Quan niệm của Harbert Marcuse về sự tha hóa con người trong xã hội tư bản hiện đại
Tóm tắt: Cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, nhất là giai đoạn sau Cách mạng tháng Mười Nga, nhờ ứng dụng những thành tựu của khoa học, kỹ thuật vào quá trình sản xuất, nền kinh tế các nước tư bản phương Tây có sự phát triển vượt bậc, đời sống vật chất của người lao động được nâng cao. Trong hoàn cảnh đó, khoa học, kỹ thuật được xem như chiếc chìa khóa vạn năng, có thể giải quyết mọi vấn đề của xã hội. Tuy nhiên, dưới con mắt của H.Marcuse cũng như các nhà triết học thuộc trường phái Frankfurt - một tập thể tiêu biểu của chủ nghĩa Mác phương Tây, sự phát triển của kinh tế và khoa học, kỹ thuật trong chủ nghĩa tư bản hiện đại không giúp nó thay đổi được thuộc tính bản chất là bóc lột và làm tha hóa con người. Trái ngược với sự phát triển cao của nền văn minh vật chất, giai cấp lao động trong xã hội tư bản hiện đại vẫn chỉ là “những nô lệ thăng hoa” mà thôi. H.Marcuse đã chỉ rõ những nguyên nhân gây ra sự tha hóa của con người trong xã hội công nghiệp phát triển trên nhiều bình diện. Sự phân tích của ông giúp chúng ta có một cái nhìn toàn diện hơn về vai trò của khoa học, kỹ thuật, cũng như việc xác định vị trí con người trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội.

Từ khóa: Harbert Marcuse, sự tha hóa, con người, xã hội tư bản.

H.Marcuse (1898 - 1979) - nhà triết học, xã hội học người Mỹ gốc Đức, một trong những người sáng lập và là đại biểu đầu tiên của trưởng phái Frankfurt cho rằng, xã hội tư bản hiện đại với nền khoa học, kỹ thuật phát triển ở trình độ cao, máy móc tự động hóa trở thành công cụ lao động thay thế lao động cơ bắp, tạo ra năng suất lao động cao và nguồn của cải dồi dào đã làm thay đổi căn bản mọi mặt của đời sống xã hội. Rằng, khoa học, kỹ thuật là giải pháp cứu cánh cho nền sản xuất tư bản trong việc tìm kiếm lợi nhuận siêu ngạch và phát triển kinh tế. Của cải xã hội dồi dào là cái làm người ta tin rằng chỉ có sự phát triển của khoa học, kỹ thuật mới có thể cứu xã hội khỏi những cuộc khủng hoảng và loại trừ những mâu thuẫn xã hội. Vì vậy, theo ông khoa học, kỹ thuật là chiếc chìa khóa vạn năng để giải quyết mọi vấn đề của xã hội. Song, cũng theo ông, tính duy lý thái quá thể hiện trong mọi mặt đời sống kinh tế và chính trị - xã hội tư bản đã áp đặt con người, khiến con người bị máy móc hóa, tồn tại như những con rôbốt được lập trình sẵn và bị điều khiển bởi một thế lực bên ngoài.

Ngoài việc cổ súy sùng bái khoa học, lối sống khoa học, xã hội tư bản hiện đại, theo H.Marcuse, còn sùng bái hưởng thụ những giá trị vật chất, đặt của cải vật chất ở vị trí hàng đầu, còn giá trị tinh thần, đạo đức chỉ ở hàng thứ yếu. Song, sự dư thừa của cải vật chất trái ngược với sự nghèo nàn về mặt văn hóa tinh thần của của xã hội tư sản hiện đại đã làm cho các giá trị văn hóa truyền thống của phương Tây bị mai một, ảnh hưởng tiêu cực tới sự phát triển và hoàn thiện tư duy, cũng như nhân cách con người. Tất cả những điều đó được H.Marcuse coi là nguyên nhân dẫn tới sự tha hóa con người trong xã hội tư bản hiện đại trên ba bình diện xã hội, tư duy và văn hóa.

1. Sự tha hóa con người trên bình diện xã hội

Cũng như các nhà triết học trong trường phái Frankfurt, H.Marcuse cho rằng, sự phát triển rất cao của khoa học, công nghệ trong xã hội tư bản hậu công nghiệp không phải là phương tiện để xóa bỏ những mâu thuẫn của nó; ngược lại, chính tính hợp lý công nghệ ấy là nguyên nhân gây ra sự tha hóa của con người và che đậy những mâu thuẫn của xã hội tư bản. Trong xã hội tư bản hiện đại, khoa học và công nghệ đã góp phần sản sinh ra một hệ thống kiểm soát toàn thể xã hội và nô dịch con người. Không gian riêng cho sự phát triển cá tính, duy trì cái tôi và sự phủ định của con người bị cắt xén bởi nền hành chính duy lý toàn trị. Chủ nghĩa duy khoa học đã trở thành công cụ áp chế con người, góp phần hình thành nên “xã hội một chiều”; còn lý tính công nghệ thì bị biến thành công cụ nô dịch con người. Trong lời giới thiệu tác phẩm Con người một chiều, Douglas Keller viết: “Marcuse đã khẳng định lý tính công nghệ đã và đang sản sinh ra một hệ thống kiểm soát toàn thể xã hội và nô dịch con người” [1, tr.XX]. Trái ngược với chức năng khai sáng của nó trong thời kỳ trước đây, trong xã hội tư bản hiện đại, lý tính đã bị biến thành công cụ được giai cấp tư sản sử dụng để kiềm tỏa con người. “Nó giúp cho việc tổ chức, quản lý hành chính và dự báo trước những thế lực có thể và trừ khử những lực lượng đối nghịch” [1, tr.XXIII]. Cùng với quá trình gia tăng sự tập trung và tính hiệu quả của kinh tế, chính trị và kiểm soát văn hóa, sự đối lập trong tất cả các mặt của đời sống xã hội sẽ bị nô dịch và bị hòa tan. Xã hội tư bản hậu công nghiệp với một hệ thống quản trị hết sức chặt chẽ sẽ loại trừ cá nhân, sự bất đồng chính kiến và các lực lượng chính trị đối lập. Các tổ chức công đoàn thì trở thành cánh tay của các ông chủ tư bản. Trong xã hội đó luôn diễn ra sự suy tàn tiềm năng đối với các cuộc cách mạng của giai cấp lao động, sự suy tàn của cá tính con người, sự tự do dân chủ. “Sự đồng nhất của các lực lượng đối lập trong xã hội đè nặng lên các khả năng thay đổi xã hội, ở đó nó hãm chặt các giai tầng xã hội và tiến bộ xã hội, nghĩa là các giai cấp hiện thân cho sự chống đối tích hợp vào hệ thống như một chỉnh thể” [1, tr.22]. Vì vậy, xã hội tư bản hiện đại là xã hội mang tính một chiều, đơn cực, những mâu thuẫn cơ bản trong xã hội đã bị loại bỏ. Điều đó khẳng định sự tồn tại ổn định của chủ nghĩa tư bản, tất cả những lực lượng đối lập được “hấp thu” vào một chế độ cực quyền, một hệ thống vững như bàn thạch.

Xã hội một chiều gắn liền với tình trạng mất tự do dân chủ, việc biểu thị ý chí của đa số thông qua thiết chế dân chủ truyền thống chỉ là giả hiệu mà thôi. Theo H.Marcuse, “những phát ngôn đao to búa lớn về tự do, hạnh phúc được các nhà lãnh đạo đưa ra trong các chiến dịch tranh cử trên màn ảnh, trên đài phát thanh và các diễn đàn là những âm thanh vô nghĩa, chúng chỉ có ý nghĩa trong bối cảnh tuyên truyền, khuôn sáo, quảng cáo và thư giãn mà thôi” [1, tr.61]; rằng, “cuộc bầu cử tự do của những ông chủ không loại bỏ chế độ của giới chủ và nô lệ” [1, tr.10]. Và, về thực chất, xã hội đó luôn được điều khiển bởi một nhóm người. Một xã hội một chiều, đơn cực như vậy tất yếu sẽ dẫn đến tình trạng mất tự do, dân chủ, bởi không còn ai hay lực lượng nào đứng lên bảo vệ những hành động chính trị đối lập. Vì vậy, xã hội tư bản công nghiệp phát triển là một xã hội không có tự do dân chủ. “Tình trạng mất tự do, dân chủ, thoải mái, yên bình phổ biến trong nền văn minh công nghiệp phát triển cao”, theo ông, là“một biểu hiện của sự phát triển công nghệ, và ở đó, không gì có thể hợp lý hơn ngoài tình trạng cá nhân bị đàn áp trong sự cơ giới hóa của tính tất yếu xã hội, ngoại trừ tính hiệu quả đau đớn... ” [1, tr.3]. Quyền tự do giờ đây chỉ gói gọn trong sự tự do lựa chọn những hàng hóa và dịch vụ của xã hội mà thôi. “Quyền tự do trí tuệ, có nghĩa là sự khôi phục lại tư duy cá nhân giờ đây đã bị hấp thụ bởi truyền thông đại chúng” [1, tr.6].

Mặt khác, H.Marcuse cũng khẳng định rằng, giai cấp tư sản đã dựa vào sự phát triển cao của khoa học và công nghệ để khắc phục những những mâu thuẫn xã hội cơ bản mà trong quá khứ, đã từng đe dọa sự diệt vong của xã hội tư bản. Rằng, khoa học và công nghệ đã được ứng dụng vào mọi quá trình sản xuất, góp phần làm cho lực lượng sản xuất của xã hội phát triển ở trình độ cao, tạo ra năng suất lao động cao và nguồn của cải xã hội dồi dào. Vì vậy, xã hội tư bản hiện đại có khả năng đem lại cho đa số người lao động một cuộc sống khá giả với nhà lầu, xe hơi và tài khoản gửi ngân hàng. Tình trạng bần cùng hóa của người công nhân như trong xã hội tư bản ở thời của C.Mác đã được khắc phục, mâu thuẫn cơ bản của xã hội giờ đây được loại bỏ. Người công nhân hiện đại là những người tiêu dùng tích cực, họ cảm thấy hạnh phúc khi những nhu cầu vật chất của mình được thỏa mãn. “Người ta nhận ra bản thân mình trong những hàng hóa của họ; người ta tìm thấy linh hồn của mình trong xe hơi, trong dàn âm thanh nổi, trong căn nhà lệch tầng và trong những thiết bị nhà bếp” [1, tr.11]. Một mặt, giai cấp tư sản hiện đại không ngừng đổi mới công nghệ, cho ra đời những sản phẩm ngày càng hiện đại và tiện ích hơn, đáp ứng những nhu cầu hưởng thụ ngày càng cao hơn của người lao động. Mặt khác, giai cấp lao động luôn được tạo điều kiện, khuyến khích tiêu dùng, hưởng thụ những sản phẩm mới nhằm thỏa mãn những nhu cầu vật chất ngày một cao hơn. “Bị khát vọng tiêu dùng thúc đẩy, người mua không nhận thấy là tự bán mình” [2, tr.169]. Nhờ các chính sách khuyến khích tiêu dùng, xã hội tư bản hiện đại đã giải quyết được vấn đề mở rộng thị trường trong nước và trói buộc chặt hơn người lao động vào hệ thống sản xuất và tiêu dùng hàng hóa của xã hội hiện tồn. Người lao động bị cuốn theo những nhu cầu vật chất ngày càng tăng và không thể thoát ra được, họ quên mất địa vị của mình trong xã hội và trở thành nô lệ của những nhu cầu được định hướng bởi truyền thông. “Những nô lệ trong nền văn minh công nghiệp phát triển là những nô lệ thăng hoa” [1, tr.36]. Con người kinh tế của họ bị tích hợp vào quá trình sản xuất và tiêu dùng của xã hội tư sản hiện đại. Quan điểm chính trị của người lao động bị khép kín trong khuôn khổ xã hội hiện tồn, họ ngày càng mất đi năng lực tư duy phê phán để vượt bỏ xã hội hiện tồn. Hệ quả tất yếu là giai cấp lao động không còn động lực đấu tranh chính trị chống lại hệ thống sản xuất xã hội đó và thủ tiêu nó bằng cách mạng xã hội. “Khi những cá nhân được thỏa mãn hạnh phúc nhờ những hàng hóa và dịch vụ mà chính thể trao cho họ; thì tại sao họ lại tìm kiếm một thể chế khác, một nền sản xuất khác nữa?” [1, tr.53]. Chính vì lẽ đó, H.Marcuse không tin tưởng vào sự hình thành ý thức cách mạng của giai cấp công nhân hiện đại, bởi “xã hội hiện đại có khả năng đem lại cho chúng không còn là động lực cho cách mạng xã hội, ít nhất là đối với đa số những người bị áp bức và bóc lột” [2, tr.167]. Giai cấp lao động trong xã hội tư bản hậu công nghiệp đã bị tích hợp vào trong xã hội đó và không sở hữu “thông thạo giao tiếp” để lĩnh hội các tư tưởng siêu việt hóa hiện thực bằng cách mạng xã hội.

2. Sự tha hóa của con người trên bình diện tư duy

H.Marcuse cho rằng, chủ nghĩa duy khoa học với tính chất đồng nhất hóa sự khác biệt đã mang tính áp đặt tư duy, gây nên tình trạng tư duy một chiều. “Sự đồng nhất này không phải là ảo tưởng mà là thực tế” [1, tr.13]. Khoa học cận đại là công cụ cơ bản cho việc hiện thực hóa tính một chiều phổ biến; nó tự hiện thực hóa mình trong toàn bộ các lĩnh vực của đời sống xã hội công nghiệp, như kinh tế, chính trị, văn hóa. Ở các lĩnh vực này, khoa học đều đóng vai trò ổn định và áp đặt. Hệ quả là sự tự do bên trong của con người bị hạn chế, không gian riêng để suy tư một cách tự do, để con người có thể trở thành bản thân “mình” bị thu hẹp. “Ngày nay, những khoảng không gian riêng của cá nhân đã bị cắt xén bởi hiện thực công nghệ” [1, tr.12]. Khoa học cận đại dưới hình thức chủ nghĩa duy khoa học, chủ nghĩa duy kỹ thuật và thuyết kỹ trị chính là công cụ để hình thành nên chiếc lồng sắt hợp lý của xã hội tư sản - xã hội một chiều, trói buộc tư duy, làm suy yếu năng lực tư duy phê phán, phản biện của những chủ thể. Các mô hình kiểm soát xã hội mang tính duy lý đã làm cho mọi sự chống đối trong xã hội không thể thực hiện được và cũng làm cho các chủ thể mang tư duy một chiều. “Không có gì ngạc nhiên rằng ở hầu hết các lĩnh vực của nền văn minh phát triển cao, những sự kiểm soát xã hội đã được thực chuyển vào bên trong, ngay cả một sự chống đối cá nhân cũng bị áp đặt từ trong gốc rễ” [1, tr.11-12].

Trong xã hội công nghệ này, những vấn đề siêu hình học đã bị thay thế bởi công nghệ. Những khái niệm siêu hình học trước đây đòi hỏi sự năng động của mỗi chủ thể trong việc nhận thức và cải tạo giới tự nhiên đã bị thay thế bằng những giải pháp công nghệ mang tính công cụ và hiệu quả. Hệ quả là tính năng động và sáng tạo của các chủ thể bị giảm sút. Hơn nữa, tính hợp lý trong quản trị của xã hội tư sản hiện đại còn làm suy yếu đi con người cá nhân và tư duy phê phán của họ. “Tính hiệu quả và sức mạnh của hành chính quản trị đã vùi lấp cá nhân những người mà đang dần mất đi lý tính phê phán - một đặc trưng trong thời kỳ trước đây (nghĩa là sự tự do ý chí, sự bất đồng chính kiến, sức mạnh của sự phủ định), do vậy đã sản sinh ra “xã hội một chiều” và “con người một chiều”” [1, tr.XX]. Hệ quả là, tư duy phê phán của những chủ thể xã hội - cội nguồn của sự sáng tạo, sự giải phóng cá nhân và tiến bộ xã hội đã bị triệt tiêu trong xã hội tư bản hiện đại. Sự mất đi tư duy phê phán của những chủ thể là một nguy cơ đối với sự tiến bộ xã hội và giải phóng con người. Bởi, trái ngược với những định đề của chủ nghĩa duy lý mang tính áp đặt, tư duy phê phán dựa trên những tiềm năng của lý tính nhằm mang lại tự do và hạnh phúc cho con người đã được sử dụng để phủ định sự tồn tại của những nhà nước hành chính đang áp đặt những cá nhân và hạn chế tự do, sự hoàn thiện của con người. Khi những chủ thể xã hội mất đi tư duy phê phán, phủ định đối với xã hội hiện tồn, thì họ cũng mất đi năng lực phủ định, phản kháng đối với nhà nước tư sản toàn trị đó. Tư duy một chiều của họ không thể tạo ra được sự khác biệt này và vì vậy, họ phải quy phục trước sức mạnh chính trị của thể chế hiện tồn. Lúc này, những con người mang tư duy một chiều bị tích hợp vào hệ thống xã hội hiện tồn, họ đã bị chuyển hóa trở thành chỗ dựa cho lối sống đã định hình. Những chủ thể của xã hội mất đi tư duy phê phán, mất đi nhân cách của mình và không còn động lực để tiến hành cách mạng xã hội, điều đó thể hiện rõ sự tha hóa của con người trên bình diện tư duy. H.Marcuse cho rằng, sức mạnh của tư duy phê phán và tự do đang suy tàn trong “xã hội hậu công nghiệp”. Điều đó tạo ra những con người với nhãn quan tư tưởng, chính trị khép kín, tư duy của họ mang tính chất một chiều và được định hướng bởi truyền thông; tư duy của họ hoàn toàn không còn chiều cạnh tiềm năng vượt trước xã hội hiện thời. Những chủ thể xã hội bị đồng hóa vào trong khách thể và tuân theo mệnh lệnh từ bên ngoài, vì vậy họ mất đi năng lực khám phá những khả năng giải phóng trong thực tiễn và hiện thực hóa chúng. Rằng, những “con người một chiều” đã mất đi hoặc đang mất đi cá tính, tự do, sự bất đồng chính kiến và những năng lực để kiểm soát số phận của mình. Cái giá mà họ phải trả về mặt nhận thức là họ mất đi khả năng nhận thức, lĩnh hội nhiều chiều cạnh của các vấn đề để có cái nhìn toàn diện và thoát khỏi tư duy một chiều và xã hội một chiều. Những con người không còn cảm thấy mình như một nhân vị độc lập, đánh mất hoàn toàn khả năng phê phán xã hội, sẵn sàng hành động theo số đông đang dần trở nên phổ biến trong xã hội tư bản hiện đại.

3. Sự tha hóa của con người trên bình diện văn hóa

Trong xã hội tư sản hiện đại, những con người mang tư duy một chiều không còn chiều cạnh phê phán trở thành đối tượng nhào nặn của truyền thông đại chúng. Tính một chiều về tư duy của họ ngày càng được gia tăng do sự nhồi sọ liên tục của truyền thông đại chúng, thậm chí cả những điều vô lý cũng có thể mang ý nghĩa chân lý nhờ bộ máy truyền thông. “Tư duy một chiều”, theo H.Marcuse, “được đẩy mạnh một cách hệ thống bởi các nhà chính trị và truyền thông đại chúng. Toàn bộ những phát ngôn của chúng được phổ biến nhờ những giả thuyết tự công nhận, không ngừng được lặp lại một cách độc quyền trở thành những định nghĩa thôi miên hay mệnh lệnh” [1, tr.16]. Truyền thông đại chúng áp đặt tư duy, làm cho người ta ngộ nhận về những giá trị và không còn ý thức phản kháng để nhận ra những chân giá trị, cũng như những sai lầm của bản thân sự tuyên truyền. “Những sản phẩm tuyên truyền và nhào nặn, chúng áp đặt một ý thức sai lầm cái làm người ta mất đi khả năng chống lại sự lừa dối của nó” [1, tr.14]. Khi đó, họ bị ngẫu tượng thị trường chi phối và sẵn sàng hành động theo định hướng của truyền thông và đám đông.

Những phương tiện truyền thông đại chúng của xã hội tư sản hiện đại không ngừng tuyên truyền, quảng cáo cho những sản phẩm mới và biến chúng trở thành tiêu chuẩn, phong cách, lối sống của xã hội tiêu thụ. Tin theo sự định hướng của truyền thông, họ trở thành những con nghiện mua sắm của xã hội tiêu thụ. Họ không còn biết đến những nhu cầu đích thực của mình nữa và về thực chất, nhu cầu tiêu thụ những sản phẩm mới không phải xuất phát từ bản thân họ, mà đã bị áp đặt từ bên trên và trở thành sự dị trị. Song, vì đã đánh mất năng lực tư duy phê phán, nên họ không thể chống lại sự áp đặt, nô dịch của truyền thông và không thể hành động một cách tự chủ. Việc thiếu đi sức mạnh của tư duy cá nhân đích thực, con người một chiều đồng nhất hành vi của, với số đông, bắt chước và phục tùng quyền lực, phục tùng sự nô lệ toàn thể đang ngày càng gia tăng. “Mọi người đều biết hoặc cảm thấy rằng những quảng cáo và cương lĩnh chính trị không nhất thiết đúng hay thật, vậy mà họ vẫn nghe, vẫn đọc những điều đó và thậm chí còn để những điều đó hướng dẫn mình nữa” [1, tr.60]. Văn hóa một chiều, xã hội một chiều và con người một chiều là những hệ quả của xã hội tư bản hậu công nghiệp.

H.Marcuse còn chỉ ra sự tha hóa của nền văn hóa trong xã hội công nghiệp phát triển, biểu hiện qua sự tha hóa của những tác phẩm nghệ thuật của nó. Theo ông, “những tác phẩm đích thực của nó đã biểu thị một ý thức, một sự tha hóa có phương pháp từ tất cả các lĩnh vực thương mại, công nghiệp và từ những sự tính toán vì mục đích lợi nhuận của nó nữa” [1, tr.61- 62]. Mục đích và chức năng của tác phẩm nghệ thuật đã có sự thay đổi một cách căn bản, lảng tránh sự đau khổ và số phận con người. “Nếu như trong quá khứ, chúng phản ánh mâu thuẫn xã hội thì giờ đây, chúng lại làm mờ đi những mâu thuẫn đó” [1, tr.67]. Những tác phẩm văn học, nghệ thuật không còn định hướng cho người ta con đường vượt bỏ xã hội hiện thực đang giam hãm họ, đang làm cho họ bị tha hóa. Chúng không hướng đến sự khai sáng của con người, chức năng phủ định hiện thực của chúng đã bị nuốt gọn vào trong xã hội tiêu thụ. “Bản thân những tác phẩm nghệ thuật đang bị sát nhập vào xã hội này và lan truyền như một phần, như một phương tiện trang điểm cho xã hội tiêu thụ”[1, tr.67]. Những mâu thuẫn xã hội đã không còn được phản ánh trong những tác phẩm nghệ thuật. “Những sự tôn thờ chủ nghĩa nhân văn, tính tự chủ cá nhân, tình yêu, bi kịch là lý tưởng của giai đoạn đã qua. Những gì đang diễn ra giờ đây là sự sa đọa của nền văn hóa đại chúng, đó là sự chối bỏ của nền văn hóa này với hiện thực” [1, tr.60].

Thay cho sự khai sáng giai cấp lao động, chúng không chỉ hướng người ta đến việc thỏa mãn các nhu cầu vật chất ngày càng tăng, mà còn cả những nhu cầu nhục dục. Tự do tình dục đã được nền văn học, nghệ thuật của xã hội tư bản phát triển ngợi ca như sự giải phóng con người. “Nền văn minh công nghiệp tiên tiến đã mở ra một cấp độ lớn hơn cho tự do tình dục, tình dục trở thành một giá trị mua bán, một yếu tố của tập quán xã hội” [1, tr.77]. H.Marcuse đã nhận xét một cách mỉa mai về sự tha hóa của nền văn hóa ấy rằng: “Đấy là những thành tích hiếm hoi của xã hội công nghiệp” [1, tr.77]. Ông đã dựa trên những thành tựu của phân tâm học để rút ra nhận xét khái quát về bản chất của nền văn học, nghệ thuật trong xã hội tư sản hiện đại - nền văn hóa hướng người ta tới sự thỏa mãn các nhu cầu vật chất và nhục dục, thực sự trở thành sự ru ngủ con người, làm người ta không nhận thấy sự tha hóa của mình và làm họ phục tùng chính thể hiện thời. Ông viết: “Sự thỏa mãn dưới hình thức này sẽ sinh ra sự phục tùng và làm suy yếu ý thức phản kháng” [1, tr.78]. Và, khi những giới hạn thỏa mãn càng được mở rộng hơn, thì người ta sẽ hoàn toàn mất ý thức phản kháng và bị tích hợp vào thể chế hiện tồn. “Phạm vi thỏa mãn các nhu cầu về mặt xã hội được mở rộng rất nhiều; nhưng thông qua sự mở rộng những nhu cầu đó, nguyên lý khoái lạc bị cắt giảm - bị tước bỏ những đòi hỏi không tương hợp với xã hội hiện tồn. Khoái lạc vì vậy đã bị điều chỉnh theo sự phục tùng chung” [1, tr.79].

Tóm lại, sự phân tích của H.Marcuse đã cho chúng ta thấy rõ nguyên nhân dẫn tới sự tha hóa con người trong xã hội tư bản phát triển. Khoa học và công nghệ mặc dù đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế, song chúng cũng có những tác động tiêu cực nhất định đối với sự tiến bộ trong lĩnh vực văn hóa tinh thần của con người. Khoa học và công nghệ không thể đóng vai trò vạn năng có thể giải quyết mọi vấn đề của xã hội. Một khi, trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội mà con người bị loại bỏ khỏi mục tiêu của sự phát triển, thì sẽ không thể giải quyết được vấn đề tha hóa con người. Cho dù sự phát triển kinh tế, khoa học ở trình độ rất cao, thì ở đó, con người cũng chỉ là nô lệ trong sự thăng hoa mà thôi. Những nghiên cứu của ông về sự tha hóa con người trong xã hội tư bản hiện đại cũng giúp chúng ta có cách nhìn nhận khách quan và toàn diện hơn, khi xác định vấn đề phát triển con người là vấn đề trọng tâm của mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay.

Tài liệu tham khảo

 [1] Herbert Marcuse (2002), Con người một chiều, Nxb Routledge.

 [2] Nguyễn Chí Hiếu, Đỗ Minh Hợp (2013), Chủ nghĩa Mác phương Tây, Nxb Tôn Giáo, Hà Nội

ThS. Phạm Văn Dương - Viện Triết học
Nguồn bài viết: Trang Thông tin điện tử Viện Triết học
Tin xem nhiều
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1