỏ nhuyễn thể, xương gốm đen, xốp. Gốm
thường được nặn tay, tạo nên các loại hình chum, vò kích thước lớn dùng để chứa
nước ngọt hoặc lương thực. Bên cạnh các loại hoa văn trang trí truyền thống của
giai đoạn trước là thừng, chải, khắc vạch với các mô-típ khác nhau, ở nhóm này
cón xuất hiện loại văn in hình hoa thị và in mép vỏ sò, mang đặc trưng của vùng
ven biển. Gốm vẽ màu cũng là một nét đáng chú ý trong các di tích ngập mặn, đặc
biệt là những hiện vật gốm vẽ màu ở Bưng Thơm - Bưng Bạc. Sự xuất hiện và
lan tỏa của gốm cứng văn in Cần Giờ - Long Sơn cũng là một nét đặc trưng
riêng có của khu vực này. Kĩ thuật làm gốm bằng khuôn cũng lần đầu được phát hiện ở khu vực
này, thể hiện qua loại bình Giồng Phệt.
- Đồ đá có số lượng lớn trong các di tích và giữ vai trò
quan trọng trong đời sống, ngay cả khi đồ đồng đã xuất hiện. Các công cụ sản
xuất như rìu, cuốc, đục, bàn mài xuất hiện phổ biển trong các di tích Rạch Lá,
Cái Vạn, Rạch Núi, Gò Cây Me... cùng với đó là khá nhiều bàn nghiền và chày
nghiền làm bằng những hòn cuội với kích cỡ khác nhau, mang chức năng nghiền hạt
quả hoặc các nhuyễn thể như sò, ốc trong môi trường ngập mặn. Những tia sáng
của văn hóa đồ đá chỉ tắt hẳn khi những cư dân này bước vào thời đại Sắt và lan
tỏa xa hơn về phía biển, với hiện tượng những công cụ vốn là rìu đá đã bị mài
tày hết lưỡi để sử dụng với chức năng khác.
- Bên cạnh đó, trong các di tích vùng này thường tìm thấy
khá nhiều các công cụ làm bằng gỗ, với các loại hình như leng, xẻng, cuốc, mái
chèo, kiếm, mũi nhọn, suốt đan lưới... Đây chính là những công cụ, dụng cụ được
người xưa sáng tạo ra để tương thích với môi trường sinh thái ngập mặn, góp
phần tạo nên đặc trưng của tiểu vùng văn hóa này. Cùng với những di vật này,
trong các địa điểm ngập mặn còn tìm thấy những cọc gỗ kích thước lớn, vạt nhọn
một đầu, vốn là dấu tích của những cọc nhà sàn - một kiểu cư trú đặc trưng của
cư dân vùng nước nổi.
- Việc chế tác công cụ và đồ trang sức từ xương và vỏ
nhuyễn thể cũng là một nét đặc trưng của vùng ngập mặn. Truyền thống này
bắt đầu từ nhóm cư dân Rạch Núi, với việc chế tác các rìu vai, mũi lao và hạt chuỗi làm từ xương động vật.
Người Cần Giờ thì phát triển nghề chế tác đồ trang sức từ vỏ nhuyễn thể biển.
- Ngoài những di vật nói trên, ở vùng ngập mặn cũng tìm
được khá nhiều khuôn đúc đồng, đặc biệt là loại khuôn đúc "liên
hoàn". Điều này cho thấy cư dân vùng ngập mặn Đông Nam Bộ đã nắm bắt
một cách thuần thục kĩ thuật luyện kim. Những phát hiện khuôn đúc ở Cái Vạn,
Cái Lăng và đặc biệt là ở Bưng Thơm - Bưng Bạc đã khiến nó thực sự trở thành
một trung tâm của thời đại kim khí Đông Nam Bộ.
- Cùng với những loại hình và chất liệu truyền thống, cư
dân ở đây còn bắt đầu chế tác và sử dụng những loại hình và chất liệu mới.
Trong nhóm di tích Cần Giờ - Long Sơn đã tìm được những loại hiện vật mới lạ
như nắp, ấm, mô hình tháp bằng gốm; các loại khuyên tai ba mấu hoặc hai đầu thú
làm bằng đá ngọc hay thủy tinh; các loại vũ khí, công cụ bằng sắt như kiếm,
giáo, dao găm, lưỡi câu. Đặc biệt là sự xuất hiện của những hiện vật bằng vàng
trong nhóm di tích này, với các loại hình như hạt chuỗi, nhẫn, khuyên tai và
mặt nạ.
4.3 . Những di tích, di vật tìm được còn cho thấy mối quan hệ
giữa vùng ngập mặn Đông Nam Bộ với các di tích ở vùng cao Đồng Nai, Vàm
Cỏ, với văn hóa Sa Huỳnh ở miền Trung, với nhiều địa điểm ở Đông Nam Á, thậm
chí cả mối quan hệ với Ấn Độ và Nam Trung Quốc.
- Mối quan hệ giữa vùng ngặp mặn Đông Nam Bộ với các di
tích ở trung lưu sông Đồng Nai là rất mật thiết, bởi vùng này chính là bàn đạp
tiến xuống khai phá vùng ngập mặn của một bộ phận cư dân mang truyền thống Đồng
Nai. Mối quan hệ giữa hai khu vực diễn rất chặt chẽ, trong một khoảng thời gian
dài, qua nhiều giai đoạn từ Bến Đò, Bình Đa, đến Dốc Chùa, Cù Lao Rùa, rồi tới Long
Bửu, Xuân Lộc. Tuy nhiên, tùy vào từng giai đoạn mà tính chất và mức độ có khác
nhau.
- Vùng ngập mặn Đông Nam Bộ còn có mối quan hệ mang tính
truyền thống với các di tích ở vùng cao ven sông Vàm Cỏ Đông là An Sơn, Lộc
Giang, bởi từ các địa điểm này, một bộ phận cư dân đã tiến xuống khai phá vùng
ngập mặn cận biển, tạo nên nhóm di tích Rạch Núi thời Đá mới và góp phần hình
thành di tích Gò Me thời Kim khí.
- Không chỉ có những quan hệ văn hóa với các khu vực
trong phạm vi Nam Bộ, nhóm di tích vùng ngập mặn còn có mối quan hệ rộng rãi
với các khu vực khác, mà nổi bật trước hết là với văn hóa Sa Huỳnh ở miền
Trung. Mối quan hệ này được thể hiện rõ nét qua nhóm di tích Cần Giờ - Long
Sơn, với đặc trưng về táng tục
mộ chum, với sự có mặt của các loại hiện vật điển hình như khuyên tai hai đầu
thú, khuyên tai ba mấu, các
loại đồ gốm hình con tiện hay những hạt chuỗi và khuyên tai bằng vàng. Hiện vẫn đang còn nhiều ý kiến về bản chất của mối
quan hệ này, nhưng có thể thấy sự đóng góp của chủ nhân văn hóa Sa Huỳnh đối
với sự phát triển của vùng ven biển Đông Nam Bộ không phải là nhỏ.
- Ngoài văn hóa Sa Huỳnh, nhóm di tích vùng ngập mặn Đông
Nam Bộ còn có mối quan hệ rộng rãi trên bình diện Đông Nam Á, thể hiện ở những
điểm sau:
Trước hết, những khuôn đúc rìu ở Bưng Thơm - Bưng Bạc có
những điểm gần với những tiêu bản ở các địa điểm Non Nok Tha (Thái Lan) và
Samrong Sen (Campuchia). Phong cách trang trí gốm màu Bưng Bạc khá giống với di tích Ban Chiang (Thái Lan)
(Bùi Chí Hoàng và nnk 2012: 328).
Cụm mộ chum Cần Giờ và khu mộ táng Giồng Lớn (Long Sơn)
có thể so sánh với những di tích mộ chum ở Palawan, Tabon (Philipines) hay
Gilimanuk (Indonesia). Không chỉ giống nhau về táng tục, mà đồ tùy táng tại các
địa điểm này cũng khá giống Giồng Cá Vồ. Đó là sự có mặt của khuyên tai hai đầu
thú, khuyên tai ba mấu, hạt chuỗi đá quý và thủy tinh. Đồ án hoa văn trên đồ
gốm cũng khá giống kiểu "sóng biển mưa rào" phổ biến ở Cần Giờ và
Long Sơn. Bên cạnh đó, ở các địa điểm này còn có những nắp gốm trang trí hình
chim phảng phất với loại hình tìm được ở Giồng Cá Vồ và Giồng Lớn. Đặc biệt là
công cụ bằng vỏ nhuyễn thể ở Tabon giống hệt với công cụ ở Giồng Cá Vồ. Mặt nạ
vàng Giồng Lớn có thể so sánh với đồng loại phát hiện ở Gilimanuk. Hạt chuỗi và
lá vàng trổ lỗ ở Giồng Lớn và Giồng Cá Vồ khá giống với tiêu bản ở Palawan.
Không chỉ có mối quan hệ với Đông Nam Á hải đảo, mà nhóm
di tích Cần Giờ - Long Sơn còn có những mối liên hệ với các di tích sâu trong
lục địa. Những bát bồng chân trụ hay vò miệng loe của Giồng Lớn, Giồng Cá Vồ
rất giống với địa điểm Prohear (Campuchia). Ở Prohear cũng tìm được kiểu khuyên
tai vàng có vòng ren rất giống với những chiếc ở Giồng Lớn và Lai Nghi. Kiểu
hạt chuỗi vàng hình thoi, chóp đôi ở Giồng Cá Vồ,
Giồng Lớn cũng đã tìm được ở Noen U-loke, Ban Don Ta Phet hay Khao Sam Kaeo (Reinecke A. et al 2009a; Higham C. 2014).
- Với vị trí chiến lược trên con đường giao thương Đông -
Tây, vùng ngập mặn Đông Nam Bộ còn có những mối quan hệ với hai trung tâm
lớn của văn minh nhân loại, đó là Ấn Độ và Trung Quốc.
Mối quan hệ này chủ yếu diễn ra vào thời đại đồ Sắt, với
sự xuất hiện của nhóm di tích Cần Giờ và Long Sơn. Trong nhóm di tích này đã có những mối liên
hệ với Ấn Độ, thể hiện qua sự có mặt khá phổ biến của các loại đồ trang sức
bằng mã não, thủy tinh, sự xuất hiện của loại gốm được cho là mô hình tháp,
mang ý nghĩa tôn giáo. Việc tìm được một tiêu bản linga bằng vàng ở Giồng Lớn
cũng góp phần ủng hộ cho nhận định này 9 .
Trong khi đó, mối liên hệ với Nam Trung Quốc được thể
hiện qua sự du nhập của truyền thống gốm cứng văn in ở Cần Giờ, sự xuất hiện
tiền Ngũ Thù và những chiếc mặt nạ vàng ở Giồng Lớn.
4.4. Qua những di tích vùng ngập mặn ven biển này, chúng ta nhận
thấy được bằng chứng của một quá trình phát triển lên văn hóa Óc Eo từ
thời tiền - sơ sử. Có thể nói, nhiều đặc trưng cơ bản của văn hóa Óc Eo đã được hình thành ngay tại khu vực
này, ví dụ như truyền thống ở nhà sàn trên vùng nước nổi, truyền thống chế tác
đồ gỗ, chế tác đồ trang sức bằng vàng và thủy tinh. Với vị trí chiến lược của
mình, chính vùng vịnh Gành Rái đã trở thành một cảng thị sơ khai, nơi thu hút
các tàu buôn quốc tế đến đây buôn bán. Một tầng lớp làm dịch vụ thương mại đã
xuất hiện, là cầu nối giữa các cư dân ở lưu vực sông Đồng Nai với những thương
nhân nước ngoài. Với Cần Giờ - Long Sơn, ta có thể thấy được hình ảnh của một
Óc Eo sơ khởi 10 .
Tất cả những điều kể trên đã tạo lập vùng ngập mặn ven
biển Đông Nam Bộ trở thành một tiểu vùng văn hóa riêng biệt, có vai trò quan
trọng không chỉ trong tiến trình phát triển của riêng nó mà cho cả khu vực Nam
Bộ, không chỉ trong phạm trù tiền - sơ sử mà còn là những tác nhân góp phần
tạo nên văn hóa Óc Eo, nền văn hóa vật chất của quốc gia cổ Phù Nam. Tóm
lại, trong quá trình lấn biển cả ngàn năm, cư dân vùng ngập mặn đã đạt được
những thành tựu to lớn, chuẩn bị những tiền đề cần thiết để tiếp tục tràn xuống
khai phá vùng châu thổ sông Cửu Long, tham gia tạo lập nên văn hóa Óc Eo nổi
tiếng.
Chú thích:
1. Địa điểm này đã bị phá hủy, không còn khả năng nghiên
cứu. Những gì còn lại là 9 cọc gỗ, 19 rìu vai, 5 rìu tứ giác và một ít mảnh gốm thu được trong đợt khảo
sát năm 1977 (Đặng Văn Thắng 1992: 29 - 30).
2. Đặng Văn Thắng dựa vào một mảnh gốm cứng có hoa văn
khắc vạch bên trong thành miệng để định niên đại sơ kì Sắt cho di tích ND11
(Đặng Văn Thắng 1992: 86). Theo chúng tôi việc định niên đại như vậy là khá vội
vàng, bởi kiểu trang trí này gặp khá phổ biến ở các di tích có niên đại sớm như
Bến Đò, Đa Kai hay Lộc Giang.
3. 4. 5. 8. Tham khảo niên đại C14.
6. Nishimura cho rằng đây là những cái nêm liên quan đến
việc chế tác đồ gỗ (Nishimura M. 2005: 144).
7. Nishimura thì cho rằng Giồng Phệt muộn hơn Giồng Cá Vồ
và lớp trên Giồng Phệt đã sang văn hóa Óc Eo (Nishimura M. 2005: 137).
9. Bên cạnh đó, trong đợt khảo sát, khai quật gần đây của
Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, các nhà khảo cổ cũng tìm được một số tiêu bản linga
bằng gốm.
10. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng vị trí của Vũng Tàu từ
lâu đã hấp dẫn những người đi biển, và gợi ra khả năng Vũng Tàu chính là thị
trấn mà Ptolemy gọi là Kattigara (Malleret 1962; Lê Trung Khá 1998).
Bảng niên đại tuyệt đối của các địa điểm
khảo cổ vùng ngập mặn Đông Nam Bộ
|
Địa
điểm
|
Niên
đại
|
Nguồn
|
|
Rạch Lá
|
4190
± 65 BP
4520
± 95 BP
3100
± 60 BP
|
Trịnh
Sinh và nnk 2002
|
|
Cái Vạn
|
3360
± 80 BP
3195
± 70 BP
|
Bảo
tàng Đồng Nai 2006
|
|
Cái Lăng
|
3260
± 70 BP
2870
± 90 BP
2770
± 60 BP
|
Trịnh
Sinh và nnk 2000
|
|
Gò Me
|
2910
± 55 BP
2690
± 80 BP
1820
± 60 BP
|
Phạm
Quang Sơn 2008
|
|
Rạch Núi
|
3545
± 85 BP
3200
± 100 BP
2420
± 50 BP
2400
± 100 BP
|
Nguyễn
Mạnh Thắng và nnk 2004
Hà
Văn Tấn (chủ biên) 1999
|
|
Gò Cây Me
|
3350
± 75 BP
2920
± 75 BP
|
Nguyễn
Mạnh Thắng 2006
|
|
Bưng Thơm
|
2940
± 70 BP
2730
± 70 BP
|
Hồ
Khắc Bửu 2002
|
|
Bưng Bạc
|
3010
± 40 BP
3080
± 40 BP
2770
± 40 BP
2640
± 40 BP
2570
± 100 BP
2505
± 55 BP
2470
± 70 BP
2450
± 40 BP
2376
± 40 BP
2310
± 40 BP
|
Hồ
Khắc Bửu 2002
|
|
Giồng Cá Vồ
|
2480
± 50 BP
|
Đặng
Văn Thắng và nnk 1998
|
|
Giồng Phệt
|
2420
± 484 BP
2100
± 50 BP
|
Đặng
Văn Thắng và nnk 1998
|
|
Giồng Lớn
|
2760
± 55 BP
2280
± 70 BP
|
Vũ
Quốc Hiền và nnk 2008
|
|
Giồng Ông Trượng
|
2140
± 140 BP
|
Lê
Văn Chiến và nnk 2015
|
TÀI LIỆU DẪN
BẢO TÀNG ĐỒNG NAI
2006. Văn hóa khảo cổ thời đại kim khí vùng đất ngập mặn ở Đồng Nai .
Nxb.
Tổng hợp Đồng Nai.
Thành phố Biên Hòa.
BÙI CHÍ HOÀNG 2008. Hệ
thống các di tích vùng ngập mặn ở Đông Nam Bộ. Trong Một số vấn đề về
khảo cổ học ở miền Nam
Việt Nam , tập 3. Nxb.
Khoa học xã hội, thành phố Hồ Chí Minh: 27 - 50.
BÙI CHÍ HOÀNG, PHẠM
CHÍ THÂN, NGUYỄN KHÁNH TRUNG KIÊN 2012. Khảo cổ học Bà Rịa
- Vũng Tàu. Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội.
ĐẶNG VĂN THẮNG 1992. Những
di tích thời đại kim khí ở thành phố Hồ Chí Minh . Luận án Phó
Tiến sĩ khoa học Lịch
sử. Thành phố Hồ Chí Minh.
ĐẶNG VĂN THẮNG, NGUYỄN
THỊ HẬU 2006. Khai quật di tích Khu Bao Đồng (Cần Giờ - thành phố
Hồ Chí Minh). Khảo
cổ học , số 5: 38 - 50.
ĐẶNG VĂN THẮNG, VŨ
QUỐC HIỀN, NGUYỄN THỊ HẬU, NGÔ THẾ PHONG, NGUYỄN KIM DUNG,
NGUYỄN LÂN CƯỜNG 1998. Khảo
cổ học Tiền sử và Sơ sử thành phố Hồ Chí Minh . Nxb.
Trẻ, thành phố Hồ Chí
Minh.
HÀ QUANG HẢI
1996. Đặc điểm địa tầng Đệ tứ và đặc điểm địa mạo miền Đông Nam Bộ .
Luận án
PTS. Khoa học Địa lý -
Địa chất. Hà Nội.
HIGHAM C. 2014. Early
Mainlad Southeast Asia from First Humans to Angkor . River Books.
Bangkok.
HỒ KHẮC BỬU
2002. Bưng Bạc - Bưng Thơm trong nghiên cứu văn hóa Tiền - Sơ sử Bà Rịa
- Vũng Tàu .
Luận văn Thạc sĩ Văn
hóa học. Tư liệu Bảo tàng Lịch sử Quốc gia.
LÊ BÁ THẢO 2001. Thiên
nhiên Việt Nam . Nxb. Giáo dục. Hà Nội.
LÊ TRUNG KHÁ 1998. Sài
Gòn thời tiền sử. Địa chí Văn hóa thành phố Hồ Chí Minh. Tập
1: Lịch sử.
Nxb. Thành phố Hồ Chí
Minh, TP. Hồ Chí Minh:15 - 122.
LÊ VĂN CHIẾN, ĐINH VĂN
MẠNH, NGUYỄN VĂN THỦY 2014. Báo cáo kết quả khảo sát và khai quật
các di tích khảo cổ
khu vực xây dựng tổ hợp hóa dầu Long Sơn. Tư liệu Bảo tàng Lịch sử Quốc gia.
MALLERET L.
1962. Khảo cổ học đồng bằng sông Cửu Long. Tập III (Bản dịch
của Bảo tàng Lịch sử Việt Nam).
NGUYỄN MẠNH THẮNG
2006. Nhóm di tích thời đại Kim khí ven biển tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu .
Luận
văn Thạc sĩ Khoa học
Lịch sử. Tư liệu Bảo tàng Lịch sử Quốc gia.
NGUYỄN THỊ HẬU 1997. Di
tích mộ chum miền Đông Nam Bộ. Những phát hiện mới tại Cần Giờ,
thành phố Hồ Chí Minh. Luận án Tiến sĩ Khoa học Lịch sử. Tư
liệu Bảo tàng Lịch sử Quốc gia.
NGUYỄN THỊ HẬU 2012. Văn
hóa khảo cổ huyện Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh . Nxb. Tổng hợp
thành phố Hồ Chí Minh,
TP. Hồ Chí Minh.
NISHIMURA M. 2002.
Chronology of the Neolithic age in the southern Vietnam. Journal of
Southeast
Asian Archaeology . Vol. 22: 25 - 57.
NISHIMURA M. 2005.
Chronology of the Metal age in the southern Vietnam, Journal of
Southeast
Asian Archaeology . Vol. 25: 105 - 147.
OXENHAM,
M.F, P.J PIPER, P BELLWOOD, CH BUI, KTK NGUYEN, QM NGUYEN, F CAMPOS,
C
CASTILLO, R WOOD, C SARJEANT, N AMANO, A WILLIS, and J CERON. 2015.
Emergence and Diversification of the Neolithic in Southern
Vietnam: Insights from Coastal
Rach Nui. The Journal of Island and Coastal
Archaeology. Vol. 10: 1-30.
PHẠM ĐỨC MẠNH 1996. Di
chỉ khảo cổ học Bưng Bạc (Bà Rịa - Vũng Tàu) . Nxb. KHXH, Hà Nội.
PHẠM QUANG SƠN 1978a.
Khai quật khảo cổ học di tích Rạch Núi (Cần Giuộc - Long An). Những
phát hiện khảo cổ học
ở miền Nam . Viện Khoa học
Xã hội tại thành phố Hồ Chí Minh: 97 - 124.
PHẠM QUANG
SƠN 1978b. Bước đầu tìm hiểu sự phát triển văn hóa hậu kỳ Đá mới - sơ kỳ
Đồng ở
lưu vực sông Đồng
Nai. Khảo cổ học , số 1: 35 - 40.
PHẠM QUANG
SƠN 2008. Khai quật di chỉ Gò Me (Nhơn Trạch - Đồng Nai). Trong Một
số vấn đề
khảo cổ học ở miền Nam
Việt Nam , tập 3. Nxb.
Khoa học xã hội, thành phố Hồ Chí Minh: 137 - 176.
PHẠM VĂN KỈNH 1978.
Thử sắp xếp các văn hóa hậu kỳ Đá mới - sơ kỳ Đồng ở các tỉnh phía Nam.
Khảo cổ học , số 1: 41 - 45.
PHÙNG TIÊN MINH (chủ
biên) 1998. Đồ điển gốm sứ cổ Trung Quốc . Nxb. Văn vật, Bắc
Kinh.
REINECKE A., LAYCHOUR
V., SONETRA S. 2009. The First Golden Age of Cambodia:
Excavation at Prohear , Bonn, Germany.
REINECKE A., NGUYEN
THI THANH LUYEN 2009. Recent Discoveries In Vietnam: Gold Masks
and Other Precious
Items. Arts of Asia , Vol. 39, No.5: 58 - 67.
SARJEANT C.
2014. Contextualising the Neolithic Occuapation of Southern Vietnam:
The Role of
Ceramics and Potters
at An Son , ANU Press,
Canberra, Australia.
THẠCH PHƯƠNG, NGUYỄN
TRỌNG MINH (đồng chủ biên) 2005. Địa chí Bà Rịa - Vũng Tàu .
Nxb.
Khoa học xã hội, Hà
Nội.
TRỊNH SINH, CHỬ VĂN TẦN,
TRẦN QUÝ THỊNH, NGUYỄN VĂN LONG, LƯU VĂN DU,
NGUYỄN HỮU LỘC, NGUYỄN
ĐĂNG HIỆP PHỐ, NGUYỄN TRUNG KIÊN, PHAN BÌNH NGUYÊN 2001. Báo cáo khai
quật di chỉ khảo cổ học Cái Lăng, xã Long Thọ, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai
lần thứ nhất năm 2000 . Tư liệu Viện Khảo cổ học, HS 483.
TRỊNH SINH, NGUYỄN
GIANG HẢI, TRẦN QUANG TOẠI, LƯU VĂN DU, NGUYỄN HỮU LỘC,
NGUYỄN ĐĂNG HIỆP PHỐ ,
NGUYỄN SƠN KA 2002. Báo cáo khai quật di chỉ khảo cổ học
Rạch Lá, xã Phước An,
huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai lần thứ nhất, năm 2002 . Tư liệu
Viện Khảo cổ học, HS
482.
TRƯƠNG ĐẮC CHIẾN 2014.
Đồ gốm di tích Giồng Lớn (Long Sơn, Bà Rịa-Vũng Tàu) trong phức
hệ gốm tiền - sơ sử
Nam Bộ. Khảo cổ học , số 5: 27 - 49.
VŨ QUỐC HIỀN 2004.
Loại hình Bưng Bạc và một số vấn đề về giai đoạn Sơ kỳ Sắt ở Nam Bộ. Một
thế kỷ khảo cổ học
Việt Nam , tập I. Nxb.
Khoa học xã hội: 906 - 920.
VŨ QUỐC HIỀN 2008. Vài
suy nghĩ về các di tích mộ chum ở Đông Nam Bộ. Thông báo Khoa học .
Bảo tàng Lịch sử Việt
Nam: 116 - 128.
VŨ QUỐC HIỀN, TRƯƠNG
ĐẮC CHIẾN, LÊ VĂN CHIẾN 2008. Di tích Giồng Lớn (Bà Rịa - Vũng Tàu)
qua hai lần khai quật. Khảo cổ học , số 6: 32 - 46.
PROCESS OF MANGROVE OCCUPATION IN THE
EASTERN PART
OF SOUTHERN VIỆT NAM IN PRE-PROTOHISTORICAL PERIOD
TRƯƠNG ĐẮC CHIẾN
From 3500 BP to the
first - second centuries AD, which means from the late Neolithic to the early
Iron Age, the mangrove areas in the
Eastern part of Southern Việt Nam were occupied and exploited by various groups
of inhabitants . The first
group was from Cái Vạn and Rạch Núi, which followed by those from Cái Lăng, Gò
Me and Bưng Thơm - Bưng Bạc and the final group was from Cần Giờ, Long Sơn.
This process is not only the spread of
highland residents to the sea but also the penetration of the inhabitants from
the sea to the mainland .
The found artifacts
are very rich in quantity and diversified in forms and materials, which
demonstrate the cultural characteristics of the mangrove areas in the Eastern part of Southern
Việt Nam .
The found artifacts
and sites also show the relationship between the mangrove areas in the Eastern part of Southern
Việt Nam and the sites in
the highlands of Đồng Nai, Vàm Cỏ, the Sa Huỳnh culture in Central Việt Nam , and many other sites in Southeast Asia, even the
relationship with India and Southern China.
Through the sites in
these coastal mangrove areas, we
realize the evidence of the development process to the Óc Eo culture from pre- protohistorical period
was formed right in these areas.
Nguồn
bài viết: Tạp chí Khảo cổ học, số 5/2016