Chuyển đổi số trong quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị
Tóm tắt
Chuyển đổi số có ý nghĩa đặc biệt
đối với quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường vì các đối tượng quản lý có
tính không gian, liên vùng, biến động theo thời gian và đòi hỏi giám sát, dự
báo, phản ứng nhanh. Trên cơ sở phân tích văn bản chính sách, pháp luật, tổng hợp
tài liệu và đối chiếu kết quả triển khai, bài viết làm rõ nội dung cơ bản, ý
nghĩa và yêu cầu thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW trong lĩnh vực này. Kết quả
cho thấy chuyển đổi số không chỉ là số hóa hồ sơ hay đầu tư phần mềm, mà là tái
thiết kế thể chế, dữ liệu, quy trình, phối hợp và năng lực con người để hình
thành quản trị dựa trên dữ liệu. Bài viết đề xuất sáu chuyển dịch trong phương
thức quản lý và bảy nhóm nhiệm vụ ưu tiên, nhấn mạnh chuẩn hóa, liên thông dữ
liệu không gian; giám sát thời gian thực; dịch vụ công dựa trên dữ liệu; đổi mới
sáng tạo gắn với bài toán thực tiễn; an toàn hệ thống; và trách nhiệm người đứng
đầu.
Từ khóa: Bảo vệ môi trường; chuyển
đổi số; dữ liệu số; Nghị quyết 57-NQ/TW; quản lý tài nguyên.
DIGITAL TRANSFORMATION IN NATURAL
RESOURCE MANAGEMENT AND ENVIRONMENTAL PROTECTION: IMPLEMENTING RESOLUTION NO.
57-NQ/TW
Abstract
Digital transformation is
fundamentally changing knowledge creation, public service delivery, and
development governance. It is particularly significant for natural resource
management and environmental protection because the managed objects are
spatially distributed, cross-regional, time-varying, and require continuous
monitoring, forecasting, and rapid response. Drawing on policy and legal
document analysis, literature synthesis, and selected implementation evidence,
this article clarifies the key contents, significance, and implementation
requirements of Resolution No. 57-NQ/TW in these fields. The findings indicate
that digital transformation is not merely the digitization of records or
investment in software. It requires the redesign of institutions, data
governance, operational processes, coordination models, and human capabilities
to establish data-driven governance. The article proposes six shifts in
management practices and seven priority groups, emphasizing standardized and
interoperable spatial data, real-time monitoring, data-driven public services,
problem-oriented innovation, cybersecurity, and direct accountability of
organizational leaders.
Keywords: Digital data; digital
transformation; environmental protection; natural resource management;
Resolution No. 57-NQ/TW.
1. Giới thiệu
Tài nguyên thiên nhiên và môi trường
là nền tảng của phát triển, đồng thời tiếp nhận các tác động của phát triển. Đất
đai, nước, khoáng sản, tài nguyên biển, đa dạng sinh học và chất lượng môi trường
liên kết trong lưu vực sông, vùng không khí, hệ sinh thái, vùng ven biển và chuỗi
sản xuất - tiêu dùng, không tách rời theo địa giới hành chính. Một quyết định ở
một địa phương hoặc lĩnh vực có thể tạo tác động tích lũy, lan truyền. Trong bối
cảnh biến đổi khí hậu, suy giảm đa dạng sinh học và ô nhiễm gia tăng, quản lý dựa
vào hồ sơ giấy, báo cáo định kỳ và cơ sở dữ liệu phân tán khó đáp ứng yêu cầu
phát hiện sớm, dự báo và điều phối theo vùng.
Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày
22/12/2024 của Bộ Chính trị (sau đây gọi tắt là Nghị quyết 57) xác định khoa học,
công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá quan trọng hàng đầu, là
động lực phát triển lực lượng sản xuất hiện đại và đổi mới quản trị quốc gia.
Nghị quyết đặt người dân, doanh nghiệp ở vị trí trung tâm; nhà khoa học là nhân
tố then chốt; Nhà nước giữ vai trò dẫn dắt; đồng thời coi thể chế, nhân lực, hạ
tầng, dữ liệu và công nghệ chiến lược là các nội dung cốt lõi, trong đó thể chế
phải đi trước (Bộ Chính trị, 2024). Đây là yêu cầu thay đổi tư duy và phương thức
thực thi trong mọi ngành, lĩnh vực.
Đối với lĩnh vực này, Nghị quyết
57 chỉ đạo xây dựng nền tảng số để giám sát, thu thập dữ liệu tài nguyên, môi
trường. Các mục tiêu về quản lý nhà nước trên môi trường số, kết nối cơ sở dữ
liệu, dịch vụ công, trí tuệ nhân tạo, Internet vạn vật và dữ liệu lớn tạo khuôn
khổ chuyển từ quản lý phản ứng sang quản trị chủ động. Chính phủ đã ban hành
Nghị quyết số 03/NQ-CP, cập nhật tại Nghị quyết số 71/NQ-CP; Bộ Nông nghiệp và
Môi trường ban hành Kế hoạch tại Quyết định số 503/QĐ-BNNMT, xác định bảy nhóm
nhiệm vụ đồng bộ (Chính phủ, 2025a, 2025b; Bộ Nông nghiệp và Môi trường,
2025b).
Tuy nhiên, chuyển đổi số ở nhiều
nơi còn được hiểu hẹp là số hóa văn bản, mua thiết bị hoặc xây dựng phần mềm
riêng lẻ. Dữ liệu đã tạo lập nhưng có thể thiếu chất lượng, định danh dùng
chung, khả năng kết nối, cập nhật hoặc chưa gắn với quyết định. Nguy cơ “số hóa
cách làm cũ” sẽ làm tăng chi phí mà chưa tạo thay đổi thực chất.
Bài viết nhằm: (i) hệ thống hóa
những nội dung cơ bản của Nghị quyết 57 liên quan đến quản lý tài nguyên và bảo
vệ môi trường; (ii) phân tích ý nghĩa của chuyển đổi số đối với quản trị theo
không gian lãnh thổ và phát triển bền vững; (iii) nhận diện những điểm nghẽn chủ
yếu; và (iv) đề xuất các yêu cầu, nhiệm vụ ưu tiên để chuyển từ số hóa phân tán
sang quản trị dựa trên dữ liệu.
2. Phương pháp nghiên cứu và
khung phân tích
Bài viết sử dụng phương pháp phân
tích nội dung định tính đối với các văn bản của Đảng, Chính phủ, Quốc hội và Bộ
Nông nghiệp và Môi trường ban hành trong giai đoạn 2020-2026; trọng tâm là Nghị
quyết 57, các chương trình hành động thực hiện Nghị quyết, pháp luật về dữ liệu,
giao dịch điện tử, bảo vệ môi trường và tài nguyên nước. Bài viết đồng thời tổng
hợp một số báo cáo, thông tin chính thức về kết quả triển khai trong ngành và
tham khảo cách tiếp cận của Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP), Tổ chức
Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) về chuyển đổi số phục vụ bền vững môi trường.
Phương pháp đối chiếu chính sách
được sử dụng để liên hệ Nghị quyết 57 với bốn đặc thù của lĩnh vực: đối tượng
quản lý gắn với vị trí và biến động theo thời gian; dữ liệu do nhiều chủ thể,
công nghệ tạo ra; tác động có tính tích lũy, liên vùng, xuyên biên giới; thông
tin liên quan trực tiếp đến quyền tài sản, tiếp cận tài nguyên, sức khỏe cộng đồng
và trách nhiệm giải trình.
Trên cơ sở đó, bài viết xây dựng
khung phân tích gồm sáu cấu phần: (1) thể chế số; (2) quản trị dữ liệu; (3) hạ
tầng và công nghệ; (4) quy trình nghiệp vụ và dịch vụ công; (5) con người, tổ
chức và trách nhiệm giải trình; (6) an ninh, an toàn và tính bền vững của hệ thống
số. Kết quả chuyển đổi được xem xét theo ba cấp độ: đầu vào (thể chế, kinh phí,
dữ liệu, nhân lực), sản phẩm (cơ sở dữ liệu, nền tảng, dịch vụ, mô hình dự báo)
và tác động (giảm thời gian, chi phí; nâng cao chất lượng quyết định; phòng ngừa
vi phạm, ô nhiễm và rủi ro; tăng tính minh bạch và sự hài lòng của người sử dụng).
Bài viết tiếp cận tổng quan chính
sách, không thay thế đánh giá định lượng mức độ trưởng thành số của từng lĩnh vực
hoặc địa phương; số liệu triển khai chỉ dùng để nhận diện xu hướng và điểm nghẽn.
3. Kết quả nghiên cứu
3.1. Nội dung cơ bản của Nghị quyết
57 và yêu cầu đặt ra đối với ngành
Chuyển đổi số có quan hệ hữu cơ
nhưng không đồng nhất với khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Khoa học và
công nghệ tạo tri thức, công nghệ, sản phẩm mới; đổi mới sáng tạo chuyển cái mới
thành giá trị thực tiễn; chuyển đổi số sử dụng dữ liệu và công nghệ số để thiết
kế lại hoạt động, dịch vụ, quản trị. Ba quá trình bổ trợ nhau: nghiên cứu và đổi
mới giúp tránh phụ thuộc giải pháp có sẵn, còn chuyển đổi số giúp tích hợp, mở
rộng kết quả nghiên cứu vào hoạt động thường xuyên.
Nghị quyết 57 xác lập năm quan điểm
trực tiếp: coi khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực
phát triển; lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; phát triển đồng bộ thể
chế, nhân lực, hạ tầng, dữ liệu và công nghệ chiến lược; từng bước tự chủ đồng
thời tiếp thu công nghệ tiên tiến; bảo đảm an ninh mạng, an ninh dữ liệu và an
toàn thông tin xuyên suốt (Bộ Chính trị, 2024).
Đến năm 2030, Nghị quyết đặt mục
tiêu quản lý nhà nước trên môi trường số; kết nối đồng bộ cơ sở dữ liệu quốc
gia và các ngành; tỷ lệ sử dụng dịch vụ công trực tuyến trên 80%; bố trí ít nhất
3% tổng chi ngân sách hằng năm cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và
chuyển đổi số (Bộ Chính trị, 2024). Đối với ngành, mục tiêu phải chuyển thành
chỉ tiêu vận hành: dữ liệu hoàn thành, quy trình tái cấu trúc, cảnh báo tự động,
hồ sơ xử lý không phụ thuộc địa giới và hiệu quả đo lường được.
Quyết định số 503/QĐ-BNNMT cụ thể
hóa yêu cầu bằng kiến trúc Chính phủ số; danh mục dữ liệu dùng chung, dữ liệu mở;
cơ sở dữ liệu “đúng, đủ, sạch, sống”; trung tâm điều hành thông minh; ứng dụng
bản sao số, IoT, trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn; dịch vụ công toàn trình, dựa
trên dữ liệu; đào tạo nhân lực và trách nhiệm người đứng đầu (Bộ Nông nghiệp và
Môi trường, 2025b). Vì vậy, triển khai là trách nhiệm của từng cơ quan nghiệp vụ,
không chỉ của đơn vị công nghệ.
3.2. Ý nghĩa của chuyển đổi số đối
với quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường
Thứ nhất, chuyển đổi số tạo nền tảng
quản lý theo không gian tự nhiên và phát triển, bổ sung cho quản lý theo địa giới.
Khi dữ liệu đất đai, nước, khí tượng thủy văn, phát thải, môi trường, dân cư và
kinh tế được gắn với tọa độ, thời gian, mã định danh thống nhất, có thể đánh
giá tác động tích lũy, khả năng chịu tải và rủi ro theo vùng. Hạ tầng dữ liệu
không gian trở thành “ngôn ngữ chung” cho quy hoạch, phân vùng và điều phối
liên ngành, liên địa phương.
Thứ hai, chuyển đổi số cho phép
chuyển từ báo cáo định kỳ sang giám sát liên tục, cảnh báo sớm. Quan trắc tự động,
viễn thám, IoT, thiết bị bay và phản ánh cộng đồng tạo dữ liệu gần thời gian thực
để phát hiện biến động đất, rừng, khai thác nước, ô nhiễm hoặc nguy cơ sạt lở,
hạn hán. Ngành đã bước đầu vận hành hệ thống tiếp nhận, giám sát dữ liệu quan
trắc, công bố chất lượng không khí; thử nghiệm giám sát công trình khai thác nước,
vận hành liên hồ và bản đồ hạn hán (Bộ Nông nghiệp và Môi trường, 2025a).
Thứ ba, dữ liệu số hỗ trợ chuyển
từ kiểm tra dàn đều sang giám sát, hậu kiểm theo rủi ro. Liên kết hồ sơ pháp
lý, công suất, công nghệ, quan trắc, lịch sử vi phạm, phản ánh xã hội và độ nhạy
cảm của khu vực giúp lập hồ sơ rủi ro. Cơ sở bất thường được ưu tiên kiểm tra;
cơ sở tuân thủ tốt giảm tần suất kiểm tra trực tiếp nhưng vẫn được giám sát từ
xa, qua đó giảm chồng chéo và chi phí.
Thứ tư, hồ sơ điện tử chỉ có ý
nghĩa khi tái sử dụng dữ liệu, không yêu cầu khai báo lại, rút gọn quy trình và
cho phép kiểm tra trực tuyến. Kết nối hồ sơ với bản đồ, giấy phép, quan trắc và
nghĩa vụ tài chính giúp thẩm định nhanh, minh bạch hơn. Luật Giao dịch điện tử
năm 2023 và Luật Dữ liệu năm 2024 tạo cơ sở cho giao dịch, kết nối và chia sẻ dữ
liệu số (Quốc hội, 2023a, 2024).
Thứ năm, công bố dữ liệu dễ hiểu
giúp người dân nhận biết chất lượng môi trường, nguy cơ và nguồn ô nhiễm; hỗ trợ
doanh nghiệp lựa chọn phương án tuân thủ. Phản ánh có định vị, hình ảnh giúp cơ
quan quản lý phản ứng nhanh. Công khai phải đi cùng phân loại dữ liệu, bảo vệ
bí mật nhà nước, kinh doanh, dữ liệu cá nhân và giải thích chất lượng dữ liệu.
Thứ sáu, dữ liệu về phát thải, vật
chất, năng lượng, nước, chất thải, đa dạng sinh học và đất là đầu vào cho kiểm
kê khí nhà kính, thị trường carbon, tài chính xanh, kinh tế tuần hoàn. Dữ liệu
mở có kiểm soát giúp viện, trường, doanh nghiệp phát triển mô hình và dịch vụ mới.
UNEP yêu cầu thông tin môi trường kịp thời, đáng tin cậy, dễ tiếp cận; OECD lưu
ý phải tích hợp mục tiêu môi trường ngay trong thiết kế công nghệ để hai quá
trình chuyển đổi số và xanh bổ trợ nhau (UNEP, 2024; OECD, 2024).
3.3. Kết quả bước đầu và những điểm
nghẽn cần khắc phục
Việt Nam đã có nền tảng pháp lý
ban đầu: Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 quy định về thông tin, cơ sở dữ liệu,
báo cáo môi trường; Luật Tài nguyên nước năm 2023 yêu cầu dữ liệu quốc gia phải
tích hợp, chia sẻ, bảo đảm an ninh và phục vụ dịch vụ công (Quốc hội, 2020,
2023b). Chương trình chuyển đổi số ngành được phê duyệt năm 2021 (Bộ Tài nguyên
và Môi trường, 2021); Nghị quyết 57 tiếp tục nâng các nhiệm vụ thành yêu cầu
chính trị gắn với tiến độ, sản phẩm và trách nhiệm.
Các hệ thống dữ liệu, quan trắc
và dịch vụ công đã từng bước hình thành. Cuối năm 2025, Bộ Nông nghiệp và Môi
trường cho biết đã cung cấp 226/256 thủ tục trực tuyến và khảo sát 26 cơ sở dữ
liệu quốc gia, chuyên ngành: tám cơ sở dữ liệu sử dụng được, mười cần hoàn thiện,
bảy đang xây dựng, một chưa xây dựng. Tại thời điểm rà soát, chưa cơ sở dữ liệu
nào đáp ứng đầy đủ yêu cầu “đúng, đủ, sạch, sống” (Bộ Nông nghiệp và Môi trường,
2025c). Tài sản dữ liệu đã tích lũy đáng kể, nhưng chất lượng, cập nhật và liên
thông vẫn là khâu quyết định.
Điểm nghẽn thứ nhất là dữ liệu
phân tán theo dự án, cơ quan, cấp hành chính. Cùng một đối tượng có thể xuất hiện
trong nhiều hệ thống với tên, mã và mức chi tiết khác nhau. Thiếu danh mục,
siêu dữ liệu, đồng bộ làm tăng đối chiếu thủ công và giảm độ tin cậy.
Điểm nghẽn thứ hai là chưa gắn
trách nhiệm dữ liệu với quản lý chuyên môn. Đơn vị công nghệ không thể thay cơ
quan nghiệp vụ xác định nguồn gốc, quy tắc kiểm tra, tần suất cập nhật, điều kiện
công bố. Thiếu chủ sở hữu nghiệp vụ khiến cơ sở dữ liệu dễ dừng lại sau nghiệm
thu.
Điểm nghẽn thứ ba là số hóa chưa
đi cùng tái cấu trúc. Nếu hồ sơ điện tử lặp hồ sơ giấy, yêu cầu nộp lại dữ liệu
đã có hoặc cán bộ nhập cùng dữ liệu vào nhiều phần mềm, chuyển đổi số làm phát
sinh thao tác. Chất lượng phải đo bằng tỷ lệ hoàn thành, thời gian xử lý, giảm
giấy tờ và chi phí tuân thủ.
Điểm nghẽn thứ tư là thiếu liên kết
giữa nghiên cứu, đổi mới và vận hành. Nhiều nhiệm vụ dừng ở báo cáo, thử nghiệm
hoặc phần mềm đơn lẻ; nghiệm thu chưa coi khả năng tích hợp, người dùng, chi
phí vận hành và tác động quản lý là yêu cầu trung tâm; đặt hàng chưa bắt đầu từ
bài toán thực tiễn.
Điểm nghẽn thứ năm là chênh lệch
hạ tầng, năng lực giữa Trung ương, địa phương và các vùng. Chỉ đầu tư hệ thống
trung tâm mà thiếu thiết bị, đường truyền, nhân lực, quy trình tại nơi phát
sinh sẽ làm đứt gãy dữ liệu và hạn chế tiếp cận của nhóm yếu thế.
Điểm nghẽn thứ sáu là rủi ro an
ninh, thuật toán và dấu chân môi trường. Dữ liệu có thể liên quan đến an ninh
quốc gia, bí mật kinh doanh, quyền riêng tư; AI có thể sai lệch nếu dữ liệu
không đại diện; trung tâm dữ liệu, thiết bị tiêu thụ năng lượng và tạo chất thải
điện tử. Công nghệ vì thế phải “an toàn từ thiết kế” và “xanh từ thiết kế”
(OECD, 2025; UNEP, 2026).
3.4. Sáu chuyển dịch trong phương
thức quản lý
Từ các yêu cầu của Nghị quyết 57
và đặc thù lĩnh vực, chuyển đổi số thực chất cần được nhận diện thông qua sáu
chuyển dịch sau đây.
Bảng 1. Sáu chuyển dịch từ số hóa
sang quản trị tài nguyên và môi trường dựa trên dữ liệu
|
Cách tiếp cận chủ yếu trước
đây
|
Yêu cầu chuyển dịch
|
Kết quả cần đo lường
|
|
Số hóa hồ sơ và biểu mẫu riêng
lẻ
|
Quản trị toàn bộ vòng đời dữ liệu,
từ thu nhận, kiểm định, cập nhật đến lưu trữ, chia sẻ và hủy dữ liệu
|
Tỷ lệ dữ liệu có chủ quản, chuẩn
chất lượng, lịch cập nhật và nhật ký truy vết
|
|
Cơ sở dữ liệu theo dự án, đơn vị
|
Kiến trúc dữ liệu thống nhất,
mã định danh và danh mục dùng chung, kết nối qua giao diện lập trình ứng dụng
|
Số tập dữ liệu liên thông; tỷ lệ
tái sử dụng dữ liệu; giảm nhập liệu trùng lặp
|
|
Báo cáo định kỳ, phát hiện chậm
|
Quan trắc, viễn thám, IoT và
phân tích gần thời gian thực
|
Thời gian phát hiện bất thường;
độ chính xác cảnh báo; thời gian phản ứng
|
|
Kiểm tra dàn đều, xử lý sau vi
phạm
|
Giám sát từ xa, phân tích rủi
ro và hậu kiểm có trọng tâm
|
Tỷ lệ kiểm tra đúng đối tượng rủi
ro; giảm chồng chéo; tăng tỷ lệ khắc phục
|
|
Dịch vụ công điện tử hóa thủ tục
giấy
|
Dịch vụ toàn trình, không yêu cầu
khai lại dữ liệu đã có, cá nhân hóa theo người dùng
|
Thời gian, chi phí tuân thủ; tỷ
lệ hoàn thành trực tuyến; mức độ hài lòng
|
|
Nhiệm vụ khoa học kết thúc bằng
báo cáo hoặc mô hình thử nghiệm
|
Đặt hàng theo bài toán; sản phẩm
tích hợp được, có người dùng và hiệu quả đo đếm
|
Sản phẩm vận hành; số người
dùng; giá trị kinh tế, xã hội và môi trường tạo ra
|
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ Bộ
Chính trị (2024), Bộ Nông nghiệp và Môi trường (2025b) và Cơ quan Thường trực
Ban Chỉ đạo Trung ương (2026).
Sáu chuyển dịch cho thấy thước đo
cốt lõi không phải là số lượng phần mềm, cuộc họp hay văn bản hướng dẫn. Kết luận
sơ kết triển khai Nghị quyết 57 năm 2026 yêu cầu nhiệm vụ chỉ được coi là hoàn
thành khi có sản phẩm vận hành, dữ liệu kiểm chứng, người dùng thực tế và hiệu
quả có thể đo đếm; dữ liệu phải đúng, đủ, sạch, sống, liên thông và dùng chung
(Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương, 2026). Đây là nguyên tắc cần được
đưa vào quy trình lập, thẩm định, phân bổ kinh phí và đánh giá mọi nhiệm vụ
chuyển đổi số của ngành.
4. Thảo luận
4.1. Dữ liệu là hạ tầng quản trị,
không chỉ là sản phẩm công nghệ
Quan niệm dữ liệu là “tài nguyên
mới” dễ dẫn đến cách hiểu thiên về giá trị kinh tế của dữ liệu. Trong quản lý
tài nguyên và môi trường, dữ liệu trước hết là hạ tầng thể chế và hạ tầng niềm
tin. Một quyết định cấp phép, phân bổ tài nguyên, xác định nghĩa vụ tài chính,
khoanh vùng rủi ro hoặc xử lý vi phạm chỉ có thể dựa trên dữ liệu nếu dữ liệu
có nguồn gốc rõ ràng, được kiểm định, cập nhật và có giá trị pháp lý. Vì vậy,
nhiệm vụ quan trọng không chỉ là thu thập nhiều dữ liệu hơn, mà là thiết lập
chuỗi trách nhiệm đối với từng dữ liệu: ai tạo lập, ai xác nhận, ai cập nhật,
ai được khai thác và ai chịu trách nhiệm khi dữ liệu sai.
Mỗi cơ sở dữ liệu chuyên ngành phải
vừa bảo đảm tính đặc thù, vừa tham gia kiến trúc chung. Tập trung hóa không có
nghĩa là dồn tất cả dữ liệu vào một phần mềm duy nhất. Mô hình phù hợp hơn là
quản trị thống nhất về tiêu chuẩn, định danh, danh mục, siêu dữ liệu, giao thức
kết nối và quyền truy cập; còn dữ liệu chi tiết có thể được quản lý phân tán tại
cơ quan có thẩm quyền. Cần hình thành “một nguồn dữ liệu có thẩm quyền” cho từng
đối tượng quản lý và cơ chế đồng bộ, thay vì sao chép nhiều phiên bản không xác
định được bản nào là chính thức.
Đặc biệt, dữ liệu không gian phải
được coi là lớp tích hợp nền tảng. Một mã định danh cơ sở, thửa đất, công
trình, nguồn thải, điểm quan trắc hoặc giấy phép cần liên kết được với vị trí,
thời gian và đơn vị hành chính tương ứng. Khi địa giới hoặc tổ chức bộ máy thay
đổi, dữ liệu lịch sử phải tiếp tục được truy nguyên. Đồng thời, hệ thống phải hỗ
trợ phân tích theo đơn vị tự nhiên như lưu vực, vùng ven biển và hệ sinh thái,
không chỉ theo đơn vị hành chính. Đây là đóng góp trực tiếp của tiếp cận địa lý
đối với quản trị số và phát triển bền vững vùng.
4.2. Chuyển đổi số phải bắt đầu từ
bài toán quản lý và quyết định cần cải thiện
Một dự án chuyển đổi số có thể hiện
đại về kỹ thuật nhưng không hiệu quả nếu không trả lời được câu hỏi: quyết định
nào sẽ tốt hơn, nhanh hơn hoặc minh bạch hơn nhờ hệ thống này? Đối với tài
nguyên và môi trường, các bài toán ưu tiên nên được lựa chọn theo mức độ rủi
ro, phạm vi tác động và giá trị công. Ví dụ: phát hiện sớm nguồn gây ô nhiễm
không khí theo vùng; giám sát tổng lượng khai thác nước theo lưu vực; kiểm soát
biến động đất, rừng và khai thác khoáng sản; theo dõi dòng chất thải nguy hại;
đánh giá sức chịu tải; cảnh báo nguy cơ sự cố; hoặc cung cấp một hồ sơ môi trường
số thống nhất cho cơ sở sản xuất.
Từ bài toán, cơ quan quản lý mới
xác định dữ liệu tối thiểu, mô hình phân tích, tần suất cập nhật, ngưỡng cảnh
báo, người nhận cảnh báo và quy trình xử lý. Cách tiếp cận này tránh tình trạng
“có dữ liệu nhưng không ra quyết định” hoặc “có cảnh báo nhưng không ai chịu
trách nhiệm phản ứng”. Công nghệ phải được gắn với quy trình nghiệp vụ và thẩm
quyền pháp lý ngay từ thiết kế.
Trí tuệ nhân tạo cần được sử dụng
như công cụ hỗ trợ, không thay thế trách nhiệm của người có thẩm quyền. Các mô
hình dự báo chất lượng môi trường, phân loại ảnh viễn thám, phát hiện bất thường
hoặc chấm điểm rủi ro phải được kiểm định, theo dõi sai số và có cơ chế giải
thích phù hợp với mục đích sử dụng. Những quyết định ảnh hưởng đến quyền, lợi
ích của tổ chức, cá nhân cần có con người xem xét và có cơ chế khiếu nại, sửa
sai.
4.3. Chuyển đổi số gắn với phân cấp,
phối hợp vùng và sự tham gia của xã hội
Chuyển đổi số có thể làm rõ hơn
ranh giới trách nhiệm giữa Trung ương và địa phương. Trung ương cần thiết lập
kiến trúc, chuẩn dữ liệu, nền tảng dùng chung, hệ thống tích hợp và các mô hình
phân tích ở quy mô quốc gia, liên vùng. Địa phương chịu trách nhiệm tạo lập, cập
nhật và kiểm chứng dữ liệu tại nguồn; tổ chức vận hành, phản ứng và cung cấp dịch
vụ trên địa bàn. Cơ chế phân cấp chỉ hiệu quả khi quyền truy cập, trách nhiệm cập
nhật và tiêu chí chất lượng dữ liệu được quy định rõ.
Đối với các vấn đề liên vùng, nền
tảng số phải hỗ trợ một bức tranh chung và quy trình phối hợp. Dữ liệu chất lượng
nước trên lưu vực chẳng hạn phải được liên kết với lượng nước, vận hành hồ chứa,
nguồn thải và nhu cầu sử dụng; dữ liệu chất lượng không khí phải gắn với nguồn
phát thải, khí tượng và vận chuyển ô nhiễm. Cùng một tập dữ liệu được các địa
phương nhìn thấy không tự động tạo ra phối hợp; cần có quy chế cảnh báo, chia sẻ
trách nhiệm, tham vấn và xử lý khi vượt ngưỡng.
Người dân, cộng đồng và doanh
nghiệp vừa là người sử dụng, vừa là nguồn tạo dữ liệu. Thiết kế dịch vụ cần
tính đến khả năng tiếp cận của nhóm yếu thế, địa bàn khó khăn và người có kỹ
năng số hạn chế. Dữ liệu do cộng đồng cung cấp cần có quy trình xác minh nhưng
không nên bị xem nhẹ. Khi thông tin công khai rõ ràng, người dân có thể giám
sát, doanh nghiệp có thể tự đánh giá tuân thủ, còn cơ quan nhà nước tăng được
tính trách nhiệm giải trình. Đây là điều kiện để chuyển đổi số tạo ra giá trị
xã hội, thay vì chỉ làm thay đổi kênh giao tiếp.
4.4. Chuyển đổi số và chuyển đổi
xanh phải được thiết kế đồng bộ
Công nghệ số hỗ trợ giảm khai
thác tài nguyên, tối ưu hóa năng lượng, giám sát phát thải và thúc đẩy kinh tế
tuần hoàn. Tuy nhiên, bản thân hạ tầng số có dấu chân môi trường. OECD gọi đây
là yêu cầu gắn kết hai quá trình chuyển đổi xanh và số: phát huy công nghệ cho
mục tiêu môi trường, đồng thời đo lường và giảm tác động môi trường của công
nghệ (OECD, 2024). Đối với các dự án của ngành, tiêu chí đầu tư cần bao gồm hiệu
suất năng lượng của trung tâm dữ liệu, khả năng dùng chung hạ tầng, vòng đời
thiết bị, quản lý chất thải điện tử và tránh thu thập, lưu trữ dữ liệu không cần
thiết.
Việc lựa chọn giải pháp cũng cần
tránh phụ thuộc nhà cung cấp. Tiêu chuẩn mở, khả năng chuyển đổi dữ liệu, giao
diện kết nối và quyền sở hữu mã nguồn hoặc quyền sử dụng lâu dài phải được xác
định trong hợp đồng. Đầu tư công nên ưu tiên kiến trúc mô-đun, có thể mở rộng
và thay thế từng thành phần. Tự chủ công nghệ không đồng nghĩa với tự làm mọi
thứ, mà là làm chủ dữ liệu, kiến trúc, tiêu chuẩn, yêu cầu nghiệp vụ và khả
năng vận hành hệ thống trong dài hạn.
5. Khuyến nghị triển khai
5.1. Hoàn thiện thể chế số và
trách nhiệm dữ liệu
Trước hết, cần rà soát đồng bộ
pháp luật chuyên ngành để thừa nhận đầy đủ giá trị pháp lý của hồ sơ, giấy
phép, báo cáo, kết quả quan trắc và bằng chứng điện tử; quy định nguyên tắc
không yêu cầu tổ chức, cá nhân cung cấp lại dữ liệu mà cơ quan nhà nước đã có
và có quyền khai thác. Mỗi nhóm dữ liệu phải được xác định cơ quan chủ quản,
đơn vị vận hành, nguồn dữ liệu gốc, tiêu chuẩn chất lượng, tần suất cập nhật,
thời hạn lưu trữ, chế độ công khai và trách nhiệm sửa sai.
Các quy định kỹ thuật cần chuyển
từ mô tả từng hệ thống sang quản trị khả năng tương tác: mã định danh thống nhất,
danh mục và từ điển dữ liệu, siêu dữ liệu, chuẩn tọa độ - thời gian, giao diện
lập trình ứng dụng, chữ ký số và nhật ký truy vết. Cần phân loại dữ liệu theo mức
độ chia sẻ; thực hiện nguyên tắc mở tối đa đối với dữ liệu phục vụ lợi ích
công, nhưng bảo vệ chặt chẽ dữ liệu thuộc bí mật nhà nước, dữ liệu cá nhân và
bí mật kinh doanh.
5.2. Xây dựng kiến trúc dữ liệu
ngành thống nhất, lấy dữ liệu không gian làm lớp tích hợp
Cần hoàn thiện kiến trúc dữ liệu
của Bộ Nông nghiệp và Môi trường gắn với Trung tâm Dữ liệu quốc gia và các nền
tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu quốc gia. Trong đó, cơ sở dữ liệu đất đai, nền địa
lý, viễn thám và hệ thống định danh đối tượng quản lý cần được tổ chức để hỗ trợ
liên kết các lớp dữ liệu tài nguyên, môi trường và kinh tế - xã hội, nhưng
không làm mất tính tự chủ và trách nhiệm của cơ sở dữ liệu chuyên ngành.
Ưu tiên trước mắt là làm sạch và
đồng bộ dữ liệu hiện có, không chạy theo số lượng cơ sở dữ liệu mới. Mỗi cơ sở
dữ liệu cần có lộ trình đạt chuẩn “đúng, đủ, sạch, sống, liên thông, dùng
chung”, kèm chỉ số chất lượng, tỷ lệ bản ghi có định danh, tỷ lệ cập nhật đúng
hạn và tỷ lệ được tái sử dụng trong nghiệp vụ. Cần bố trí kinh phí thường xuyên
cho duy trì, cập nhật và bảo đảm an toàn, tránh tư duy chỉ đầu tư xây dựng ban
đầu.
5.3. Tái cấu trúc quy trình và
hình thành dịch vụ công dựa trên dữ liệu
Mỗi thủ tục hành chính cần được
rà soát từ nhu cầu của người sử dụng và dòng dữ liệu, không đơn thuần chuyển biểu
mẫu giấy lên mạng. Hồ sơ môi trường số của một dự án, cơ sở cần liên kết xuyên
suốt từ đánh giá tác động môi trường, giấy phép môi trường, vận hành, quan trắc,
báo cáo, giám sát đến xử lý vi phạm; qua đó giảm yêu cầu khai báo lại và hỗ trợ
hậu kiểm.
Nên lựa chọn một số chuỗi thủ tục
có tần suất lớn hoặc chi phí tuân thủ cao để tái cấu trúc thí điểm, đo thời
gian trước và sau, sau đó nhân rộng. Cổng dịch vụ chỉ là giao diện; chất lượng
phụ thuộc vào khả năng kết nối dữ liệu phía sau, xử lý liên cơ quan và trả kết
quả điện tử có thể kiểm chứng.
5.4. Phát triển hệ thống giám
sát, dự báo và điều hành theo rủi ro
Cần tích hợp dữ liệu quan trắc,
viễn thám, IoT, giấy phép và phản ánh xã hội để xây dựng hồ sơ rủi ro cho nguồn
thải, công trình khai thác tài nguyên và khu vực nhạy cảm. Cơ chế cảnh báo phải
quy định rõ ngưỡng, mức độ tin cậy, cơ quan nhận, thời gian xác minh và hành động
tiếp theo. Các trung tâm điều hành không nên chỉ hiển thị bảng số liệu, mà phải
hỗ trợ phân tích nguyên nhân, dự báo kịch bản và theo dõi việc xử lý cảnh báo.
Ưu tiên phát triển các mô hình
dùng chung cho vấn đề có tính vùng: chất lượng không khí, an ninh nguồn nước, hạn
hán, sạt lở, suy giảm rừng, ô nhiễm biển và sự cố chất thải. Bản sao số có thể
được thí điểm tại một số đô thị, lưu vực hoặc vùng ven biển khi đã có dữ liệu đủ
chất lượng và bài toán quyết định rõ ràng; không nên đầu tư bản sao số như một
mô hình trình diễn tách rời hoạt động quản lý.
5.5. Đổi mới cơ chế khoa học,
công nghệ và đổi mới sáng tạo theo sản phẩm cuối cùng
Các cơ quan quản lý cần công bố
bài toán lớn, bộ dữ liệu thử nghiệm và tiêu chí đầu ra để viện nghiên cứu, trường
đại học, doanh nghiệp cùng tham gia. Nhiệm vụ khoa học và dự án số phải có yêu
cầu về khả năng tích hợp, kiểm thử với người dùng, kế hoạch vận hành, bảo trì,
bảo mật và chuyển giao. Đối với nghiên cứu ứng dụng, tiêu chí đánh giá cần coi
số người dùng, mức độ cải thiện quyết định, giá trị kinh tế - xã hội - môi trường
và khả năng nhân rộng là những thước đo quan trọng.
Cần áp dụng cơ chế thử nghiệm có
kiểm soát đối với công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo, thiết bị bay không người
lái, cảm biến chi phí thấp, chuỗi khối trong truy xuất dòng chất thải và dữ liệu
cộng đồng. Thử nghiệm phải giới hạn rõ phạm vi, thời gian, rủi ro, cơ chế giám
sát và điều kiện kết thúc hoặc mở rộng. Nhà nước giữ vai trò đặt bài toán, tạo
dữ liệu và tiêu chuẩn; doanh nghiệp phát triển giải pháp; viện, trường kiểm chứng
phương pháp và đào tạo nhân lực.
5.6. Phát triển năng lực số và
văn hóa làm việc dựa trên dữ liệu
Người đứng đầu phải trực tiếp chỉ
đạo và chịu trách nhiệm về kết quả chuyển đổi số trong phạm vi quản lý. Mỗi đơn
vị chuyên môn cần có cán bộ phụ trách dữ liệu và mạng lưới phối hợp với đơn vị
công nghệ. Đào tạo không nên chỉ tập trung vào sử dụng phần mềm, mà phải bao gồm
quản trị dữ liệu, phân tích không gian, thống kê, an toàn thông tin, đạo đức AI
và kỹ năng giải thích dữ liệu cho quyết định chính sách.
Cần xây dựng cơ chế khuyến khích
cán bộ đề xuất sáng kiến, thử nghiệm cách làm mới và chia sẻ dữ liệu đúng quy định.
Đồng thời, đánh giá thi đua phải gắn với kết quả: dữ liệu được cập nhật, quy
trình được rút gọn, sản phẩm được sử dụng và vấn đề thực tiễn được giải quyết.
Việc triển khai hình thức, chậm trễ hoặc để hệ thống không được sử dụng cần được
nhận diện và xử lý trách nhiệm.
5.7. Bảo đảm an ninh, an toàn, đạo
đức và tính bền vững ngay từ thiết kế
Mọi hệ thống phải được phân loại
cấp độ, đánh giá rủi ro, quản lý danh tính và quyền truy cập, sao lưu, dự phòng
và giám sát an toàn ngay từ giai đoạn thiết kế. Dữ liệu nhạy cảm cần được mã
hóa, phân quyền theo vai trò và ghi nhật ký khai thác. Các mô hình AI phải có hồ
sơ dữ liệu, kiểm thử sai lệch, cơ chế giám sát sau triển khai và khả năng con
người can thiệp.
Đồng thời, dự án số cần có tiêu
chí xanh: dùng chung hạ tầng, tối ưu lưu trữ, lựa chọn trung tâm dữ liệu tiết
kiệm năng lượng, kéo dài vòng đời thiết bị và thu hồi chất thải điện tử. Hiệu
quả môi trường của hệ thống cần được đánh giá trên toàn vòng đời, tránh tình trạng
công nghệ phục vụ bảo vệ môi trường nhưng lại tạo thêm chi phí tài nguyên và
phát thải không cần thiết.
6. Kết luận
Nghị quyết 57 tạo ra khuôn khổ
chính trị và động lực mới để phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo
và chuyển đổi số trở thành phương thức chủ yếu nâng cao năng lực quản trị quốc
gia. Đối với quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường, ý nghĩa lớn nhất của chuyển
đổi số không nằm ở việc thay hồ sơ giấy bằng tệp điện tử, mà ở khả năng tạo ra
một hệ thống quản trị nhìn thấy được trạng thái tài nguyên và môi trường theo
không gian - thời gian; nhận biết sớm rủi ro; phối hợp vượt qua ranh giới
ngành, địa phương; và cung cấp dịch vụ minh bạch, thuận tiện cho người dân,
doanh nghiệp.
Để đạt được điều đó, cần thực hiện
đồng thời đổi mới thể chế, chuẩn hóa dữ liệu, tái cấu trúc quy trình, phát triển
hạ tầng và công nghệ, nâng cao năng lực con người, bảo đảm an ninh và đo lường
kết quả thực tế. Dữ liệu phải trở thành hạ tầng của quyết định; cơ quan nghiệp
vụ phải là chủ thể của chuyển đổi số; người đứng đầu phải chịu trách nhiệm; nhà
khoa học, doanh nghiệp và cộng đồng phải được tham gia giải quyết bài toán
chung. Thành công phải được chứng minh bằng dữ liệu được sử dụng, cảnh báo được
xử lý, thủ tục được rút ngắn, vi phạm và rủi ro được phòng ngừa, tài nguyên được
khai thác hiệu quả hơn và môi trường sống của người dân được cải thiện.
Chuyển đổi số vì vậy vừa là công
cụ, vừa là quá trình cải cách quản trị. Nếu được triển khai đúng tinh thần Nghị
quyết 57, đây sẽ là nền tảng quan trọng để chuyển từ quản lý phân tán, phản ứng
sang quản trị tài nguyên và môi trường hiện đại, chủ động, dựa trên dữ liệu và
hướng tới phát triển bền vững của từng vùng và cả nước.
Tài liệu tham khảo
Bộ Chính trị. (2024). Nghị quyết
số 57-NQ/TW ngày 22 tháng 12 năm 2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ,
đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/he-thong-van-ban/van-ban-cua-dang/nghi-quyet-so-57-nqtw-ngay-22122024-cua-bo-chinh-tri-ve-dot-pha-phat-trien-khoa-hoc-cong-nghe-doi-moi-sang-tao-va-chuyen-11162
Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
(2025a, May 10). Định hướng nghiên cứu khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo,
chuyển đổi số trong lĩnh vực môi trường, tài nguyên nước và viễn thám. https://dwrm.mae.gov.vn/SMPT_Publishing_UC/KhaiThac/TinTuc/pInTinTuc.aspx?ItemID=15410
Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
(2025b). Quyết định số 503/QĐ-BNNMT ngày 27 tháng 3 năm 2025 ban hành Kế hoạch
của Bộ Nông nghiệp và Môi trường thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW. https://mae.gov.vn/Pages/chitietvanbandh.aspx?ItemID=3193
Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
(2025c). Bộ Nông nghiệp và Môi trường tăng tốc hoàn thành nhiệm vụ theo Nghị
quyết 57-NQ/TW. https://mae.gov.vn/e-magazine/bo-nong-nghiep-va-moi-truong-tang-toc-hoan-thanh-nhiem-vu-theo-nghi-quyet-57nqtw-20536.htm
Bộ Tài nguyên và Môi trường.
(2021). Quyết định số 417/QĐ-BTNMT ngày 10 tháng 3 năm 2021 phê duyệt Chương
trình chuyển đổi số tài nguyên và môi trường đến năm 2025, định hướng đến năm
2030.
Chính phủ. (2025a). Nghị quyết
số 03/NQ-CP ngày 9 tháng 1 năm 2025 ban hành Chương trình hành động của Chính
phủ thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW. https://chinhphu.vn/?docid=212350&pageid=27160
Chính phủ. (2025b). Nghị quyết
số 71/NQ-CP ngày 1 tháng 4 năm 2025 sửa đổi, bổ sung, cập nhật Chương trình
hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW. https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/he-thong-van-ban/nghi-quyet-cua-chinh-phu/nghi-quyet-so-71nq-cp-ngay-0142025-cua-chinh-phu-sua-doi-bo-sung-cap-nhat-chuong-trinh-hanh-dong-cua-chinh-phu-thuc-hien-nghi-11479
Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo
Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
(2026). Thông báo số 24-TB/CQTTBCĐ: Kết luận tại Hội nghị toàn quốc sơ kết
triển khai thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW. https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/thong-bao-so-24-tb-cqttbcd-ket-luan-cua-dong-chi-tong-bi-thu-chu-tich-nuoc-to-lam-tai-hoi-nghi-toan-quoc-so-ket-trien-khai-thuc-hien-nghi-quyet-so-57-nq-tw-119260710083249224.htm
Organisation for Economic
Co-operation and Development. (2024). Digital technologies and the environment.
In OECD Digital Economy Outlook 2024 (Volume 2). OECD Publishing. https://doi.org/10.1787/3adf705b-en
Organisation for Economic
Co-operation and Development. (2025). Recommendation of the Council on
Digital Technologies and the Environment (OECD/LEGAL/0380). https://legalinstruments.oecd.org/en/instruments/OECD-LEGAL-0380
Quốc hội. (2020). Luật Bảo vệ
môi trường số 72/2020/QH14 ngày 17 tháng 11 năm 2020.
Quốc hội. (2023a). Luật Giao dịch
điện tử số 20/2023/QH15 ngày 22 tháng 6 năm 2023.
Quốc hội. (2023b). Luật Tài
nguyên nước số 28/2023/QH15 ngày 27 tháng 11 năm 2023.
Quốc hội. (2024). Luật Dữ liệu
số 60/2024/QH15 ngày 30 tháng 11 năm 2024. https://vietlaw.quochoi.vn/Pages/vbpq-toan-van.aspx?ItemID=29389
United Nations Environment
Programme. (2024). Digital public infrastructure for environmental
sustainability. https://www.unep.org/resources/report/digital-public-infrastructure-environmental-sustainability
United Nations Environment
Programme. (2026). Global Environmental Data Strategy. https://www.unep.org/topics/digital-transformations/global-environmental-data-strategy-geds