Xây dựng khung pháp lý cho hoạt động huy động vốn cộng đồng nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân theo Nghị quyết số 68-NQ/TW
Trang thông tin điện tử Viện Nhà nước và Pháp luật xin giới thiệu đến bạn đọc bài viết của TS. Bùi Thị Hằng Nga (Khoa Luật, Trường Đại học Kinh tế -Tài chính Thành phố Hồ Chí Minh) và ThS. Trương Ứng Minh (Chuyên viên Hành chính Nhân sự, Đơn vị Nghiên cứu Lâm sàng Đại học Oxford) đăng trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số chuyên đề 11+12 (443) năm 2025.
Tóm tắt: Một trong những
nội dung cốt lõi của Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị là
đẩy mạnh và đa dạng hóa nguồn vốn cho kinh tế tư nhân, khuyến khích các
mô hình tài chính sáng tạo, tận dụng thành tựu chuyển đổi số thúc đẩy khởi nghiệp
và đổi mới sáng tạo. Trong bối cảnh đó, huy động vốn cộng đồng nổi lên
như một hình thức huy động tài chính phi truyền thống, dựa trên nền tảng công
nghệ số, cho phép các doanh nghiệp tư nhân, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ, siêu
nhỏ và khởi nghiệp, tiếp cận nguồn vốn xã hội hóa nhanh chóng, linh hoạt và
minh bạch. Trên cơ sở tham khảo khung pháp lý về huy động vốn cộng đồng của
Singapore, Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu, bài viết đưa ra các đề xuất xây dựng
khung pháp lý cho huy động vốn cộng đồng tại Việt Nam.
Từ khoá: Huy động vốn cộng
đồng, kinh tế tư nhân, Nghị quyết số 68-NQ/TW, fintech.
Ảnh minh họa. Nguồn: Internet
Đặt vấn đề
Từ sau cuộc khủng hoảng kinh tế
năm 2008, ngành tài chính đã chứng kiến sự kết hợp của các công nghệ Internet,
điện thoại thông minh, truyền thông xã hội, trí tuệ nhân tạo (AI) và phân tích
dữ liệu lớn để hình thành nên công nghệ tài chính (Financial
Technology-Fintech). Một trong những hoạt động kinh doanh của Fintech là huy động
vốn cộng đồng (crowdfunding), đã phát triển nhanh trong thập niên qua, hướng đến
phục vụ khách hàng có nhu cầu huy động vốn cho dự án sáng tạo, nghệ thuật hay
các công ty vừa và nhỏ vốn khó tiếp cận vốn vay của định chế tài chính truyền
thống. Các quốc gia phát triển đều có khuôn khổ pháp lý để quản trị hoạt động
này.
Tại Việt Nam, huy động vốn cộng đồng
đã xuất hiện trong vài năm gần đây, song nước ta chưa có quy định pháp luật cụ
thể và rõ ràng để điều chỉnh, tạo nên khoảng trống hay vùng xám pháp lý, tiềm ẩn
rủi ro cho các bên khi tham gia hoạt động này. Đa số các dự án của người Việt
Nam lại kêu gọi vốn trên các sàn của nước ngoài (như GoFundMe, Kickstater,
Indiegogo…). Điển hình là start up xe đạp in 3D Supertrata của bà Lê Diệp Kiều
Trang đã gọi vốn thành công hơn 7 triệu USD vào năm 2020 trên sàn Indiegogo,
song sau đó dự án này đã ngừng vì nhiều lý do, gây tổn thất cho các nhà đầu tư.
Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày
04/5/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 68-NQ/TW) đã xác định rõ vai trò
trung tâm của kinh tế tư nhân trong chiến lược phát triển kinh tế đất nước, nhấn
mạnh yêu cầu phải hoàn thiện thể chế, tạo điều kiện thuận lợi để khu vực này
phát triển nhanh, bền vững và trở thành một trong những động lực quan trọng nhất
của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Một trong những nội
dung cốt lõi của Nghị quyết là nâng cao khả năng tiếp cận nguồn lực, đặc biệt
là vốn cho kinh tế tư nhân, khuyến khích các mô hình tài chính sáng tạo, tận dụng
thành tựu chuyển đổi số để thúc đẩy khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo. Từ đó, đặt
ra nhiệm vụ: Ban hành khung pháp lý thử nghiệm có kiểm soát về cho vay ngang
hàng, về sàn giao dịch gọi vốn cộng đồng để kết nối trực tiếp doanh nghiệp nhỏ
và vừa với cá nhân, tổ chức tài trợ vốn[1].
Với các đặc trưng của mình, huy động
vốn cộng đồng được xem như một hình thức huy động tài chính phi truyền thống, dựa
trên nền tảng công nghệ số, cho phép các doanh nghiệp tư nhân, đặc biệt là
doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ và khởi nghiệp, tiếp cận nguồn vốn xã hội hóa nhanh
chóng, linh hoạt và minh bạch. Không chỉ giải quyết bài toán vốn, huy động vốn
cộng đồng còn tạo điều kiện cho doanh nghiệp kết nối thị trường, kiểm nghiệm sản
phẩm và khơi dậy tinh thần sáng tạo từ cộng đồng. Với những đặc trưng này, huy động
vốn cộng đồng là công cụ thiết thực góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị
quyết số 68-NQ/TW, đặc biệt trong việc xây dựng một khu vực kinh tế tư nhân
năng động, sáng tạo và hội nhập.
1. Khái niệm, bản chất pháp lý
và rủi ro của hoạt động huy động vốn cộng đồng
1.1. Khái niệm hoạt động
huy động vốn cộng đồng
Hiện nay, việc đưa ra một định
nghĩa hoàn chỉnh về huy động vốn cộng đồng thường gặp khó khăn vì sự thay đổi
trong ngành rất nhanh chóng[2]. Hướng tiếp cận thứ nhất trong định nghĩa
huy động vốn cộng đồng là cố gắng đơn giản hoá nội hàm của khái niệm. Theo đó,
huy động vốn cộng đồng “là một chiến lược gây quỹ tập trung vốn, thường với
số lượng nhỏ, từ một nhóm lớn người”[3], hoặc “nơi những người đóng góp
hoặc nhà đầu tư cung cấp tiền cho một cá nhân hoặc doanh nghiệp dưới dạng quyên
góp hoặc đổi lấy một khoản nợ phải trả theo thời gian, một cổ phần hoặc một phần
thưởng”[4]. Tuy nhiên, cả hai định nghĩa trên đều
chưa làm rõ sự khác biệt giữa huy động vốn cộng đồng với một hình thức huy động
vốn khác, vốn phổ biến hơn: Chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng (Initial
Public Offering-IPO).
Các định nghĩa khác về huy động vốn
cộng đồng như: “là việc tài trợ cho một dự án hoặc một dự án kinh doanh bởi
một nhóm cá nhân thay vì các bên chuyên nghiệp (ví dụ ngân hàng, nhà đầu tư mạo
hiểm, quỹ đầu tư thiên thần)”[5]. Hay như, năm 2021 trong chuyên khảo
về khía cạnh pháp lý của huy động vốn cộng đồng, tác giả Caroline
Kleiner định nghĩa huy động vốn cộng đồng là “một phương thức cấp vốn thực
hiện bởi số lượng lớn người sử dụng các nền tảng trên Internet”[6]. Những định nghĩa như vậy nhấn mạnh khía
cạnh nguồn gốc vốn từ cộng đồng song vẫn chưa xác định được đầy đủ đặc điểm của
huy động vốn cộng đồng.
Năm 2012, trong nghiên cứu về
cách thức huy động vốn cộng đồng tác động đến hành vi tiêu dùng của xã hội, các
tác giả Paul Belleflamme, Thomas Lambert và Armin
Schwienbacher nhấn mạnh vai trò của Internet:“Huy động vốn cộng đồng là một
lời kêu gọi cởi mở, chủ yếu thông qua Internet, để cung cấp nguồn tài chính dưới
hình thức quyên góp hoặc đổi lấy một số sản phẩm trong tương lai hoặc một số
hình thức tặng phẩm và /hoặc quyền biểu quyết”[7]. Định nghĩa này rõ ràng làm nổi bật
một khía cạnh của huy động vốn cộng đồng: Lời kêu gọi đầu tư thông qua môi trường
Internet một cách rộng rãi, đồng thời liệt kê ba hình thức của mô hình huy động
vốn cộng đồng như quyên góp, tặng thưởng, quyền biểu quyết.
Như vậy, dựa trên đặc trưng và
phương thức thực hiện có thể hiểu huy động vốn cộng đồng là phương thức huy động
vốn trong đó một dự án (vì lợi nhuận hoặc không vì lợi nhuận) huy động sự đóng
góp tài chính từ cộng đồng trên môi trường Internet thông qua nền tảng cung cấp
dịch vụ huy động vốn cộng đồng.
1.2. Bản chất pháp lý và
các phương thức thực hiện của hoạt động huy động vốn cộng đồng
Hoạt động huy động vốn cộng đồng
liên quan đến ba chủ thể là bên huy động vốn, bên góp vốn (tổ chức, cá nhân ủng
hộ tài chính cho bên huy động vốn) và nền tảng cung cấp dịch vụ huy động vốn cộng
đồng. Huy động vốn cộng đồng, về bản chất pháp lý, là giao dịch dân sự về tài sản
(tặng cho, cho vay, mua bán, hoặc đầu tư - tuỳ vào mô hình con) giữa bên đóng
góp và bên tìm kiếm/huy động vốn. Đồng thời, giao dịch ấy được thực hiện thông
qua nền tảng giao dịch trực tuyến là website, phần mềm của nền tảng cung cấp dịch
vụ huy động vốn cộng đồng.
Mô hình vận hành của huy động vốn
cộng đồng, có thể chia mô hình mang tính đầu tư, gồm có huy động vốn cộng đồng
dựa trên nợ (debt-based crowdfunding), huy động vốn cộng đồng dựa trên cổ phần
(equity-based crowdfunding) và mô hình không mang tính đầu tư: Huy động vốn cộng
đồng dựa trên quyên góp (donation -based crowdfunding) và huy động vốn cộng đồng
dựa trên phần thưởng (reward-based crowdfunding).
- Huy động vốn cộng đồng dựa trên
nợ: Bao gồm một số mô hình con như cho vay ngang hàng (Peer-to-peer lending),
cho vay vì lợi ích cộng đồng (pro-social lending), cho vay cân đối kế toán
(balance sheet lending).
- Huy động vốn cộng đồng dựa trên
cổ phần là hoạt động mà cá nhân hoặc tổ chức đầu tư vào mua chứng khoán hoặc vốn
chủ sở hữu đã đăng ký từ một doanh nghiệp, chủ yếu là các công ty còn non trẻ[8]. Doanh nghiệp bán một lượng cổ phần hoặc
trái phiếu nhất định trên nền tảng cho nhà đầu tư. Có các mô hình con như: Huy
động vốn cộng đồng bất động sản, chứng khoán nợ, trái phiếu nhỏ, chia sẻ lợi
nhuận, cổ phần cộng đồng.
- Huy động vốn cộng đồng dựa trên
phần thưởng và huy động vốn cộng đồng quyên góp - là hai mô hình con phổ biến
nhất. Ở cả hai mô hình con này, các cá nhân tài trợ cho một dự án, một cá nhân
hoặc một doanh nghiệp mà không mong đợi lợi nhuận. Mô hình huy động vốn cộng đồng
dựa trên phần thưởng thực chất là một loại hợp đồng đặt hàng trước sản phẩm hay
dịch vụ[9]. Mô hình huy động vốn cộng đồng quyên
góp thì không hứa hẹn phần thưởng hữu hình nào và nhà tài trợ có thể có cảm
giác hài lòng khi đóng góp vào điều gì đó mà họ cho là quan trọng và đam mê[10]. Một biến thể thú vị của mô hình quyên
góp là mô hình bảo trợ, bao gồm các khoản thanh toán giống như đăng ký (thay vì
quyên góp một lần) cho cá nhân (thường là nghệ sĩ) để tài trợ cho một công việc
hoặc sự nghiệp đang diễn ra[11].
1.3. Rủi ro và nhu cầu điều
chỉnh của pháp luật đối với hoạt động huy động vốn cộng đồng
Huy động vốn cộng đồng là một
kênh mới mẻ, xuất hiện để góp phần “lấp” khoảng trống giữa nhu cầu vốn của tổ
chức, cá nhân với khả năng đáp ứng của các tổ chức tín dụng trong kênh truyền
thống, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ vốn chưa có lịch sử tài chính đủ
khả năng vay vốn. Chiến dịch huy động vốn cộng đồng cung cấp một “phép thử” thị
trường cho sản phẩm, dịch vụ của dự án. “Phép thử” này giúp bên huy động vốn thử
nghiệm, quảng bá và tiếp thị sản phẩm, dịch vụ của họ, giúp họ hiểu rõ hơn thị
hiếu của người tiêu dùng hoặc trong việc tạo ra sản phẩm, dịch vụ mới hoàn
toàn.
Có thể thấy, rủi ro trong huy động
vốn cộng đồng bắt nguồn từ sự bất cân xứng thông tin giữa bên huy động vốn và
nhà đầu tư. Các công ty, dự án huy động vốn cộng đồng không nằm dưới cơ chế
giám sát công bố thông tin chặt chẽ như các công ty đại chúng, vì vậy họ có thể
không tiết lộ đầy đủ về rủi ro, chi phí, hoặc các thách thức mà dự án có thể gặp
phải. Điều này dẫn đến nguy cơ bên huy động vốn gian lận về tình hình tài
chính. Đối với mô hình huy động vốn cộng đồng dựa trên nợ, bên vay là tổ chức,
cá nhân có thể không trả được khoản vay, do đó bên huy động vốn đối mặt rủi ro
vỡ nợ, làm ảnh hưởng quyền và lợi ích của bên góp vốn. Còn đối với mô hình huy
động vốn cộng đồng dựa trên cổ phần, trường hợp công ty vỡ nợ sẽ dẫn đến khoản
đầu tư của bên góp vốn bị mất toàn bộ. Bởi lẽ, việc bán cổ phần của một công ty
hoặc trái phiếu trên nền tảng huy động vốn cộng đồng không hề dễ dàng do tính
thanh khoản thấp.
Mặt khác, với tư cách của nhà đầu
tư, vì giá trị khoản đầu tư nhỏ nên cá nhân ít khi có động lực để thực hiện thẩm
định đầu tư[12]. Họ thường chịu ảnh hưởng từ quyết định
đầu tư của người khác: Nếu nhiều người bắt đầu ủng hộ một dự án, những người
khác có thể theo đuổi vì họ tin rằng dự án đó có tiềm năng.
Bên cạnh đó, rủi ro của hoạt động
huy động vốn cộng đồng còn có thể đến từ cơ chế lợi nhuận của nền tảng huy động
vốn cộng đồng, góp phần tăng xung đột lợi ích giữa nền tảng và nhà đầu tư. Hầu
hết các nền tảng được trả thù lao dựa trên các chiến dịch huy động vốn cộng đồng
thành công. Do vậy, để tối ưu hoá lợi nhuận, các nền tảng có động lực cung cấp
một số lượng lớn các dự án cho thị trường bất kể dự án đó có tiềm năng sinh lợi
hay không[13]. Rủi ro từ bất cân xứng thông tin, nếu
không được khắc phục, có thể khiến thị trường huy động vốn cộng đồng không phát
triển lành mạnh. Bên cạnh đó, do bản chất dựa trên Internet của hoạt động huy động
vốn cộng đồng: Rủi ro trộm cắp danh tính, rửa tiền hay tài trợ khủng bố, cũng
như tất cả rủi ro liên quan đến vi phạm bảo vệ dữ liệu[14].
Những rủi ro như vậy đặt ra yêu cầu
xây dựng khung pháp lý hiệu quả nhằm điều chỉnh đối với hoạt động huy động vốn
cộng đồng. Các quy định pháp luật về huy động vốn cộng đồng cần dựa trên sự cân
bằng của hai mục tiêu xung đột: Thúc đẩy hình thành vốn và bảo vệ nhà đầu tư.
2. Pháp luật về huy động vốn cộng
đồng của Singapore, Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu
2.1. Pháp luật điều chỉnh
hoạt động huy động vốn cộng đồng của Singapore
Ở Singapore, hoạt động huy động vốn
cộng đồng hiện được Cơ quan Tiền tệ Singapore (Monetary Authority of Singapore
- MAS) quản lý trong khuôn khổ của Đạo luật Chứng khoán và Hợp đồng tương lai
(Singapore’s Securities and Futures Act - SFA).
Theo đó, đối với các nền tảng
cung cấp dịch vụ huy động vốn cộng đồng (gọi tắt là nền tảng), họ phải có giấy
phép Dịch vụ thị trường vốn (Capital Markets Services - CMS)[15] do MAS cấp[16], trừ một số trường hợp nhất định mà theo
quy định pháp luật Singapore cần những loại giấy phép khác[17]. Các nền tảng trong mô hình huy động vốn
cộng đồng dựa trên nợ có thể tìm cách tránh đăng ký giấy phép CMS nếu họ không
cung cấp các dịch vụ được SFA quy định. Họ có thể thực hiện việc này bằng cách
để các bên (bên huy động vốn và bên góp vốn) tự đàm phán, thoả thuận những điều
khoản vay và chuyển tiếp thông tin công ty công bố cho nhà đầu tư mà không được
phép khuyến nghị hay chào mời dịch vụ nghiên cứu nội bộ nào khác. Trên thực tế,
ở Singapore tồn tại song song cả hai nhóm nền tảng: Một nhóm hoạt động theo giấy
phép CMS, nhóm còn lại không cung cấp các dịch vụ phải xin giấy phép CMS. Giấy
phép CMS yêu cầu các nền tảng phải đáp ứng những điều kiện nhất định, có một số
vốn tối thiểu (từ 50.000 đến 1.000.000 đô-la Singapore tuỳ trường hợp) đồng thời
nộp tiền ký quỹ 100.000 đô-la Singapore[18]. Khoản tiền ký quỹ này dùng để bồi thường
cho cá nhân trong trường hợp họ bị thiệt hại vì hành vi sai trái của bên có giấy
phép CMS và các đại lý của bên có giấy phép CMS[19]. Nền tảng có thể được cấp giấy phép CMS
mà không phải nộp tiền ký quỹ và đáp ứng tiêu chuẩn vốn thấp hơn, song họ không được thực hiện chức
năng xử lý, nắm giữ hoặc chấp nhận tiền, tài sản hoặc vị thế của khách hàng; không hoạt động như một bên
chính trong các giao dịch với các nhà đầu tư[20].
Đối với bên huy động vốn, họ cần
công bố bản cáo bạch. Bản cáo bạch chứa tất cả thông tin mà nhà đầu tư và cố vấn
chuyên môn của họ[21]. Việc đưa ra thông tin sai sự thật hoặc
gây hiểu nhầm trong bản cáo bạch có thể dẫn đến trách nhiệm pháp lý (dân sự hoặc
hình sự[22]) đối với giám đốc của bên phát hành, bên
bảo lãnh hay bất kỳ cá
nhân nào đã đưa ra tuyên bố và đồng ý được nêu tên trong bản cáo bạch. Ngoài
ra, có một số trường hợp luật định cho phép bên huy động vốn được miễn công bố
bản cáo bạch: Chào bán nhỏ (quy mô đợt chào bán không quá 5.000.000 đô-la
Singapore và thời hạn không quá 12 tháng); chào bán riêng lẻ cho tối đa không
quá 50 người trong 12 tháng; chào bán cho các tổ chức như ngân hàng, công ty bảo
hiểm, tổ chức quản lý quỹ... hoặc các “nhà đầu tư được công nhận”[23]. Bên chào bán phải gửi thông báo bằng
văn bản đến MAS về ý định chào bán trước khi thực hiện. Người nhận chào bán
cũng phải được bên chào bán thông báo bằng văn bản về các miễn trừ mà bên chào
bán được hưởng - ở đây là miễn trừ về bản cáo bạch[24].
Singapore cũng quy định nền tảng
huy động phải thực hiện quy trình “tiền thẩm định nhà đầu tư” trong trường hợp
chào bán nhỏ. Quy định này nhằm mục đích đảm bảo “các nhà đầu tư tiềm năng có đủ
kiến thức hoặc kinh nghiệm để đầu tư” hoặc “các khoản đầu tư phù hợp với họ xét
theo mục tiêu đầu tư và khả năng chịu rủi ro của họ”[25]. Để chắc chắn nhà đầu tư hiểu mức độ rủi
ro của khoản đầu tư, MAS yêu cầu nền tảng cung cấp cho từng đầu tư một tuyên bố
rủi ro và nhà đầu tư xác nhận (bằng hình thức điện tử hoặc văn bản) đã hiểu và
đồng ý với tuyên bố này mới có thể tiến hành đầu tư vào dự án của nền tảng[26].
2.2. Pháp luật điều chỉnh
hoạt động huy động vốn cộng đồng tại Hoa Kỳ
Ở Hoa Kỳ, hoạt động huy động vốn
cộng đồng chịu sự điều chỉnh của pháp luật về chứng khoán, pháp luật về hoạt động
cho vay[27]. Năm 2012, Hoa Kỳ thông qua Đạo luật Khởi
nghiệp kinh doanh (Jumpstart Our Business Startups Act - JOBS Act), trong đó
Tiêu mục (Title) III gồm 5 mục (Section) quy định cụ thể về hoạt động huy động
vốn cộng đồng với tên gọi chính thức là Đạo luật Huy động vốn trực tuyến nhằm
ngăn chặn gian lận và không tiết lộ thông tin phi đạo đức (Capital Raising
Online While Deterring Fraud and Unethical Non-Disclosure Act - CROWDFUND Act).
Đạo luật này bổ sung Điều 4(a)(6) vào Đạo luật Chứng khoán năm 1933 của Hoa Kỳ
để tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động huy động vốn cộng đồng (vì vậy còn gọi
là quy định 4(a)(6)).
Theo đó, việc huy động vốn cộng đồng
phải thực hiện qua trung gian là các nền tảng. Nền tảng phải đăng ký với SEC và
với một tổ chức tự quản lý có đủ thẩm quyền với tư cách là bên môi giới hoặc cổng
thông tin tài trợ (portal funding)[28]. Bên nền tảng không được phép thực
hiện khuyến nghị đầu tư, chi trả hoa hồng cho nhân viên, đại lý chào bán chứng
khoán, nắm giữ, quản lý hay sở hữu các quỹ hoặc các chứng khoán của nhà đầu tư[29]. Mặc dù vậy, để đảm bảo lợi ích cho nền
tảng, Hoa Kỳ cho phép nền tảng sở hữu một lượng chứng khoán được phát hành
thông qua nền tảng như là khoản thù lao cho dịch vụ của họ[30] và việc này phải được thông báo cho nhà
đầu tư biết ngay khi nhà đầu tư mở tài khoản trên nền tảng[31]. Nền tảng phải thực hiện việc cung cấp
các thông tin liên quan đến rủi ro và tài liệu dự án cho nhà đầu tư[32] nhằm đảm bảo rằng nhà đầu tư có đủ thông
tin và nhận thức được các rủi ro. Nhà đầu tư cần xác nhận đã xem xét những tài
liệu này, hiểu rằng toàn bộ khoản đầu tư của mình có thể bị mất và chịu tổn thất[33]. Khác với Singapore, Hoa Kỳ yêu cầu nền
tảng phải có trách nhiệm kiểm tra lý lịch và lịch sử thực thi pháp luật về chứng
khoán đối với nhân viên, giám đốc và cá nhân nắm giữ hơn 20% vốn chủ sở hữu
đang lưu hành của mọi tổ chức phát hành có chứng khoán do cá nhân đó chào bán[34]. Cấm giám đốc, nhân sự hoặc đối tác (hoặc
bất kỳ người nào có địa vị tương tự hoặc thực hiện chức năng tương tự) có bất kỳ
lợi ích tài chính nào trong một đơn vị phát hành sử dụng các dịch vụ của chính
đơn vị phát hành đó[35].
Đối với bên huy động vốn, pháp luật
Hoa Kỳ quy định họ phải công bố thông tin khi bên huy động vốn chào bán lần đầu
và công bố thông tin hàng năm sau khi chào bán thành công. Bên huy động vốn cần
cung cấp các thông tin công bố chi tiết về công ty, chứng khoán được chào bán
và quy trình chào bán. Bên huy động vốn phải đăng tải thông tin về tình hình
tài chính: Tính thanh khoản, nguồn vốn và kết quả hoạt động trong quá khứ. Nếu
bên bên huy động vốn chưa có lịch sử hoạt động, họ phải tập trung vào các mốc
tài chính và các thách thức về hoạt động, thanh khoản và các thách thức khác. Họ
cần trình bày tác động dự kiến của nguồn tiền thu được từ đợt chào bán đối với
nguồn vốn khả dụng[36]. Báo cáo thường niên của bên huy động vốn
phải nộp cho SEC chậm nhất là 120 ngày sau khi kết thúc năm tài chính của tổ chức
phát hành và phải được đăng trên trang web của tổ chức phát hành trừ các trường
hợp ngoại lệ.
Pháp luật Hoa Kỳ cũng có quy định
về công khai thu nhập và kiểm toán đối với bên huy động vốn, cụ thể như: (1) Nếu
số tiền mục tiêu dưới 124.000 đô-la Mỹ, bên huy động vốn phải công khai tổng
thu nhập, thu nhập chịu thuế và tổng số thuế đã báo cáo trong tờ khai thuế liên
bang gần nhất. Giám đốc điều hành (CEO) của công ty phải chứng nhận tính chính
xác của các số liệu này; (2) Nếu số tiền mục tiêu trong khoảng từ 124.000 đến
618.000 đô-la Mỹ: Bên huy động vốn phải công bố báo cáo tài chính được một kiểm
toán viên công độc lập với họ soát xét; (3) Nếu số tiền mục tiêu lớn hơn
618.000 đô-la Mỹ: Bên huy động vốn phải công bố báo cáo tài chính được một kiểm
toán viên công độc lập với họ kiểm toán (audit); Trường hợp đây là đợt chào bán
đầu tiên của công ty thì chỉ cần bản soát xét của kiểm toán viên công độc lập
là đủ[37].
Đối với bên góp vốn, họ chịu sự
giới hạn về số tiền và khả năng bán lại khoản đầu tư trong các dự án huy động vốn
cộng đồng. Nếu thu nhập hàng năm và giá trị tài sản ròng của bên góp vốn đều vượt
quá 124.000 đô-la Mỹ, giới hạn đầu tư của mỗi cá nhân là 10% thu nhập hàng năm
hoặc giá trị tài sản ròng tùy theo mức nào thấp hơn. Nếu không, giới hạn là 5%
thu nhập hàng năm hoặc giá trị tài sản ròng, tùy theo mức nào thấp hơn.
2.3. Pháp luật hoạt động
huy động vốn cộng đồng tại Liên minh châu Âu
Năm 2015, Uỷ ban châu Âu thành lập
Liên minh Thị trường vốn (Capital Markets Union - CMU) để tổ chức và quản lý hoạt
động huy động vốn cộng đồng. Uỷ ban châu Âu ban hành 2 văn bản sau để điều chỉnh
hoạt động huy động vốn cộng đồng:
- Quy định (EU) 2020/1503 về các
nhà cung cấp dịch vụ huy động vốn cộng đồng cho doanh nghiệp và sửa đổi Quy định
về Bản cáo bạch ((EU) 2017/1129) và Chỉ thị về Tố giác ((EU) 2019/1937) - Gọi tắt
là ECSPR (European Crowdfunding Service Providers for Business)
- Chỉ thị (EU) 2020/1504 sửa đổi
Chỉ thị MiFID II liên quan đến huy động vốn cộng đồng (Chỉ thị sửa đổi).
Những quy định này của EU điều chỉnh
hoạt động của mô hình huy động vốn cộng đồng theo hình thức cho vay ngang hàng
và cổ phần. Các hình thức khác của huy động vốn cộng đồng được điều chỉnh bởi
Luật người tiêu dùng EU và luật quốc gia của các nước thành viên. Trong phạm vi
bài viết, các tác giả nghiên cứu quy định của ECSPR trong đó điều chỉnh các dự
án huy động vốn cộng đồng quy mô ít hơn 5.000.000 Euro.
Theo pháp luật của EU, huy động vốn
cộng đồng là sự kết hợp các lợi ích hỗ trợ kinh doanh của nhà đầu tư và chủ dự
án thông qua việc sử dụng nền tảng huy động vốn cộng đồng và bao gồm hoạt động
cho vay hay hoạt động phát hành chứng khoán không có bảo đảm[38]. Nền tảng cung cấp dịch vụ huy động vốn
cộng đồng bắt buộc phải là pháp nhân được thành lập tại EU và đã được cấp phép
là nhà cung cấp dịch vụ gây quỹ cộng đồng. Để được cấp phép hoạt động, họ phải
nộp đơn lên cơ quan có thẩm quyền của quốc gia thành viên nơi pháp nhân đó được
thành lập[39]. Cơ quan Chứng khoán và Thị trường châu
Âu (European Securities and Markets Authority – ESMA) đóng vai trò giám
sát hoạt động của các cơ quan có thẩm quyền các quốc gia EU và xây dựng những
quy chuẩn kỹ thuật (báo cáo, quản lý vốn, xử lý khoản vay, xử lý khiếu nại…)[40] cho các nền tảng cung cấp dịch vụ huy động
vốn cộng đồng. ESMA còn có trách nhiệm công khai danh sách các nền tảng đã được
cấp phép hoạt động trên website. Giấy phép hoạt động giúp nền tảng có thể kinh
doanh trên các quốc gia thành viên EU, song họ phải thông báo đến cơ quan có thẩm
quyền của quốc gia thành viên nơi họ mong muốn hoạt động. Ngoài ra, nền tảng phải
đặt khoản tiền bảo đảm tối thiểu là 25.000 Euro cùng khoản tiền tương đương ¼
chi phí cố định của năm trước liền kề bao gồm chi phí dịch vụ cho các khoản vay
trong ba tháng khi nhà cung cấp dịch vụ huy động vốn cộng đồng cũng tạo điều kiện
cho việc cấp các khoản vay (nếu chưa có dữ liệu hoạt động thì dựa trên ước tính
tương lai) [41]. Biện pháp đảm bảo này thực hiện dưới một
trong hai hình thức: Vốn chủ sở hữu hoặc hợp đồng bảo hiểm. Bên nền tảng có
trách nhiệm thẩm định về tiền án hành vi vi phạm các quy định quốc gia trong
lĩnh vực luật thương mại, luật phá sản, luật dịch vụ tài chính, luật chống rửa
tiền, luật gian lận hoặc nghĩa vụ trách nhiệm nghề nghiệp của chủ dự án huy động
vốn cộng đồng. Để tránh xung đột lợi ích, bên nền tảng cung cấp dịch vụ huy động
vốn cộng đồng không được tham gia vào dự án huy động vốn cộng đồng trên nền tảng
của họ. Trường hợp nếu cổ đông (nắm giữ từ 20% cổ phần hoặc quyền biểu quyết),
hoặc nhân viên, nhà quản lý của nền tảng tham gia vào hoạt động huy động vốn cộng
đồng trên chính nền tảng đó với tư cách là chủ dự án, thì nền tảng cần phải
công bố đầy đủ trên trang web của họ về việc họ chấp nhận những cá nhân đó làm
nhà đầu tư, bao gồm thông tin về các dự án gây quỹ cộng đồng cụ thể đã đầu tư
và phải đảm bảo rằng các khoản đầu tư đó được thực hiện theo cùng điều kiện như
các nhà đầu tư khác và những cá nhân đó không được hưởng bất kỳ chế độ ưu đãi
hoặc quyền truy cập thông tin đặc quyền nào[42]. Nền tảng còn có trách nhiệm thông báo
cho bên góp vốn rủi ro của khoản đầu tư[43].
Đối với bên huy động vốn, pháp luật
của EU quy định họ phải công bố bản cáo bạch, mà theo thuật ngữ pháp lý của EU
là Bản thông tin đầu tư chính (Key Investment Information Sheet – KIIS), theo
quy định tại Điều 23 ECSPR. Ngoài các nội dung về Thông tin về dự án huy động vốn
cộng đồng và chủ dự án, Các đặc điểm chính của tiến trình huy động vốn cộng đồng
và điều kiện để huy động vốn, Những rủi ro chính khi tham gia đầu tư dự án, bản
KIIS phải có nội dung công khai rủi ro theo mẫu. Ví dụ: Bạn tự chịu toàn bộ
rủi ro khi thực hiện khoản đầu tư này, bao gồm rủi ro mất một phần hoặc toàn bộ
số tiền đã đầu tư.
Đi kèm với quy định về KIIS là
quy định về thẩm định tiền đầu tư và mô phỏng khả năng chịu lỗ đối với nhà đầu
tư. Về phương diện bảo vệ nhà đầu tư không chuyên nghiệp[44], nền tảng yêu cầu nhà đầu tư không
chuyên nghiệp kê khai thông tin về kinh nghiệm, mục tiêu đầu tư, tình hình tài
chính và hiểu biết cơ bản về rủi ro liên quan đến đầu tư nói chung và đầu tư
vào các loại hình được cung cấp trên nền tảng huy động vốn cộng đồng[45] và thực hiện đánh giá mỗi hai năm một lần.
Đối với các hành vi vi phạm quy định
về hoạt huy động vốn cộng đồng, EU đưa ra mức xử phạt hành chính như: (1) Yêu cầu
cá nhân/pháp nhân chấm dứt và không tái diễn hành vi vi phạm; (2) Cấm cá nhân
thực hiện các chức năng quản lý trong nền tảng cung cấp dịch vụ huy động vốn cộng
đồng; (3) Phạt hành chính tối đa bằng gấp đôi số tiền lợi ích thu được từ hành
vi vi phạm; (4) Nếu bên vi phạm là pháp nhân thì mức phạt hành chính tối đa là
500.000 Euro hoặc tối đa bằng 5% tổng doanh thu hàng năm của pháp nhân đó theo
báo cáo tài chính mới nhất có sẵn đã được phê duyệt (trường hợp là cá nhân thì
mức phạt tối đa cũng bằng 500.000 Euro).
Có thể thấy quy định pháp luật của
Singapore, Hoa Kỳ và EU có xu hướng quản lý hoạt động này bằng các nhóm quy định
sau:
Thứ nhất, đưa toàn
bộ hoạt động huy động vốn cộng đồng vào khuôn khổ pháp lý trong đó xác định rõ
quyền và nghĩa vụ của từng chủ thể: Bên huy động vốn, bên nền tảng cung cấp dịch
vụ và bên góp vốn.
Thứ hai, đặt ra các
quy định về cấp phép hoạt động đối với bên nền tảng cung cấp dịch vụ huy động vốn
cộng đồng. Chủ thể này cần phải đăng ký hoạt động, ký quỹ và công khai rủi ro
xung đột lợi ích cho các bên được biết.
Thứ ba, quy định
các yêu cầu pháp lý đối với bên huy động vốn, như công khai bản cáo bạch, chi
tiết kế hoạch sử dụng vốn huy động và lịch sử tài chính của dự án/doanh nghiệp
(nếu có).
Thứ tư, có các quy
định để bảo vệ nhà đầu tư bằng việc giới hạn khoản đầu tư tối đa của nhà đầu tư
nhỏ lẻ, giáo dục về rủi ro đầu tư. Các quy định về việc miễn trừ bản cáo bạch
trong trường hợp bên góp vốn là tổ chức, cá nhân có tài sản lớn, cũng có thể được
xem là biện pháp phân loại và bảo vệ nhà đầu tư nhỏ lẻ.
3. Thực tiễn hoạt động huy động
vốn cộng đồng tại Việt Nam và yêu cầu đặt ra đối với khung pháp lý
3.1. Thực tiễn hoạt động
huy động vốn cộng đồng tại Việt Nam
Tại Việt Nam, từ năm 2014 đến nay
đã xuất hiện những công ty cung cấp dịch vụ huy động vốn cộng đồng như IG9,
Betado, Firststep, Fundstart, Comicola và MetaDAP Crowdfunding. Trong số đó, chỉ
còn hai nền tảng Comicola và MetaDAP Crowdfunding là còn duy trì hoạt động,
song số lượng dự án hoạt động trên hai nền tảng này cũng ít ỏi. Như trên
Comicola, từ năm 2014 đến nay chỉ có 36 dự án xuất bản phẩm (truyện tranh, hay
sản phẩm văn hoá có tính kinh tế khác) huy động vốn, trong đó chỉ có 18 dự án
huy động thành công[46]. Trên nền tảng MetaDAP Crowdfunding có
29 dự án, trong đó 24 dự án huy động vốn thành công. Trên nền tảng Betado có 18
dự án, Fundstart có 06 dự án, Firststep có 07 dự án và do website các nền tảng
này đã đóng nên không thể xác định bao nhiêu dự án thành công[47]. Nhìn ra thế giới, số lượng dự án huy động
vốn cộng đồng của người Việt Nam trên các nền tảng lớn mang tính toàn cầu nhiều
hơn. Ví dụ trên nền tảng Kickstarter, khi tìm kiếm dự án được khởi tạo từ địa
chỉ IP Việt Nam, có 185 dự án; trên nền tảng GoFundMe (nền tảng chuyên về các dự
án thiện nguyện), có hơn 240 dự án. Trên nền tảng Indiegogo, khoản huy động vốn
của người Việt Nam lớn nhất từng thu được cho đến thời điểm hiện tại là dự án
xe đạp Superstrata của bà Lê Diệp Kiều Trang với 7,1 triệu USD (năm 2020). Số
lượng dự án huy động vốn cộng đồng của người Việt Nam tại các nền tảng của nước
ngoài nhiều hơn không chỉ là do Việt Nam thiếu nền tảng cung cấp dịch vụ này mà
còn do môi trường pháp lý điều chỉnh hoạt động chưa hoàn thiện.
Huy động vốn cộng đồng lần đầu
tiên được đề cập trong Kế hoạch phát triển bền vững doanh nghiệp khu vực tư
nhân đến năm 2025, tầm nhìn 2030. Theo đó, Bộ Tài chính được giao nghiên cứu
xây dựng Đề án thí điểm mô hình nền tảng gọi vốn cộng đồng để trình Thủ tướng
trong năm 2019[48]. Chính phủ cũng xem việc ban hành khuôn
khổ pháp lý cho hoạt động huy động vốn cộng đồng là một phần trong nhóm giải
pháp cơ cấu lại thị trường chứng khoán (định hướng đến năm 2025)[49]. Tuy nhiên, đến nay đề án thí điểm về mô
hình nền tảng huy động vốn cộng đồng vẫn chưa được triển khai và khuôn khổ pháp
lý cho hoạt động này còn chưa thành hình.
Trong hiện trạng chưa có khung
pháp lý cụ thể để điều chỉnh nên các bên tham gia hoạt động này phải vận dụng
quy định của pháp luật liên quan (như Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Thương mại
năm 2005, Luật Giao dịch điện tử năm 2023,…) với nhiều rủi ro pháp lý tiềm ẩn.
Theo đó, mô hình huy động vốn cộng
đồng dựa trên cổ phần không thể hoạt động tại Việt Nam, vì theo quy định hiện
hành, chỉ công ty cổ phần mới có quyền phát hành cổ phần[50]. Còn mô hình huy động vốn cộng đồng dựa
trên nợ đang là “vùng xám pháp lý”, vì mặc dù bên nền tảng cung cấp dịch vụ huy
động vốn cộng đồng không phải là tổ chức tín dụng, song hoạt động lại có nét
tương đồng với môi giới tiền tệ: Nhận tiền gửi và là trung gian có thu phí môi
giới để thu xếp thực hiện hoạt động ngân hàng hoặc hoạt động kinh doanh khác giữa
các tổ chức tín dụng[51] - đặc thù hoạt động nhận tiền gửi là hoạt
động ngân hàng chỉ được thực hiện bởi tổ chức tín dụng là ngân hàng[52].
Đối với mô hình huy động vốn cộng
đồng dựa trên quyên góp là nghĩa vụ thuế của bên nhận tặng cho là doanh nghiệp,
do doanh nghiệp chỉ được miễn thuế trên khoản thu này khi chứng minh mục đích
khoản tài trợ nhận được là nhằm vào hoạt động từ thiện, hoạt động xã hội,
nghiên cứu khoa học, văn hoá, nghệ thuật hoặc giáo dục[53]. Tuy vậy, việc xác định khoản tiền mà
doanh nghiệp nhận được là tài trợ hay là quà biếu, quà tặng chưa có ranh giới
rõ ràng do pháp luật nước ta hiện chỉ mới định nghĩa “tài trợ” trong khuôn khổ
của Quỹ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Đối với mô hình huy động vốn cộng
đồng dựa trên phần thưởng, mối quan hệ pháp lý giữa bên góp vốn và bên huy động
vốn có thể xem là quan hệ mua bán và ràng buộc nhau bởi hợp đồng mua bán hàng
hoá thể hiện qua hành vi bên góp vốn đồng ý cung cấp một khoản tiền mua sản phẩm
hàng hoá, dịch vụ mà bên huy động vốn hứa hẹn cung cấp sau thời gian định sẵn[54]. Khi chuyển giao quyền sở hữu hàng hoá
cho bên mua, bên bán lập hoá đơn vào thời điểm đó. Tuy nhiên, đối với sản phẩm
cung cấp là dịch vụ, bên bán phải lập hoá đơn vào thời điểm thu tiền[55], điều này đặt ra gánh nặng tuân thủ cho
bên huy động vốn là các dự án cá nhân.
3.2. Kiến nghị xây dựng
khung pháp lý điều chỉnh hoạt động huy động vốn cộng đồng tại Việt Nam nhằm hiện
thực hóa yêu cầu của Nghị quyết số 68/NQ-TW
Trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm
thực tiễn pháp luật của Singapore, Hoa Kỳ và EU, đối chiếu pháp luật Việt Nam,
nhóm tác giả xin đề xuất một số nội dung sau đây để hình thành khung pháp lý
cho huy động vốn cộng đồng tại Việt Nam, nhằm xây dựng khung pháp lý về sàn
giao dịch gọi vốn cộng đồng để kết nối trực tiếp doanh nghiệp nhỏ và vừa với cá
nhân, tổ chức tài trợ vốn[56], tăng cường khả năng tiếp cận vốn của
kinh tế tư nhân.
Một là, đưa khái niệm huy
động vốn cộng đồng vào luật ở Việt Nam. Trong Dự thảo Luật Hỗ trợ doanh nghiệp
nhỏ và vừa (bản dự thảo lần IV, ngày 30/5/2016), đã đưa ra định nghĩa huy động
vốn cộng đồng, bốn mô hình của huy động vốn cộng đồng và giới hạn số tiền đầu
tư. Tuy nhiên, có thể do việc nghiên cứu toàn diện về hoạt động này chưa chín
muồi, nên ở bản dự thảo cuối cùng được thông qua, không có các quy định về huy
động vốn cộng đồng. Từ đó, gây ra khó khăn trong việc thiết lập cơ sở pháp lý
cho hoạt động này. Việc luật hoá khái niệm huy động vốn cộng đồng, thiết nghĩ
là bước căn cơ để triển khai các hoạt động lập pháp và chính sách tiếp theo,
như ban hành Nghị định quy định chi tiết, Thông tư hướng dẫn, chính sách hỗ trợ...
Từ thực tế huy động vốn cộng đồng trên thế giới và ở Việt Nam, có thể thấy,
không chỉ doanh nghiệp mà cá nhân cũng tham gia thành lập dự án huy động vốn. Mục
đích huy động vốn không giới hạn trong đầu tư kinh doanh mà mở rộng sang lĩnh vực
xã hội, từ thiện nhân đạo. Do đó, không nên giới hạn phạm vi của huy động vốn cộng
đồng như mà một hoạt động dành riêng cho hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo mà
còn là của các tổ chức, cá nhân có nhu cầu về vốn mà không tiếp cận kênh vốn
truyền thống (vay vốn ngân hàng, tổ chức tín dụng).
Hai là, dựa trên khái niệm
về huy động vốn cộng đồng, xây dựng khung pháp lý cho hoạt động này tại Việt
Nam. Cụ thể, chúng ta có thể bổ sung các quy định về huy động vốn cộng đồng vào
quy định của Bộ luật Dân sự dựa trên bản chất của quan hệ tài sản (tặng cho,
cho vay, mua bán, hoặc đầu tư). Khung pháp lý nên gồm các thành tố:
- Bên huy động vốn:
Là tổ chức, cá nhân có nhu cầu về vốn. Tổ chức cần phải đăng ký kinh doanh mới
có thể khởi tạo dự án huy động vốn cộng đồng. Cá nhân có thể là công dân Việt
Nam hoặc không, nhưng phải thông qua việc xác thực định danh khách hàng điện tử.
Qua việc tham khảo kinh nghiệm pháp luật nước ngoài, có thể thấy pháp luật cần
giới hạn số tiền tối đa một dự án có thể huy động nhằm tránh rủi ro vỡ nợ ảnh
hưởng lớn đến hệ thống tài chính. Để giảm thiểu bất cân xứng thông tin, bên huy
động vốn phải công khai bản cáo bạch tài chính (nếu đã có hoạt động kinh doanh)
hoặc tài sản, thu nhập và lịch sử thực hiện nghĩa vụ thuế thu nhập cá nhân. Bản
cáo bạch thông tin tài chính của dự án huy động vốn cộng đồng nên tinh gọn và
phù hợp với quy mô của những dự án cá nhân, dự án khởi nghiệp, dự án đổi mới
sáng tạo. Sau mỗi năm hoạt động, bên huy động vốn cần công bố thông tin về những
khoản thu, chi và tình hình vận hành dự án. Để đảm bảo thông tin giới thiệu đến
cộng đồng phù hợp, hoạt động quảng cáo chỉ thực hiện thông qua nền tảng cung cấp
dịch vụ huy động vốn cộng đồng. Bên huy động vốn chỉ có thể quảng cáo về chiến
dịch huy động vốn của mình khi dẫn chiếu đến quảng cáo của nền tảng về chiến dịch
huy động vốn ấy. Đồng thời, thông tin quảng cáo phải nhất quán với thông tin
trong bản cáo bạch tài chính.
- Bên góp vốn: Quy
định cho phép nhà đầu tư trong và ngoài nước có thể tham gia đầu tư vào các dự
án huy động vốn cộng đồng. Vì huy động vốn cộng đồng là hoạt động đầu tư có độ
rủi ro nên cần công khai rủi ro, giáo dục nhà đầu tư về rủi ro của dự án. Tham
khảo quy định pháp luật các nước, có thể áp dụng cách thức phân loại nhà đầu tư
thành hai nhóm: (1) Nhà đầu tư chuyên nghiệp là tổ chức có nghiệp vụ đầu tư và
những người có lượng tài sản trên một mức nhất định thể hiện qua thông tin về
nghĩa vụ thuế thu nhập cá nhân; (2) Nhà đầu tư không chuyên là các doanh nghiệp
không có nghiệp vụ đầu tư và những cá nhân khác có tài sản dưới ngưỡng quy định.
Đối với nhà đầu tư nhóm (2), nhất thiết phải đạt được sự đồng thuận của họ về rủi
ro khi tham gia hoạt động huy động vốn cộng đồng, giới hạn số tiền tối đa họ có
thể đầu tư vào một dự án để hạn chế thiệt hại tài chính có thể xảy đến với nhóm
này.
- Bên nền tảng cung cấp dịch
vụ huy động vốn cộng đồng: Nền tảng có vai trò trung tâm trong hoạt động
huy động vốn cộng đồng và cũng là chủ thể quan trọng để kiểm soát rủi ro. Do
đó, quy định bên nền tảng là một doanh nghiệp đăng ký hoạt động trong lĩnh vực
huy động vốn cộng đồng, được cấp phép hoạt động và có ký quỹ một khoản tiền nhất
định nhằm đền bù thiệt hại trong trường hợp nền tảng có hành vi sai trái. Nền tảng
cần có ít nhất các trách nhiệm sau:
+ Thẩm định năng lực của bên huy
động vốn cộng đồng và chất lượng dự án huy động vốn cộng đồng;
+ Đảm bảo đạt được sự đồng thuận
của nhà đầu tư về rủi ro trước khi nhà đầu tư tham gia đầu tư;
+ Công khai trên nền tảng những dự
án huy động vốn cộng đồng có sự tham gia quản lý hoặc góp vốn của nhân viên, chủ
sở hữu hoặc cổ đông của bên nền tảng. Điều này nhằm trách xung đột lợi ích khi
người vận hành nền tảng đồng thời cũng có quyền lợi đến dự án huy động vốn cộng
đồng.
+ Lưu trữ và bảo mật hồ sơ liên
quan đến hoạt động và các bên liên quan.
+ Đảm bảo thông tin trong quảng
cáo nhất quán với thông tin trong bản cáo bạch tài chính của bên huy động vốn
và cập nhật kịp thời trên website nền tảng cũng như đến email của nhà đầu tư
ngay khi bên huy động vốn thông báo thay đổi nội dung dự án.
Ngoài ra, nên có quy định cho
phép ngân hàng tham gia vào hoạt động huy động vốn cộng đồng với tư cách là bên
nhận tiền gửi giữ đã huy động được của nền tảng để tăng tính an toàn cho khoản
tiền của bên góp vốn và bên huy động vốn.
Ba là, tham khảo kinh nghiệm
pháp luật các quốc gia, nên có một cơ quan quản lý hoạt động huy động vốn cộng
đồng trên phạm vi toàn quốc. Cơ quan này có thể thuộc chủ quản của Bộ Tài chính
vì huy động vốn cộng đồng là một hoạt động trong lĩnh vực tài chính. Phạm vi
quyền hạn của cơ quan này, tối thiểu nên gồm: (1) Cấp phép và thu hồi giấy phép
hoạt động đối với bên nền tảng; (2) Ban hành tiêu chí kỹ thuật đối với hoạt động
huy động vốn cộng đồng; (3) Đầu mối tổng hợp các báo cáo, thống kê hoạt động
huy động vốn cộng đồng và xuất bản báo cáo hằng năm về hoạt động này; (4) Cập
nhật danh sách danh sách các dự án với tình trạng hoạt động và thông tin chủ dự
án cùng các bản cáo bạch của dự án; (5) Có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính
đối với bên nền tảng khi phát hiện sai phạm.
Bốn là, vì huy động vốn cộng
đồng liên quan đến việc cung cấp thông tin của số đông người cho nhiều bên, nhất
là việc tập trung lượng lớn thông tin vào một điểm nút là bên nền tảng cung cấp
dịch vụ huy động vốn cộng đồng, nên cần có bộ quy tắc về quản lý thông tin
trong huy động vốn cộng đồng. Việc xây dựng bộ quy tắc ấy nên thuộc trách nhiệm
của cơ quan quản lý hoạt động huy động vốn cộng đồng, đồng thời có chính sách
buộc nền tảng tuân thủ quy tắc này. Để đảm bảo tương thích với Nghị định số
13/2023/NĐ-CP ngày 17/4/2023 của Chính phủ về bảo vệ dữ liệu cá nhân, bộ quy tắc
có thể chứa những yêu cầu căn bản như:
- Các tổ chức, cá nhân cung cấp dữ
liệu cho bên nền tảng đều thể hiện sự đồng ý (qua văn bản, thông điệp dữ liệu);
- Nền tảng có cơ chế để chủ thể dữ
liệu rút lại sự đồng ý và xoá dữ liệu trong cơ sở dữ liệu của nền tảng. Cơ chế
này không xung đột với việc lưu trữ, bảo mật hồ sơ huy động vốn cộng đồng.
- Vì bên huy động vốn có thể là
người nước ngoài nên việc chuyển dữ liệu cá nhân ra nước ngoài cần tuân thủ quy
định tại Điều 25 của Nghị định số 13/2023/NĐ-CP. Tuy nhiên để đảm bảo sự thông
suốt và vận hành nhanh chóng, thiết nghĩ nên có thủ tục rút gọn liên quan đến
chuyển dữ liệu ra nước ngoài đồng thời giới hạn dữ liệu có thể chuyển.
4. Kết luận
Xuất phát từ vai trò và lợi ích của
hoạt động huy động vốn của cộng đồng, pháp luật của các quốc gia đã ban hành
quy định pháp luật để quản lý hoạt động này theo hướng cố gắng hài hoà, cân bằng
giữa việc quản trị rủi ro và đảm bảo khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp và
cá nhân.
Tại Việt Nam, hoạt động này vẫn
diễn ra như một nhu cầu tất yếu của các doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ và doanh
nghiệp khởi nghiệp nhằm tiếp cận nguồn vốn phục vụ cho hoạt động đầu tư, kinh
doanh. Song vì chưa có văn bản quy phạm pháp luật chuyên biệt quy định về huy động
vốn cộng đồng, nên ở mỗi mô hình đều gặp khó khăn nhất định liên quan đến sự
không tương thích của quy định pháp luật hiện hành và bản chất, quy trình hoạt
động của huy động vốn cộng đồng. Điều này khiến cho hoạt động huy động vốn cộng
đồng, tiềm ẩn rủi ro pháp lý cho tất cả các bên tham gia.
Từ kinh nghiệm quốc tế, bài viết
đã đề xuất xây dựng khung pháp lý cho huy động vốn cộng đồng tại Việt Nam, vừa
giảm thiểu rủi ro pháp lý cho các bên, vừa đáp ứng mục tiêu của Nghị quyết số
68-NQ/TW về yêu cầu ban hành khung pháp lý thử nghiệm có kiểm soát về sàn
giao dịch gọi vốn cộng đồng nhằm đẩy mạnh và đa dạng hóa nguồn vốn cho kinh tế
tư nhân.
Chú thích:
[1] Mục 3.2 Nghị quyết số 68-NQ/TW.
[2] Ethan Mollick, The Dynamics of
Crowdfunding: An Exploratory Study, Journal of Business Venturing, 1/2014,
p. 2.
[3] Sigar Karina, Fret No More:
Inapplicability of Crowdfunding Concerns in the Internet Age and the JOBS
Act’s Safeguards, Administrative Law Review, 2/2012, p. 478.
[4] Mingfeng Lin, Siva Viswanathan, Home Bias
in Online Investments: An Empirical Study of an Online Crowdfunding Market,
Management Science, 5/2016, p. 1393.
[5] Armin Schwienbacher, Benjamin Larralde, Crowdfunding
of Small Entrepreneurial Ventures, Handbook of Entrepreneurial Finance,
Oxford University Press, UK, 2010, p. 4.
[6] Caroline Kleiner, General Report: The
Legal Regulation of Crowdfunding, Legal Aspects of Crowdfunding, Springer
International Publishing, 2021, p. 50.
[7] Paul Belleflamme, Thomas Lambert and Armin
Schwienbacher, Crowdfunding: Tapping the Right Crowd, Journal of
Business Venturing, 5/2014, p. 590.
[8] Anna Lukkarinen, Equity
Crowdfunding: Principles and Investor Behaviour - Rotem Shneor, Liang Zhao,
and Bjørn-Tore Flåten (đồng chủ biên), Advances in Crowdfunding: Research
and Practice, Palgrave Macmillan, p. 93.
[9] Caroline Kleiner, tlđd, p. 59.
[10] Rotem Shneor, Crowdfunding Models,
Strategies, and Choices Between Them trong Rotem Shneor, Liang Zhao, and
Bjørn-Tore Flåten, p. 25.
[11] Một trong những kênh tiêu biểu cho mô
hình bảo trợ là www.patreon.com.
[12] Ajay Agrawal, Christian Catalini, and
Avi Goldfarb, Some Simple Economics of Crowdfunding, Innovation Policy
and the Economy, Vol 1/2014, p. 77.
[13] Sebastiaan N. Hooghiemstra and Kristof
de Buysere, The Perfect Regulation of Crowdfunding: What Should the European
Regulator Do? trong Dennis Brüntje and Oliver Gajda (đồng chủ biên), Crowdfunding
in Europe, Springer International Publishing, 2016, p.147.
[14] Flavio Pichler and Ilaria Tezza, Crowdfunding
as a New Phenomenon: Origins, Features and Literature Review trong Roberto
Bottiglia and Flavio Pichler (đồng chủ biên), Crowdfunding for SMEs: A
European Perspective, Springer, 2016, p. 21.
[15] Article 82, SFA 2001.
[16] Article 88, SFA 2001.
[17] Article 99, SFA 2001.
[18] Article 7 (1) Securities and Futures
(Licensing and Conduct of Business) Regulations 2004.
[19] Article 7 (3) Securities and Futures
(Licensing and Conduct of Business) Regulations 2004.
[20] MAS, Response to feedback received
- Facilitating Securities-based Crowdfunding, Easing of financial
requirements for dealing licensees 2.5, (6/2016),
https://www.mas.gov.sg/-/media/MAS/Ne
ws-and-Publications/Consultation-Papers/Crowdfund
ing/Response-to-Feedback-Received--Facilitating-Se
curitiesbased-Crowdfunding.pdf, truy cập 07/10/2024.
[21] Article 240, 243 SFA 2001.
[22] Article 253, 254 SFA 2001.
[23] Nhà đầu tư được công nhận là một thuật ngữ
pháp lý ở Singapore chỉ cho cá nhân và tổ chức đáp ứng điều kiện về tài sản hoặc
thu nhập. Đối với cá nhân, đó là những người có tài sản cá nhân trên 2.000.000
đô-la Singapore hoặc có thu nhập trong vòng 12 tháng không dưới 300.000 đô-la
Singapore. Đối với tổ chức, đó là các công ty có tài sản hơn 10.000.000 đô-la
Singapore (Article 4A SFA 2001).
[24] Article 275 SFA 2001.
[25] MAS, Response to Feedback Received -
Facilitating Securities-Based Crowdfunding, (06/2016),
https://www.mas.gov.sg/-/media/MAS/Ne
ws-and-Publications/Consultation-Papers/Crowdfund
ing/Response-to-Feedback-Received--Facilitating-Se curitiesbased-Crowdfunding.pdf,
truy cập 13/10/2024.
[26] Nt.
[27] Heminway Joan MacLeod , The Legal
Regulation of U.S. Crowdfunding: An Organically Evolving Patchwork in
Kleiner Caroline (ed), Legal Aspects of Crowdfunding, Springer
International Publishing, 2021, p. 282.
[28] 15 U.S. Code § 77d–1 (a) (1).
[29] 15 U.S. Code § 78c (a) (80).
[30] 17 CFR § 227.300 (b) (1) (2).
[31]17 CFR § 227.302 (d).
[32] 15 U.S. Code § 77d-1 (a) (3).
[33] 17 CFR § 227.302 (b)(2).
[34] 15 U.S. Code § 77d-1 (a) (5).
[35] 15 U.S. Code § 77d-1 (a) (11).
[36] 17 CFR § 227.201 (s).
[37] 17 CFR § 227.201 (t).
[38] Article 2 (1) (a) ECSPR.
[39] Aritcle 12 (1) ECSPR.
[40] Đoạn 71, 72; Article 12 (16) ECSPR.
[41] Article 11 (1) (a) ECSPR.
[42] Article 8 ECSPR.
[43] Article 19 ECSPR.
[44] Nhà đầu tư không chuyên nghiệp là nhà đầu
tư không đáp ứng quy định tại điểm (1), (2), (3) hoặc (4) Section 1, Annex II của
Directive 2014/65 của EU. Có thể tóm tắt rằng, luật pháp EU xác định một tổ chức/cá
nhân là nhà đầu tư chuyên nghiệp khi họ là một thiết chế tín dụng, doanh nghiệp
đầu tư, công ty bảo hiểm, quỹ đầu tư... tức là những pháp nhân có nghiệp vụ
chuyên môn về đầu tư.
[45] Article 21 ECSPR.
[46] Chi tiết các dự án xem tại:
https://crowdfundin g.comicola.com/all-campaigns/, truy cập 08/02/2025.
[47] Nguyen Ngoc Thuy, Crowdfunding in
Vietnam: The impact of project and founder quality on funding success, Luận
văn Thạc sĩ, 2017, University of Twente, p. 42,
https://essay.utwente.nl/73270/1 /Nguyen_MA_BMS.pdf, truy cập 08/02/2025.
[48] Quyết định số 1362/QĐ-TTg ngày 11/10/2019 của
Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch phát triển bền vững doanh nghiệp khu vực
tư nhân đến năm 2025, tầm nhìn 2030.
[49] Theo Đề án Cơ cấu
lại thị trường chứng khoán và thị trường bảo hiểm đến năm 2020, định hướng đến
năm 2025, ban hành kèm theo Quyết định số 242/QĐ-TTg ngày 28/02/2019 của
Thủ tướng Chính phủ.
[50] Khoản 3 Điều 111 Luật Doanh nghiệp năm
2020.
[51] Khoản 17 và khoản 20 Điều 4 Luật Các Tổ chức
tín dụng năm 2024.
[52] Khoản 41 Điều 4 Luật Các Tổ chức tín
dụng năm 2024.
[53] Khoản 7 Điều 8 Thông tư số 78/2014/TT-BTC ngày
18/6/2014 của Bộ Tài chính.
[54] Tương ứng với Điều 24 Luật Thương mại năm
2005.
[55] Khoản 2 Điều 9 Nghị định số 123/2020/NĐ-CP
ngày 19/10/2020 của Chính phủ Quy định về hoá đơn, chứng từ.
[56] Mục 3.2 Nghị quyết số 68-NQ/TW.