Vận dụng tư tưởng “dân là gốc” trong phát triển du lịch cộng đồng vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở nước ta
Tư tưởng “dân là gốc” là tư tưởng xuyên suốt trong đường lối lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam. Tư tưởng này nhấn mạnh vai trò trung tâm của người dân trong mọi hoạt động phát triển của xã hội. Trong lĩnh vực du lịch cộng đồng, tư tưởng này được vận dụng với quan điểm “cộng đồng là gốc”, cộng đồng địa phương là chủ thể sở hữu tài nguyên du lịch, tham gia vào quá trình vận hành, lên kế hoạch tổ chức và hưởng lợi ích từ du lịch.
Tìm hiểu tại xã Mường Lống và Mỹ Lý tỉnh Nghệ An cho thấy, cộng đồng người Hmông và người Thái đã bước đầu tham gia vào cung cấp các dịch vụ du lịch, bảo tồn văn hóa truyền thống, qua đó góp phần cải thiện sinh kế và nâng cao đời sống người dân. Tuy nhiên, mức độ tham gia và hưởng lợi của cộng đồng còn hạn chế đồng thời các chính sách hỗ trợ phát triển du lịch vẫn đang trong giai đoạn hoàn thiện. Xuất phát từ thực tế đó, bài cũng đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả vận dụng tư tưởng “dân là gốc” trong phát triển du lịch cộng đồng vùng đồng bào dân tộc thiểu số, góp phần thúc đẩy phát triển du lịch bền vững, bảo tồn bản sắc văn hóa và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân.
Mở đầu
“Dân là gốc” là tư tưởng xuyên suốt trong đường lối lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và là nguyên tắc nền tảng trong sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước. Đại hội 14 của Đảng cộng sản Việt Nam quán triệt sâu sắc quan điểm “dân là gốc”, nhân dân là chủ thể, là trung trâm của công cuộc đổi mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước phải thực sự xuất phát từ nhu cầu nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đảng, hợp pháp của Nhân dân; Lấy việc tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, hạnh phúc và sự hài lòng của Nhân dân làm thước đo và mục tiêu phấn đấu”[1]. Trong bối cảnh hiện nay, khi đất nước đang đẩy mạnh phát triển nhanh và bền vững, quan điểm lấy “dân là gốc” tiếp tục được cụ thể hóa trong nhiều lĩnh vực, trong đó có phát triển du lịch gắn với cộng đồng dân cư, nhất là tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi nước ta.
“Du lịch cộng đồng là loại hình du lịch được phát triển trên cơ sở các giá trị văn hoá của cộng đồng, do cộng đồng dân cư quản lý, tổ chức khai thác và hưởng lợi”[2]. Có thể thấy, về bản chất, du lịch cộng đồng có sự tương đồng sâu sắc nội dung của quan điểm “dân là gốc”. Nếu quan điểm “dân là gốc” xác định nhân dân là chủ thể của quá trình phát triển thì du lịch cộng đồng cũng lấy cộng đồng dân cư địa phương làm trung tâm. Người dân không chỉ là đối tượng thụ hưởng mà còn là chủ thể trực tiếp tham gia bảo tồn tài nguyên, gìn giữ bản sắc văn hóa, cung cấp dịch vụ, quản lý hoạt động du lịch và hưởng lợi từ quá trình phát triển. Do đó, mức độ tham gia thực chất của cộng đồng chính là một trong những yếu tố quyết định sự thành công và tính bền vững của mô hình du lịch cộng đồng. Dân là cộng đồng, cộng đồng chính là chìa khóa quan trọng cho hoạt động du lịch hình thành, tồn tại và phát triển.
Trong những năm gần đây, cùng với sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, du lịch cộng đồng đã có bước phát triển mạnh mẽ tại nhiều địa phương trên cả nước. Nhiều mô hình du lịch cộng đồng dựa trên các giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số đã được hình thành và từng bước khẳng định hiệu quả trong việc tạo việc làm, tăng thu nhập, bảo tồn di sản văn hóa và phát huy vai trò của cộng đồng địa phương. Tuy nhiên, thực tiễn cũng cho thấy nhiều khó khăn và thách thức như năng lực quản lý, tổ chức hoạt động du lịch của cộng đồng còn hạn chế; sự tham gia của người dân ở một số nơi chưa thực sự chủ động; về phân chia lợi ích còn bất cập; nguy cơ thương mại hóa văn hóa truyền thống và tác động tiêu cực đến môi trường và xã hội. Điều đó cho thấy yêu cầu cấp thiết phải tiếp tục vận dụng và phát huy hiệu quả quan điểm “dân là gốc” trong quá trình hoạch định và thực thi các chính sách phát triển du lịch cộng đồng, bảo đảm người dân thực sự trở thành chủ thể của quá trình phát triển.
Tỉnh Nghệ An là địa phương có diện tích lớn nhất cả nước, trong đó khu vực miền núi phía Tây của tỉnh gồm 11 huyện miền núi (từ ngày 1/7/2025 là 72 xã), là địa bàn chiến lược về kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh và có tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số chiếm trên 60%[3]. Hai xã Mường Lống và Mỹ Lý lần lượt là địa bàncư trú tập trung của người Hmông và người Thái. Đặc biệt, cộng đồng người Thái và người Hmông hiện vẫn bảo lưu được nhiều giá trị văn hóa truyền thống đặc sắc như kiến trúc nhà ở, trang phục, nghề thủ công, lễ hội, tri thức bản địa và các hình thức sinh hoạt cộng đồng. Đây cũng là nơi có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú cùng hệ thống văn hóa đa dạng, nơi đây có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch cộng đồng.
Xuất phát từ những vấn đề trên, bài viết tập trung tìm hiểu việc vận dụng tư tưởng “dân là gốc” trong phát triển du lịch cộng đồng vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở nước ta thông qua trường hợp nghiên cứu tại một số xã của tỉnh Nghệ An, với trọng tâm là cộng đồng người Hmông và người Thái. Trên cơ sở phân tích thực tiễn tham gia của người dân vào quá trình tổ chức, quản lý và thụ hưởng lợi ích từ hoạt động du lịch, bài viết góp phần làm rõ giá trị lý luận và thực tiễn của quan điểm “dân là gốc” trong phát triển du lịch cộng đồng, từ đó đề xuất một số định hướng nhằm phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng trong phát triển du lịch bền vững ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số hiện nay. Nguồn tư liệu thực tiễn được thu thập thông qua các đợt khảo sát, điền dã dân tộc học tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Nghệ An trong các năm 2025, 2026 và tổng hợp từ các tài liệu có liên quan đến chủ đề và địa bàn nghiên cứu.
1. Cơ sở lý luận về “dân là gốc” và hoạt động du lịch cộng đồng
* Tư tưởng “dân là gốc” trong các văn kiện Đại hội Đảng
Tư tưởng “dân là gốc” là một trong những quan điểm xuyên suốt trong quá trình phát triển của Đảng ta, tư tưởng này được kế thừa từ truyền thống dân tộc, tư tưởng Hồ Chí Minh và không ngừng phát triển qua các kỳ Đại hội đảng. Theo chủ tịch Hồ Chí Minh, dân là gốc rễ của sự trường tồn, “gốc có vững thì cây mới bền, xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”. Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn quán triệt bài học lấy “ dân là gốc”. Dân ở đây là tất cả các giai cấp, tầng lớp đang trực tiếp và gián tiếp tham gia vào công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
Trong suốt quá trình lịch sử phát triển của Đảng cộng sản Việt Nam, nội hàm “dân là gốc” được nhắc đến đầu tiên trong Cương lĩnh xây dựng đất nước lên thời kỳ quá độ chủ nghĩa xã hội 1991, Đảng đã khẳng định “chính nhân dân là người làm nên thắng lợi trong lịch sử” vì thế “toàn bộ hoạt động của Đảng phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân”.Văn kiện Đại hội XI đã khẳng định “Đảng không có lợi ích nào khác ngoài phụng sự tổ quốc, phụng sự nhân dân”[4]. Nhân dân chính là lực lượng biến các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước thành hiện thực trong thực tiễn. Đến Đại hội XIIđã nêu rõ “Đổi mới phải luôn luôn quán triệt quan điểm “dân là gốc”, vì lợi ích của nhân dân, dựa vào nhân dân, phát huy vai trò làm chủ, tinh thần trách nhiệm, sức sáng tạo và mọi nguồn lực của nhân dân, phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc”[5].
Đến Đại hội XIII của Đảng, nhân dân tiếp tục được coi là trung tâm cho chiến lược phát triển, trung tâm của các chính sách an sinh xã hội và hơn thế là mục tiêu của sự nghiệp giải phóng con người, Đại hội XIII khẳng định: “Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ tổ quốc”[6]. Tại đại hội này, mọi mặt đời sống con người và hạnh phúc của nhân dân được đặc biệt quan tâm. Việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân và xây dựng nên dân chủ xã hội, nhiệm vụ trọng tâm thứ 5 trong nhiệm kỳ khoá XIII chỉ rõ “phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của nhân dân, tăng cường pháp chế, bảo vệ kỷ cương xã hội…”. Có thể thấy, nếu như Văn kiện Đại hội XII dừng lại ở phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” thì văn kiện Đại hội XIII đã thêm một bước, coi nhân dân là chủ thể trực tiếp giám sát và thụ hưởng các thành quả của cách mạng và được coi như triết lý hành động của Đảng bằng việc tiếp tục khẳng định “kiên trì thực hiện phương châm dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” và bổ sung thêm nội dung“dân giám sát, dân thụ hưởng”.
Đại hội XIV tiếp tục khẳng định vai trò chủ thể của nhân dân và quán triệt sâu sắc quan điểm “dân là gốc”, nhân dân là chủ thể, là trung tâm của công cuộc đổi mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước phải thực sự xuất phát từ nhu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của nhân dân; Lấy việc tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, hạnh phúc và sự hài lòng của nhân dân làm thước đo và mục tiêu phấn đấu. Nghị quyết đại hội XIV chỉ rõ “phát huy mạnh mẽ vaitrò chủ thể của nhân dân, dân chủ xã hội chủ nghĩa, sức mạnh của nhân dân và khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Quán triệt sâu sắc quan điểm “dân là gốc”, nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc phát triển, mọi chính sách đều hướng tới nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; đồng thời đề cao việc tôn trọng, lắng nghe và phát huy vai trò làm chủ của nhân dân. Điểm mới của Nghị quyết Đại hội XIV về vai trò của nhân dân đó là “lấy sự hài lòng của nhân dân làm thước đo”.
* Du lịch cộng đồng vùng đồng bào dân tộc thiểu số
Theo Điều 3, Luật du lịch năm 2017: “Du lịch cộng đồng là loại hình du lịch được phát triển trên cơ sở các giá trị văn hoá của cộng đồng, do cộng đồng dân cư quản lý, tổ chức khai thác và hưởng lợi”. Điều 6 luật này cũng quy định “Cộng đồng dân cư cóquyền tham gia và hưởng lợi ích hợp pháp từ hoạt động du lịch; có trách nhiệm bảo vệ tài nguyên du lịch, bản sắc văn hoá địa phương; giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ môi trường. Cộng đồng dân cư được tạo điều kiện để đầu tư phát triển du lịch, khôi phục và phát huy các loại hình văn hoá, nghệ thuật dân gian, ngành, nghề thủ công truyền thống, sản xuất hàng hoá của địa phương phục vụ khách du lịch, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân địa phương”. Trên phương diện khoa học, Du lịch cộng đồng là hình thức phát triển du lịch mà người dân địa phương có sự tham gia trực tiếp vào mọi mắt xích của hoạt động du lịch. Sự tham gia này được thực hiện dựa trên hợp tác, hỗ trợ của chính quyền địa phương, chính phủ và các tổ chức cá nhân trong và ngoài nước.
Theo Nghị định số 272/2025/NĐ-CP ngày 16/10/2025 của Chính phủ[7] nêu rõ “Thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số là thôn có từ 15% người dân tộc thiểu số trở lên sinh sống ổn định thành cộng đồng; Xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số là xã đáp ứng ít nhất một trong hai tiêu chí: có từ 15% người dân tộc thiểu số trở lên sinh sống ổn định; hoặc có từ 4.500 người dân tộc thiểu số trở lên sinh sống ổn định; Tỉnh vùng đồng bào dân tộc thiểu số là tỉnh đáp ứng ít nhất một trong hai tiêu chí sau: có từ 15% người dân tộc thiểu số trở lên sinh sống ổn định; hoặc có từ 2/3 số xã trở lên là xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số”. Xét theo tiêu chí này, bài viết lựa chọn nghiên cứu thực địa tại xã Mường Lống và Mỹ Lý của tỉnh Nghệ An, nơi có cộng đồng người Hmông và người Thái chiếm đa số đồng thời so sánh với các xã thuộc vùng dân tộc thiểu số khác của tỉnh Nghệ An.
* Mối liên kết giữa quan điểm “dân là gốc” với hoạt động du lịch cộng đồng
Từ thực tiễn tìm hiểu về quan điểm “dân là gốc” trong các kỳ đại hội của Đàng và du lịch cộng đồng, có thể khái quát mối liên kết giữa “dân là gốc” và du lịch cộng đồng qua Bảng 1.
Bảng 1. Mối liên kết giữa tư tưởng “dân là gốc” và hoạt động du lịch cộng đồng

Như vậy, phát triển du lịch cộng đồng gắn với “dân là gốc”, “dân” chính là cộng đồng trong hoạt động du lịch, là chủ thể của tài nguyên, chủ thể lập kế hoạch, thực hiện, quản lý và hưởng lợi từ du lịch, chủ thể bảo vệ nguồn tài nguyên để duy trì du lịch bền vững.
2. “Dân là gốc” gắn với hoạt động du lịch cộng đồng
2.1. Người dân là chủ thể sở hữu và cung cấp tài nguyên du lịch
Hai xã Mường Lống và Mỹ Lý được lựa chọn nghiên cứu là hai xã nằm trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Nghệ An. Đây cũng là địa bàn cư trú tập trung của cộng đồng người Hmông và người Thái
Tổng diện tích tự nhiên của Mường Lống là 148,31 km2.Thống kê năm 2025, Mường Lống có tổng số hộ là 1.022 hộ với 4.989 nhân khẩu, trong đó người Hmông chiếm đa số. Mỹ Lý là xã biên giới có diện tích tự nhiên 27.044,03ha, có 45,418km đường biên giới với nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào. Mỹ Lý nằm ở nơi có địa hình thấp hơn so với Mường Lống, xã có 1.259 hộ với 5.515 khẩu cư trú tập trung trong 12 bản (8 bản người Thái và 3 bản người Hmông, 1 bản người Khơ Mú)[8]. Các cộng đồng dân tộc nơi đây còn lưu giữ các đặc trưng văn hóa làm sản phẩm du lịch cộng đồng. Nghị quyết số 07/2020/NQ-HĐNDngày 22/7/2020 của UBND tỉnh Nghệ An về một số chính sách hỗ trợ phát triển du lịch cộng đồng trên địa bàn các xã miền Tây Nghệ An đã xác định Mường Lống và Mỹ Lý là các điểm để hỗ trợ người dân phát triển du lịch cộng đồng; Nghị quyết số 22-NQ/ĐU ngày 28/4/2024 của Đảng ủy xã Mường Lống đã xác định mục tiêu “phát triển du lịch bền vững gắn với bảo vệ môi trường, bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống, bảo đảm quốc phòng - an ninh và hài hòa lợi ích cộng đồng”, theo đó bản Mường Lống 1 và Mường Lống 2 thuộc xã Mường Lống được lựa chọn là địa điểm chính để phát triển du lịch; Xã Mỹ Lý cũng xác định bản Yên Hòa là nơi lựa chọn phát triển du lịch cộng đồng.
Một số tài nguyên mà cộng đồng người Hmông và người Thái đang sở hữu có thểkể đến như:
Mường Lống nằm ở độ cao trung bình khoảng 900m so với mực nước biển, khí hậu mát mẻ (nhiệt độ trung bình 18-20°C,vùng khí hậu này mang tính chất á ôn đới, độ ẩm cao, quanh năm có mây mù che phủ). Mường Lống được ví như “Sa Pa của miền Trung”. Đến với Mường Lống vào dịp đầu tháng 4, du khách có cơ hội trải nghiệm đặc trưng thời tiết của 4 mùa trong 1 ngày: buổi đêm xuống và sáng sớm có khí trời lạnh và mây mù bao phủ, giữa buổi sáng mây mù sẽ tan dần nhường chỗ cho ánh nắng mặt trời với khí hậu ấm áp, sau trưa, sẽ bất chợt có những cơn mưa rào ập đến và đến tối trời se lạnh và lại thấy mây mù.
Những cảnh quan sinh thái mang đậm bản sắc của cộng đồng: Núi Pháp, thác Rồng, cảnh quan vườn hoa đào, hoa mận vào mùa xuân và trĩu quả vào mùa hè. Núi Pháp trên địa bàn xã Mường Lống, cao so với mặt biển trên 1000m, từđỉnh núi Pháp có thể chiêm ngưỡng được cảnh quan bao trùm cả vùng rộng lớn khu miền Tây của tỉnh Nghệ An và Nọng Hét của Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào; Thác Rồng nằm trên địa bàn xã Mường Lống có nước xanh quanh năm,buổi sáng mặt trời lên,thác sẽ hiện lên hình cầu vồng với nhiều màu sắc sặc sỡ tạo khung cảnh thiên nhiên đẹp mắt; Những nếp nhà sàn của người Thái và nhà gỗ trệt của của người Hmông hiện lên trong khung cảnh bình yên của làng bản. Bên cạnh đó, Mường Lống và Mỹ Lý đều nằm trong khu sinh quyển miền Tây Nghệ An được UNESSCO công nhận với sự đa dạng về hệ thực vật, đây là tiềm năng sinh thái thu hút khách du lịch.
Cùng với các tiềm năng và thế mạnh về cảnh quan, môi trường, khí hậu, người Hmông ở Mường Lống còn được biết đến với đặc sản nổi tiếng như thịt gà đen, thịt lợn gác bếp, các loại rau củ cũng như sản phẩm của một số nghề truyền thống (thêu Pàn Tâu, sản phẩm của nghề rèn, giấy dó); Người Thái ở Mỹ Lý có những món ăn hấp dẫn: cá nướng, xôi ngũ sắc, nộm rau mì chính,… và đặc biệt là sản phẩm dệt từ sợi tơi tằm được nhiều người biết đến. Yên Hòa có tháp cổ Yên Hoà (tháp Xốp Lợt) cho rằng được xây dựng từ thế kỷ 19 với những cấu trúc hoa văn và vật liệu xây dựng độc đáo; người Thái nơi đây còn lưu giữ lễ Khàu Búa Xà (tết củ quả), cùng cảnh quan làng bản bên dòng sông Nậm Nơn. Đây là những nguồn tài nguyên mà cộng đồng đã sở hữu và có thể biến thành các sản phẩm du lịch đặc trưng của mỗi tộc người ở Mường Lống cũng như Mỹ Lý.
2.2.Người dân là chủ thể cung cấp các dịch vụ du lịch
Năm 2015 ở Mường Lống đã bắt đầucó các đoàn khách du lịch nhỏ lẻ đến tham quan, tuy nhiên dịch vụ nghỉ lại qua đêm hầu như chưa có. Đến năm 2021, theotinh thần Nghị quyết số 07/2020/NQ-HĐND ngày 22/7/2020 của UBND tỉnh, các hộ dân tại xã Mường Lống được thông tin về việc đăng ký tham gia cải tạo nhà cửa để làm du lịch. Thông qua đó, có 3 hộ của bản Mường Lống 1 xã Mường Lống đã tự đầu tư cải tạo, nâng cấp và xây dựng lại nhà cửa và đã được tỉnh hỗ trợ 100 triệu đồng/hộ để làm homestay. Đây là những hộ đầu tiên tham gia mô hình du lịch cộng đồng. Đến năm 2023, tại bản Mường Lống 2 của xã Mường Lống đã có thêm 2 hộ cung cấp dịch vụ nghỉ dưỡng tại cộng đồng.
Với bản Yên Hòa xã Mỹ Lý, từ năm 2020, do lợi thế có Tháp cổ Xốp Lợt và nhận thấy nhu cầu khách du lịch thường đến thăm tháp. Cũng theo tinh thần Nghị quyết 07 nêu trên, ở Mỹ Lý đã có 3 hộ người dân tộc Thái là Kha Văn Nghệ, Lô Văn Đán và Vi Văn Dưỡng đã tự đầu tư sửa sang lại nhà cửa và đăng ký làm dịch vụ homestay. Năm 2021, 3 hộ này cũng được hỗ trợ 100 triệu đồng/hộ, và bản Yên Hoà chính thức trở thành điểm du lịch cộng đồng của xã Mỹ Lý.
Tính đến đầu năm 2025,người dân xã Mường Lống và Mỹ Lý có thể cung cấp dịch vụ du lịch chính là nghỉ dưỡng lưu trú và homestay: Xã Mường Lống có 06 hộ (không kể 01 khu nghỉ dưỡng lưu trú do người Kinh quản lý); xã Mỹ Lý có 03 hộ. Khách du lịch tới đây có thể thưởng thức các món ăn đặc sản của địa phương, xem và nghe những bài hát điệu múa truyền thống do cộng đồng biểu diễn và nghỉ tại cộng đồng. Ngoài ra đến với Mường Lống, những du khách ưa khám phá mạo hiểm có thể leo núi Pháp, khám phá thác Rồng hay check in phong cảnh, vườn đào, vườn mận. Xã Mường Lống cũng lựa chọn 5 hộ dân với tổng diện tích trồng mận là 0,5ha cây mận được trồng lâu năm để chỉnh trang vườn cây làm điểm tham quan du lịch.Đến với Mỹ Lý, người dân có thể tham quan phong cảnh làng bản của người Thái, thăm quan và tìm hiểu truyền thuyết về tháp cổ Xốp Lợt, khám phá hang Thẳm Đạn.
Từ năm 2021 khi hoạt động du lịch bắt đầu hình thành và phát triển ở Mường Lống và Mỹ Lý, để đa dạng hoá các dịch vụ cung cấp cho du khách, các địa phương này đều có đội văn nghệ biểu diễn các điệu múa truyền thống của dân tộc. Hiện nay, đội văn nghệ bản Mường Lống 1 có 8thành viên, còn bản Mường Lống 2 có 6 thành viên. Đối với đội văn nghệ của bản Mường Lống 1 và Mường Lống 2, không chỉ có thành viên là các chị em mà còn có thêm 1-2 nam giới biết biểu diễn múa khèn của người Hmông.Tại Yên Hòa, thành viên trong đội văn nghệ là các chị em có độ tuổi từ 25đến dưới 40, họ đều thuộc và biết hát các bài hát của người Thái. Ở bản Yên Hòa còn thành lập riêng câu lạc bộ “Dân ca, dân ví bản Yên Hòa”, có số lượng thành viên là 24 người và 100% là nữ giới, sinh hoạt 1 tháng 1 lần,biểu diễn các điệu múa, bài hát truyền thống của người Thái. Các đội thường tham gia biểu diễn trong các dịp lễ hội, sự kiện văn hóa của địa phương, đồng thời phục vụ du khách khi có nhu cầu. Hoạt động này không chỉ góp phần gìn giữ các loại hình văn hóa truyền thống, mà còn tạo thêm sản phẩm văn hóa phục vụ du lịch, giúp du khách có cơ hội trải nghiệm và hiểu rõ hơn đời sống tinh thần của cộng đồng người dân nơi đây.
Bảng 2. Lượng khách du lịch đến Mường Lống và Mỹ Lý giai đoạn 2022-2025

Bảng trên là số liệu thống kê đến tháng 6 năm 2025, với sự hỗ trợ của chính quyền địa phương và sự chủ động của cộng đồng, số lượng khách biết đến Mường Lống và Mỹ Lý có xu hướng gia tăng và tham gia các dịch vụ ở địa phương này ngày một nhiều hơn.
2.2. Đời sống của người dân được cải thiện gắn với hoạt động du lịch
Thứ nhất, ngoài sinh kế truyền thống như trồng trọt, chăn nuôi, nghề thủ công… thì, đây là một nghề sinh kế hoàn toàn mới,xuất hiệntrong đời sống của một số tộc người thiểu số ở miền tây tỉnh Nghệ An[9]. Khi tìm hiểu về thu nhập từ các dịch vụ đã và đang được người dân cung cấp, cho thấy: Nếu tính riêng từ các dịch vụ cung cấp từ cộng đồng, thông thường tại mỗi hộ cung cấp dịch vụ homestaysẽ làm các công việc bao gồm: chuẩn bị sàn nghỉ, chăn đệm cho khách, lên thực đơn cho khách, chuẩn bị thực phẩm và vào bếp nấu nướng. Về thu nhập,giá tiền ngủ ở đây chỉ dao động 120.000đ/người/đêm; dịch vụ ăn uống cũng vào khoảng 150.000đ/người/bữa ăn, chính con số này đã góp phần làm thay đổi phần nào đời sống của cộng đồng. Đối với dịch vụ biểu diễn văn nghệ: tại Mường Lống, mỗi đội biểu diễn mỗi tối khoảng 1h - 1,5h và đội văn nghệ được khách trả 800.000đ/ tối; còn ở bản Yên Hòa lại trả đội văn nghệ theo số lượng bài biểu diễn, trung bình 500.000đ/bài cho cả đội múa hát, mỗi tối biểu diễn từ 2-3 bài và sau đó là giao lưu đội văn nghệ với khách du lịch. Từ Bảng 1 cũng cho thấy, song song với việc khách du lịch gia tăng thì doanh thu từ du lịch cũng tăng lên. Đặc biệt năm 2024, khi hoạt động du lịch đã hoạt động về cơ bản được 3 năm, đã tạo doanh thu gần 1 tỷ đồng (ở Mường Lống) và ở Mỹ Lý là gần 500 triệu đồng.
Thứ hai, nhờ sự hỗ trợ kinh phí của tỉnh và việc một số hộ gia đình tiên phong làm homestay (sửa sang nhà cửa, mua sắm tiện nghi…) kết hợp với chương trình xây dựng Nông thôn mới, nên từ khi tham gia mô hình du lịch cộng đồng, diện mạo của các thôn bản ít nhiều đã thay đổi theo hướng tích cực. Đó là, nhà cửa các hộ gia đình trong thôn bản được chú ý cải tạo, nâng cấp ngày càng nhiều, an ninh trật tự theo quy ước cộng đồng được duy trì, đem lại sự an toàn và an tâm cho khách lưu trú.
2.3. Bảo tồn văn hóa cộng đồng gắn với hoạt động du lịch
Du lịch cộng đồng đã góp phần quan trọng trong việc bảo tồn và truyền dạy các loại hình văn hóa dân gian. Vấn đề bảo tồn văn hóa tại cộng đồng được cả chính quyền và người dân quan tâm. Một là,thành lập đội văn nghệ tại các bản đã tạo điều kiện duy trì các làn điệu dân ca, điệu múa truyền thống và nghệ thuật thổi khèn của người Hmông. Theo một nghệ nhân tại bản Mường Lống 1 cho biết: “Thổi khèn Hmông rất khó, phải thuộc 49 bài và học 3-4 năm mới thành thạo. Hiện nay ở Mường Lống chỉ còn khoảng 4-5 người biết thổi khèn, nếu hoạt động biểu diễn được duy trì và được du khách yêu thích thì sẽ là động lực để thanh niên học thổi khèn” (PVS, Vừ Tồng P., nam, 56 tuổi, bản Mường Lống 1, năm 2025).
Hai là, quyết định số 3839/QĐ-UBND tỉnh Nghệ An ngày 23/11/2023 công nhận làng nghề thêu Pàn tâu của người Hmông ở Mường Lống. Thêu Pàn tâu là kỹ thuật thêu gắn bó từ lâu đời đối với người phụ nữ Hmông nơi đây, thể hiện rõ nét đời sống văn hóa của đồng bào dân tộc Hmông. Sản phẩm chủ yếu là các sản phẩm từ thổ cẩm như váy, áo thổ cẩm, chăn, ga, gối, túi, mũ… với nhiều màu sắc, hoa văn đặc trưng của người Hmông. Nhờ phát triển du lịch cộng đồng, hiện nay một số sản phẩm thêu của người Hmông ở Mường Lống 1 cũng được trưng bày tại các homestay để giới thiệu và quảng bá tới khách du lịch. Việc công nhận làng nghề thêu, tiếp đến là quảng bá và tiêu thụ sản phẩm phần nào giúp phụ nhữ Hmông có thêm động lực để duy trì cũng như truyền dạy nghề cho các thế hệ trẻ sau này.
Ba là, để duy trì cũng như phát triển văn nghệ truyền thống, tại các xã của tỉnh Nghệ An đều thành lập các đội văn nghệ quần chúng mang đậm bản sắc văn hoá của cộng đồng. Tại địa phương cũng đã quan tâm bồi dưỡng hoàn thiện hồ sơ công nhận các nghệ nhân văn hoá truyền thống, trong đó đã có 03 nghệ nhân được công nhận là nghệ nhân ưu tú. Bằng việc công nhận Nghệ nhân ưu tú đã cho cộng đồng thấy được tầm quan trọng, vai trò của người giữ lửa cho các giá trị văn hoá truyền thống của cộng đồng. Các nghệ nhân này có thể truyền dạy lại các lời ca, điệu múa truyền thống của cộng đồng tới lớp trẻ. Bên cạnh đó, thực hiện Dự án bảo tồn, phát huy giá trị văn hoá truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số gắn với phát triển du lịch, nghề rèn của người Hmông ở Mường Lống đã được hỗ trợ kinh phí bảo tồn nghề cho 5 hộ gia đình còn thực hành nghề rèn tại Mường Lống, mỗi hộ 35 triệu đồng[10].
2.4. Một số vấn đề đặt ra trong phát triển du lịch cộng đồng gắn với tư tưởng “dân là gốc”
Một là, vai trò chủ thể của người dân chưa được phát huy một cách đầy đủ,sự phối hợp trong cộng đồng còn chưa thực sự chặt chẽ
Mặc dù du lịch cộng đồng được xác định là loại hình du lịch do cộng đồng quản lý, khai thác và hưởng lợi nhưng trên thực tế ở Mường Lống và Mỹ Lý cho thấy, người dân chủ yếu tham gia ở những dịch vụ đơn giản như: cung cấp lưu trú, biểu diễn văn nghệ hay ẩm thực. Trong khi đó, việc xây dựng các sản phẩm du lịch, định hướng phát triển đang dừng ở việc các cơ quan quản lý ở địa phương quyết định. Thiết nghĩ, việc định hướng phát triển du lịch đối với cộng đồng ở vùng khó khăn là rất cần thiết nhưng vẫn rất cần có sự tham gia thiết thực của cộng đồng. Địa phương cần có sự huy động của cả cộng đồng vào cuộc. Chẳng hạn như, hoạt động du lịch cộng đồng cần có sự tham gia đồng lòng của cả cộng đồng làng bản mà không chỉ của riêng các hộ tham gia cung cấp dịch vụ du lịch. Cộng đồng có thể chung sức chỉnh trang, giữ vệ sinh làng bản để tạo ấn tượng ban đầu với du khách. Một hộ du lịch tham gia cung cấp dịch vụ homestay ở Mường Lống 1 cho biết : “Nhà chị cũng đã trồng các cây hoa cảnh quanh ngõ, quanh nhà để cho khuôn viên đẹp hơn, nhưng đôi khi các vật nuôi của hàng xóm vẫn phá hỏng, mình cũng khó nói để người dân xung quanh nhốt vật nuôi lại” (PVS, Lầu Y D. 42 tuổi, bản Mường Lống 1).
Bên cạnh đó, ở Mường Lống hoạt động quảng bá du lịch hầu như chưa được quan tâm đầu tư. Trong khi đó, tại đây có một người dân người Hmông là youtuber chuyên xây dựng những thước phim về cuộc sống của bà con người Hmông trong bản và được rất nhiều người dân ở các địa phương khác và ở nước ngoài biết đến. Vậy có nên chăng phối hợp giữa chính quyền địa phương, những người dân làm du lịch với Youtuber cũng như cả cộng đồng để có thể quảng bá được hình ảnh của địa phương.
Hai là, lợi ích về kinh tế còn chưa thuộc về tất cả cộng đồng:Một trong những yêu cầu của tư tưởng “dân là gốc” là mọi thành quả phát triển phải hướng tới nâng cao đời sống nhân dân. Tuy nhiên, trong thực tế, nguồn lợi từ du lịch nhiều khi tập trung vào một số chủ thể nhất định trong khi nhiều hộ dân khác trong cộng đồng hưởng lợi rất hạn chế. Thực tế tại Mường Lống và Yên Hoà cho thấy, thu nhập chủ yếu từ du lịch mặc dù chưa cao nhưng chủ yếu vẫn là thuộc về các hộđăng ký cung cấp dịch vụ homestay, hay một số chị em tham gia đội văn nghệ, đội nấu ăn mà chưa phải tạo thu nhập cho phần lớn người dân trong cộng đồng. Sự chênh lệch về thu nhập và hạn chế về cơ hội tham gia có thể làm phát sinh tâm lý so bì, giảm sự đồng thuận của cộng đồng và về lâu dài sẽ ảnh hưởng đến sự phát triền bền vững của loại hình du lịch này.
Ba là, nguy cơ mai một bản sắc văn hoá của địa phương: Mặc dù du lịch cộng đồng đem lại nguồn lợi về kinh tế như tạo việc làm, tăng thu nhập, giúp người dân địa phương giao lưu văn hóa với khách du lịchđến từ những vùng địa lý khác nhau. Tuy nhiên, sự xuất hiện ồ ạt của nhiều luồng văn hóa khác nhau cũng ít nhiều khiến văn hóa địa phương thay đổi, bên cạnh đó cũng tạo ra vấn đề thương mại hóa văn hóa và phai nhạt văn hóa truyền thống[11]. Tại Mường Lống, có mộthộ cung cấp dịch vụ nghỉ homestay là người Hmông nhưng lại sử dụng nhà sàn của người Thái. Lý do là, họ được đi tham quan đa số là những nơi homestay của người Thái, hai là nếu xây dựng ngôi nhà của người Hmông để cung cấp dịch vụ nghỉ dưỡng sẽ gặp phải vấn đề khó khăn về đất đai và những điều kiêng kị trong ngôi nhà của người Hmông. Như vậy, ý nghĩa đối với du khách khi tham gia du lịch cộng đồng là tìm hiểu văn hoá của cộng đồng sẽ có thể bị nhìn nhận sai lệch khi đến bản người Hmông nhưng lại ở ngôi nhà mang đặc trưng của người Thái. Một điều nữa là, tại bản Yên Hoà, khi chúng tôi được xem và nghe các tiết mục biểu diễn của đội văn nghệ, đa số các bài hát trong chương trình đều là bài hát tiếng Kinh, loa nhạc theo phong cách người Kinh và chỉ có người tham gia biểu diễn mặc trang phục truyền thống của người Thái. Khi được hỏi tại sao lại không biểu diễn bài hát của người Thái, chúng tôi nhận được câu trả lời “sợ rằng khách không hiểu được bài hát của người Thái có thể khách sẽ không thích” (PVS, Vi Thị M, 33 tuổi, bản Yên Hoà). Thiết nghĩ, tại các điểm du lịch cộng đồng, người dân/cộng đồng phải là người giữ vai trò quyết định trong bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá của họ và đây mới là sức hấp dẫn cho điểm đến của du lịch cộng đồng.
Bốn là, năng lực tham gia của cộng đồng còn hạn chế: Khả năng giao tiếp bằng tiếng phổ thông chưa tốt,đặc biệt là phụ nữ, đang là một trong những cản trở của cả cộng đồng người Hmông và người Thái ở các điểm nghiên cứu. Thực tế khảo sát cho thấy, các hộ kinh doanh homestay ở Mường Lống 5/6 hộ có cả vợ và chồng đều giao tiếp tốt tiếng phổ thông, một hộ người vợ không giao tiếp được bằng thiếng phổ thông, trong khi đó tại Mỹ Lý thì chỉ có chủ hộ là nam giới mới giao tiếp thành thạo tiếng phổ thông. Phụ nữ không chủ động nói tiếng phổ thông, e ngại khi tiếp xúc với du khách là nam giới[12]. Không chỉ có vậy, các kỹ năng về quảng bá sản phẩm, bán hàng và tri thức văn hoá tộc người của cộng đồng ở cả hai điểm nghiên cứu còn hạn chế. Khi phỏng vấn, một chủ homestay của người Thái ở bản Yên Hoà cho biết “homestay giống như nhà nghỉ ngoài thị trấn để khách du lịch nghỉ qua đêm tại nhà dân” (PVS, Lường Văn D, 52 tuổi, bản Yên Hoà), nhưng thực chất, dịch vụ này không chỉ mang ý nghĩa là nơi nghỉ qua đêm mà còn là nơi sinh hoạt văn hoá của cộng đồng, giúp du khách hiểu thêm các đặc trưng văn hoá của cộng đồng thông qua không gian sống của họ. Một điểm yếu nữa đó là, khả năng tiếp cận thông tin nói chung và các thông tin về du lịch cộng đồng của người dân còn hạn chế. Mặc dù gần như 100% người trưởng thành trong cộng đồng đều có điện thoại di dộng.Tuy nhiên việc tìm kiếm thông tin về du lịch thông qua điện thoại thì hầu hết các chị em tại các hộ đã đăng kí mở homestay đều chưa thông thạo, chưa nói đến việc quảng cáo đăng các hình ảnh về hoạt động du lịch tại địa phương lại là điều rất mới đối với họ[13].Tất cả những điểm yếu trên khiến người dân gặp khó khăn trong việc chủ động tham gia chuỗi giá trị du lịch, đồng thời làm giảm khả năng cạnh tranh sản phẩm du lịch cộng đồng đối với các địa phương khác.
Năm là, tác động của thiên tai và biến đổi khí hậu: Trong những năm gần đây, thiên tai và biến đổi khí hậu trở nên bất thường, khó dự đoán đã gây ảnh hưởng đến đời sống của người dân nói chung và hoạt động du lịch cộng đồng nói riêng. Tại điểm nghiên cứu bản Yên Hoà xã Mỹ Lý, trận mưa lớn gây lũ quét vào tháng 7/2025 đã làm hỏng nhiều hệ thống giao thông, đường điện và thông tin liên lạc trong xã. Khảo sát nhanh toàn xã đã có 231 ngôi nhà bị hư hỏng trong đó 109 nhà bị thiệt hại trên 70% và 122 nhà bị hư hỏng từ 50-70%[14]. Đặc biệt, tại bản Yên Hòa, cây cầu treo bắc qua sông Nậm Nơn, con đường nhanh nhất vào bản đã bị nước lũ cuốn trôi. Cầu treo bị cuốn trôi khiến bản Yên Hòa bị cô lập, du khách không thể tiếp cận trong thời gian dài. Điều này đồng nghĩa với các dịch vụ lịch tại Yên Hòa (homestay, dịch vụ biểu diễn văn nghệ, bán hàng thổ cẩm) không thể tiếp tục cung cấp và dẫn đến những người phụ nữ - đảm nhiệm phần lớn các công việc này, không có việc làm; mưa lũ làm nhà cửa bị hư hại, cảnh quan bản làng bị tàn phá nặng nề. Khi môi trường để phát triển du lịch bị ảnh hưởng thì người dân khó có thể thể hiện vai trò, vị trí của mình trong phát triển du lịch.
2.5. Giải pháp vận dụng hiệu quả tư tưởng “dân là gốc” trong hoạt động du lịch cộng đồng
“Dân là gốc”, dân chính là cộng đồng trong toàn bộ mắt xích của hoạt động du lịch. Để tiếp tục phát huy vai trò chủ thể của người dân trong phát triển du lịch cộng đồng vùng đồng bào dân tộc thiểu số trong giai đoạn mới, một số giải pháp đề xuất gồm:
Một là, phát huy hơn nữa vai trò chủ thể của người dân và tăng cường sự gắn kết trong cộng đồng: Tư tưởng “dân là gốc” đòi hỏi người dân phải trở thành trung tâm và chủ thể của quá trình phát triển du lịch. Vì vậy, cần bảo đảm sự tham gia thực chất của người dân trong toàn bộ các khâu từ lên kế hoạch, xây dựng sản phẩm, cung cấp sản phẩm, phát triển sản phẩm cũng như tổ chức hoạt động du lịch. Cân nhắc thành lập Ban quản lý Du lịch cộng đồng với sự tham gia của đại diện nhóm hộ làm du lịch, trưởng bản, phụ nữ, thanh niên. Mọi quyết định liên quan đến phát triển du lịch cộng đồng nên được thảo luận công khai trong cộng đồng nhằm tìm sự đồng thuận và trách nhiệm chung của cộng đồng. Cụ thể ở Mường Lống, cần nâng cao vai trò của Hợp tác xã du lịch nông nghiệp Mường Lống, lập kế hoạch, giao nhiệm vụ và quyền hạn đối với cộng đồng cung cấp dịch vụ homestay, cộng đồng cung cấp nguồn lương thực cho ẩm thực, cộng đồng thực hiện quảng bá sản phẩm, cộng đồng giữ gìn cảnh quan làng bản.
Lấy “dân là gốc” cho thấy, việc tham gia phát triển du lịch không chỉ giới hạn ở các hộ kinh doanh cung cấp dịch vụ du lịch mà phải trở thành trách nhiệm và quyền lợi chung của cộng đồng. Để làm được việc đó, nên: i) phát động phong trào xây dựng “Bản du lịch xanh”, trong đó tất cả các hộ dân đều có trách nhiệm gìn giữ cảnh quan, vệ sinh môi trường, quản lý vật nuôi để bảo vệ và nâng cao hình ảnh của điểm đến; ii) trong công tác quảng bá du lịch, cần có cơ chế phối hợp giữa chính quyền địa phương, các hộ làm du lịch, cộng đồng dân cư và những cá nhân trong cộng đồng có ảnh hưởng trên mạng xã hội. Trường hợp tại Mường Lống cho thấy sự hiện diện của một Youtuber địa phương là lợi thế lớn. Địa phương cần chủ động hỗ trợ, kết nối và xây dựng chiến lược truyền thông số dựa trên các câu chuyện đời sống, văn hóa và thiên nhiên của người dân tại chỗ, qua đó lan tỏa hình ảnh điểm đến một cách chân thực, hiệu quả và ít tốn kém.
Hai là, nâng cao năng lực tham gia của cộng đồng. Để người dân thực sự là chủ thể thì việc nâng cao năng lực của người làm chủ là rất cần thiết.Hoạt động đào tạo này cần ưu tiên đối tượng là phụ nữ và thanh niên vì đây là lực lượng trực tiếp tham gia hoạt động du lịch nhưng còn gặp nhiều rào cản về ngôn ngữ và kỹ năng cung cấp dịch vụ du lịch. Tiếp tục tăng cường các hoạt động tham quan, học tập kinh nghiệm tại các mô hình du lịch cộng đồng thành công để người dân được tiếp cận với những cách làm hiệu quả này. Đặc biệt, với cộng đồng người Hmông nên tập trung lực chọn mô hình mà người Hmông ở các địa phương đã thực hiện thành công để giới thiệu và tương tự đối với cộng đồng người Thái. Ngoài ra, cần đẩy mạnh chuyển đổi số trong du lịch cộng đồng thông qua việc xây dựng các nhóm mạng xã hội, trang thông tin điện tử, sơ đồ/bản đồ du lịch số để nâng cao khả năng tiếp cận thị trường của người dân cũng như khả năng tìm hiểu của khách du lịch tại điểm đến.
Ba là, chú trọng hơn nữa việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của cộng đồng. Đặc biệt, các công trình homestay, không gian trải nghiệm và chương trình văn nghệ cần ưu tiên phản ánh đúng bản sắc của người dân sở tại và phải bảo đảm giữ được các yếu tố văn hóa đặc trưng của cộng đồng. Dựa trên đặc trưng văn hóa của cộng đồng để dựng những ngôi nhà ở truyền thống phù hợp với nhu cầu của du lịch nhưng cần đảm bảo giữ được các yếu tố văn hóa đặc trưng của dân tộc. Trong biểu diễn văn nghệ, cần khuyến khích cộng đồng trình diễn các làn điệu dân ca, nhạc cụ, lễ hội truyền thống và nghệ thuật dân gian của chính dân tộc mình. Ngoài ra, nội dung của lời ca, điệu múa có thể được kết hợp thuyết minh hoặc giới thiệu về ý nghĩa trước mỗi tiết mục để du khách có thể hiểu rõ hơn tiết mục văn nghệ mà mình đang xem, đang nghe. Điều này tạo sự chân thực và trải nghiệm văn hóa độc đáo cho du khách.
Bốn là, tăng cường khả năng thích ứng với thiên tai và biến đổi khí hậu trong cộng đồng. Thiên tai và biến đổi khí hậu đang là một trong những thách thức chung của các vùng miền trong đó có vùng dân tộc thiểu số. Trường hợp nghiên cứu ở bản Yên Hòa xã Mỹ Lý là một ví dụ. Vì thế, mỗi địa phương cần có sự lồng ghép nội dung thích ứng với thiên tai và biến đổi khí hậu trong chiến lược phát triển du lịch cộng đồng. Trước hết, địa phương cần ưu tiên đầu tư cơ sở hạ tầng, đường giao thông, điện, thông tin liên lạc và công trình phòng chống thiên tai tại các điểm du lịch.Tạo điều kiện về vốn cho hoạt động phát triển du lịch. Về chiến lược lâu dài, cần xây dựng các cơ chế phục hồi du lịch nói riêng và sinh kế nói chung sau thiên tai, hỗ trợ tín dụng ưu đãi cũng như bảo hiểm rủi do cho các hộ kinh doanh du lịch nhằm giúp cộng đồng nhanh chóng phục hồi hoạt động du lịch sau biến cố thiên tai. Bởi thực tế ở bản Yên Hòa cho thấy, nơi đây được xác định là điểm du lịch cộng đồng của địa phương, và đã được người dân cũng như chính quyền địa phương đầu tư vốn cho du lịch. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của thiên tai khiến người dân không kịp trở tay và hoạt động du lịch cộng đồng tại Yên Hoà từ tháng 7/2025 đến nay chưa thể khắc phục được. Nếu như với những điểm được xác định là điểm du lịch cộng đồng, cần có một quỹ riêng để đầu tư cho du lịch và thực hiện những nhiệm vụ đột xuất như khắc phục sau thiên tai, tái xây dựng điểm du lịch như trường hợp của bản Yên Hoà, xã Mỹ Lý.
Kết luận
Tư tưởng trọng dân, coi “dân là gốc” là một trong những bài học được Đảng ta tổng kết, ghi nhận như một chân lý tuyệt đối đặc biệt là với vận mệnh của Đảng Cộng sản Việt Nam. Vận dụng trong hoạt động du lịch cộng đồng “dân là gốc” chính là “cộng đồng là gốc”và thể hiện ở việc người dân là chủ thể của tài nguyên du lịch, được tham gia, được quyết định và trở thành chủ thể của quá trình phát triển.
Vận dụng tư tưởng “dân là gốc” trong phát triển du lịch cộng đồng vùng đồng bào dân tộc thiểu số nước ta nói chung và hai xã Mường Lống, Mỹ Lý của của tỉnh Nghệ An thấy: “cộng đồng người Hmông, người Thái” - chủ sở hữu tài nguyên du lịch nhưng mới chỉ tham gia vào hoạt động du lịch ở mức độ bước đầu (có một số lượng nhỏ cộng đồng tham gia cung cấp dịch vụ du lịch và hưởng lợi từ du lịch; đặc trưng văn hóa của cộng đồng bắt đầu được bảo tồn và phát huy gắn với du lịch, các cấp lãnh đạo dựa trên thực tế của địa phương đã đề ra những chính sách để phát triển du lịch cộng đồng). Để vận dụng có hiệu quả tư tưởng “dân là gốc” trong phát triển du lịch cộng đồng ở nơi đây, một số giải pháp được đề xuất: phát huy đầy đủ vai trò chủ thể của người dân và tăng cường sự gắn kết cộng đồng; bảo đảm sự tham gia và có trách nhiệm vì quyền lợi chung của cộng đồng; bảo đảm phân phối lợi ích trong cộng đồng; nâng cao năng lực cộng đồng, tăng cường khả năng thích ứng với thiên tai và biến đổi khí hậu của cộng đồng.
Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu phát huy mạnh mẽ các nguồn lực văn hóa và con người, việc vận dụng tư tưởng “dân là gốc” trong phát triển du lịch cộng đồng càng có ý nghĩa quan trọng. Khi người dân thực sự trở thành chủ thể của phát triển, du lịch cộng đồng không chỉ là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế mà còn là con đường hiệu quả để bảo tồn văn hóa, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi.
[1]Đảng cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IVX, Nxb. Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội.
[2]Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2017), Luật du lịch, số 09/2017/QH14, có hiệu lực ngày 01/01/2018.
[3]Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Nghệ An (2026), Báo cáo đánh giá thực trạng phát triển du lịch cộng đồng khu vực miền Tây Nghệ An.
[4] Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội. tr.66.
[5]Ban Tuyên giáo Trung ương, (2016), Tài liệu học tập văn kiện Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, Nxb.Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 20.
[6]Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.27-28.
[7]Nghị định số 272/2025/NĐ-CP ngày 16/10/2025 về Phân định vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2030.
[8]Ủy ban nhân dân xã Mỹ Lý(2025), Báo cáo Kết quả rà soát và hoàn thiện các điều kiện đề xây dựng hồ sơ đề nghị công nhận điểm du lịch.
[9]Vi Văn An, Trần Thị Thủy (2022), Du lịch cộng đồng - sinh kế mới của người Thái ở huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An, trong “Phát triển sinh kế bền vững của các tộc người ở nước ta hiện nay”, Kỷ yếu hội nghị Dân tộc học quốc gia năm 2021, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.
[10]Sở Văn hoá Thể thao và Du lịch tỉnh Nghệ An(2026), Báo cáo Đánh giá thực trạng phát triển du lịch cộng đồng khu vực miền Tây Nghệ An
[11]Đặng Thị Diệu Trang, Phạm Quỳnh Phương, Nguyễn Tuệ Chi, Nguyễn Thị Yên(2019),Du lịch dựa vào cộng đồng và sự biến đổi văn hóa địa phương, Nxb. Hội nhà văn, Hà Nội.
[12]Đoàn Việt (2025), Nguồn nhân lực trong du lịch cộng đồng vùng dân tộc thiểu số tỉnh Nghệ An, Tạp chí Dân tộc học và Tôn giáo học, số 5.
[13]Phạm Thị Cẩm Vân (2026), Khai thác nguồn lực văn hóa trong phát triển du lịch cộng đồng của người Hmông ở xã Mường Lống, tỉnh Nghệ An, Tạp chí Dân tộc học và Tôn giáo học, số 2.