Tạp chí khoa học trong bối cảnh chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo
Tóm tắt: Chuyển đổi số là xu thế
khách quan và là con đường tất yếu đối với các cơ quan báo chí, trong đó có các
tạp chí khoa học. Chuyển đổi số trong hoạt động của tạp chí khoa học là quá
trình ứng dụng các công cụ, giải pháp công nghệ số để thay đổi toàn diện và tổng
thể mô hình hoạt động của tạp chí khoa học, từ quy trình biên tập, xuất bản,
phân phối nội dung đến văn hóa làm việc, phương thức tác nghiệp, quản trị tòa
soạn, nhằm cải tiến và tối ưu hóa hoạt động. Hiện nay, phần lớn các tạp chí uy
tín quốc tế đã chuyển sang phát hành trực tuyến, nhưng tại Việt Nam, số lượng tạp
chí khoa học phát hành trực tuyến còn hạn chế. Do vậy, cần đẩy mạnh công tác
chuyển đổi số thông qua nền tảng trực tuyến. Điều này sẽ tạo lập cơ sở dữ liệu
công bố và trích dẫn khoa học, góp phần nâng cao chất lượng nghiên cứu và giúp
tạp chí Việt Nam có thêm cơ hội vào danh mục cơ sở dữ liệu trong khu vực.
Từ khoá: chuyển đổi số, tạp chí
khoa học, xuất bản số, cơ sở dữ liệu khoa học.
DIGITAL TRANSFORMATION AND
INNOVATION IN SCIENTIFIC JOURNALS: CHALLENGES, CURRENT STATUS AND POLICY
RECOMMENDATIONS IN VIETNAM
Abstract: Digital transformation
has become an inevitable trend and a strategic pathway for media organizations,
including scientific journals. In the context of rapid technological
advancement and innovation, digital transformation in scientific publishing
refers to the comprehensive application of digital technologies to redesign
editorial workflows, publishing processes, content dissemination, editorial
management, and organizational culture in order to improve operational
efficiency and publication quality. Worldwide, most reputable scientific
journals have shifted to online publishing and digital dissemination, thereby
enhancing accessibility, visibility, and international scholarly communication.
In contrast, the number of Vietnamese scientific journals operating fully on
digital publishing platforms remains relatively limited. Accelerating digital
transformation is therefore an urgent requirement for improving editorial
quality, modernizing publishing processes, strengthening research integrity,
and expanding the international visibility of Vietnamese scholarly
publications. Developing online publishing platforms integrated with digital
identifiers, citation databases, and international indexing standards will
contribute to establishing a robust national scientific publishing ecosystem
while creating greater opportunities for Vietnamese journals to be included in
regional and global citation databases.
Keywords: digital transformation,
scientific journals, digital publishing, research databases.
1. Một số vấn đề về tạp chí trong
bối cảnh hiện nay
Tạp chí, theo cách hiểu truyền thống
là cơ quan nghiên cứu lý luận, học thuật, khoa học của một cơ quan, tổ chức,
đoàn thể, có chức năng nghiên cứu, hướng dẫn, trao đổi nghiệp vụ khoa học về một
lĩnh vực thuộc phạm vi ngành, địa phương. Các tạp chí khoa học được xem là đại
diện tiêu biểu cho nền khoa học của mỗi quốc gia. Đó là nơi để phổ biến, giới
thiệu và công bố các kết quả nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn.
Ở Việt Nam, với sự phát triển
nhanh của các ngành khoa học, tạp chí khoa học ngày càng phong phú về số lượng,
nâng cao về chất lượng, phân bố trên nhiều lĩnh vực. Luật Báo chí coi tạp chí
khoa học là sản phẩm báo chí xuất bản định kỳ để công bố kết quả nghiên cứu
khoa học, thông tin về hoạt động khoa học chuyên ngành [khoản 16, điều 3 Luật
Báo chí 2016].
Theo thống kê đến tháng 9-2024, cả
nước có 809 cơ quan báo chí, trong đó có 671 cơ quan tạp chí, trong đó có 319 tạp
chí khoa học, 72 tạp chí văn học - nghệ thuật. Theo tôn chỉ, mục đích và nội
dung của tạp chí được chia thành các nhóm khác nhau, gồm:
Nhóm tạp chí lý luận chính trị,
nhóm tạp chí khoa học và nhóm tạp chí phổ thông. Trong mỗi loại hình tạp
chí lại có các phân hệ tạp chí khác nhau:
1) Tạp chí lý luận chính trị gồm:
Tạp chí lý luận chính trị (Tạp chí Cộng sản của Ban Chấp hành Trung ương), tạp
chí chính trị chuyên ngành (các đơn vị, vụ, viện, học viện trực thuộc các đơn vị
sự nghiệp ở Trung ương);
2) Tạp chí khoa học gồm: Tạp chí
khoa học thông tin lý luận, tạp chí khoa học chuyên ngành và tạp chí khoa học ứng
dụng mang tính đại chúng (tạp chí chính trị học, kinh tế học, xã hội học, luật
học, y học…);
3)Tạp chí phổ thông gồm: Tạp chí
thông tin - chỉ dẫn, tạp chí giải trí (tạp chí Thông tin và Truyền thông, tạp
chí Ngày Nay, tạp chí Du lịch, tạp chí Mốt, tạp chí Văn nghệ…).
Đối với nhóm tạp chí lý luận
chính trị và tạp chí khoa học chuyên ngành chủ yếu sử dụng các loại thể chính
luận (gồm xã luận, bình luận, chuyên luận), bài báo khoa học và một số thể loại
báo chí thứ yếu khác, như điều tra khoa học, thông tin khoa học, phỏng vấn
chuyên gia. Đối với nhóm tạp chí phổ thông, loại thể gần với nhật báo. Có
những tạp chí là sự giao thoa giữa tạp chí lý luận chính trị và tạp chí khoa học
chuyên ngành; giữa tạp chí khoa học chuyên ngành và tạp chí phổ thông.
So với các hình thức phổ biến kiến
thức khác thì loại hình phổ biến trên Tạp chí khoa học có lợi thế là có đông đảo
bạn đọc trong và nước ngoài. Đặc thù của Tạp chí khoa học là thực hiện hoạt động
thông tin, yêu cầu cơ bản của thông tin là phải nhanh nhạy, kịp thời, cập nhật,
nếu không thông tin sẽ trở nên lỗi thời, không còn tính hấp dẫn. Do vậy, chuyển
đổi số không chỉ là xu hướng tất yếu mà còn mở ra cơ hội nâng cao chất lượng xuất
bản, tăng cường kết nối quốc tế cho các tạp chí khoa học.
2. Tiêu chí chuyển đổi số của tạp
chí khoa học
Hiện nay, tạp chí in vốn được xếp
hàng thứ yếu trong quan niệm phổ biến về chiến lược phát triển của một số Tạp
chí, nhưng thực tế vẫn có nhiều Tạp chí bản in vẫn là một tài sản lưu giữ
tri thức quan trọng. Nhiều tòa soạn phải đối diện với thực tế khác thường: Phần
lớn bạn đọc và danh tiếng của tờ báo đến từ bản digital, nhưng phần lớn doanh
thu lại đến từ bản in. Tờ Guardian sử dụng chiến lược giá bán lẻ cao để khuyến
khích bạn đọc vãng lai thành bạn đọc mua gói (để được giảm giá), đồng thời đóng
gói các bài báo in cung cấp cho các subscribers của bản online.
Trong bối cảnh Cách mạng công
nghiệp lần thứ tư phát triển ngày càng mạnh mẽ hiện nay, chuyển đổi số là xu thế
tất yếu trong hầu hết các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, trong đó có
báo chí, truyền thông. Chuyển đổi số trở thành yêu cầu cấp thiết để các cơ quan
báo chí, trong đó có các tạp chí đổi mới phương thức vận hành, nâng cao hiệu quả
hoạt động, đáp ứng nhu cầu của độc giả và cạnh tranh với các loại hình truyền
thông khác.
Chuyển đổi số trong hoạt động của
tạp chí khoa học là quá trình ứng dụng các công cụ, giải pháp công nghệ số để
thay đổi toàn diện và tổng thể mô hình hoạt động của tạp chí khoa học, từ quy
trình biên tập, xuất bản, phân phối nội dung đến văn hóa làm việc, phương thức
tác nghiệp, quản trị tòa soạn, nhằm cải tiến và tối ưu hóa hoạt động.
Chuyển đổi số trong hoạt động của
tạp chí khoa học bao gồm các nội dung chính:
1) Đưa nội dung lên các nền tảng
số sẵn có, hướng tới xuất bản tạp chí điện tử;
2) Đổi mới mô hình tổ chức và hoạt
động của tòa soạn tạp chí; 3) Tăng cường ứng dụng công nghệ trong hoạt động
nghiệp vụ;
4) Phát triển hạ tầng số và bảo đảm
an ninh, an toàn thông tin;
5) Nâng cao chất lượng nguồn nhân
lực đáp ứng các yêu cầu của chuyển đổi số.
Chuyển đổi số đối với tạp chí
khoa học thể hiện trên các phương diện:
1) Chuyển đổi số về quy trình xuất
bản: tạp chí khoa học cần xây dựng phần mềm trực tuyến đảm bảo toàn bộ quy
trình xuất bản (nhận bài, sơ duyệt, chuyển phản biện, phản biện gửi góp ý, tác
giả sửa theo đề nghị của phản biện, chỉnh sửa, hiệu đính… xuất bản) đều được xử
lý trên phần mềm này;
2) Website của tạp chí đảm bảo
thuận tiện cho độc giả (đơn giản nhưng đầy đủ, thân thiện, truy cập nhanh, dễ
tìm kiếm, tương thích với hệ thống tìm kiếm, thống kê phổ biến hiện nay về khoa
học;
3) Ứng dụng các công nghệ của cuộc
cách mạng công nghiệp 4.0 vào xuất bản: trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, học
máy…;
4) Đảm bảo an toàn thông tin.
Theo Quyết định số 1827/QĐ-BTTTT
ngày 24/10/2024 của Bộ Thông tin và Truyền thông về việc ban hành bộ chỉ số
đánh giá, đo lường mức độ trưởng thành chuyển đổi số báo chí. Theo đó, Bộ Chỉ số
đánh giá, đo lường mức độ trưởng thành chuyển đổi số báo chí được dùng để theo
dõi, đánh giá được hiện trạng thực hiện chuyển đổi số hàng năm của cơ quan báo
chí, so sánh và xếp hạng mức độ chuyển đổi số của cơ quan báo chí; so sánh giữa
các năm với nhau thấy được các điểm mạnh cần phát huy, những điểm yếu cần khắc
phục và cung cấp thông tin hỗ trợ cho cơ quan báo chí và các cơ quan liên quan
thực hiện các giải pháp chuyển đổi số phù hợp nhằm hoàn thành các mục tiêu đã đặt
ra tại Chiến lược chuyển đổi số báo chí đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
Tổng thang điểm đánh giá đạt tối
đa của Chỉ số đo lường mức độ trưởng thành chuyển đổi số báo chí của các cơ
quan báo chí là 100 điểm, được chia cho 5 trụ cột, trong đó thang điểm tối đa của
các trụ cột như sau:
(1) Chiến lược: 18 điểm
(2) Hạ tầng số, nền tảng số và an
toàn thông tin: 24 điểm
(3) Sự đồng nhất về tổ chức và
chuyên môn: 20 điểm
(4) Độc giả, khán giả, thính giả:
23 điểm
(5) Mức độ ứng dụng công nghệ số:
15 điểm
Bảng 1. Thang điểm đánh giá mức
độ trưởng thành chuyển đổi số của cơ quan báo chí
|
TT
|
Chỉ số
|
Số lượng tiêu chí
|
Thang điểm tối đa
|
|
Đánh giá tổng thể
|
43
|
100
|
|
1
|
Chiến lược
|
06
|
18
|
|
Chiến lược/kế hoạch/chương
trình tổng thể/ giai đoạn và hằng năm
|
03
|
8
|
|
Tài chính
|
03
|
10
|
|
2
|
Hạ tầng số, nền tảng số và an
toàn thông tin
|
20
|
24
|
|
Hạ tầng số
|
03
|
4
|
|
Nền tảng số
|
11
|
12
|
| |
|
|
|
|
Bảo đảm an toàn thông tin
|
06
|
8
|
|
3
|
Sự đồng nhất về tổ chức và
chuyên môn
|
07
|
20
|
|
Sự đồng nhất về tổ chức
|
03
|
10
|
|
Sự đồng nhất về chuyên môn
|
04
|
10
|
|
4
|
Độc giả, khán giả, thính giả
|
07
|
23
|
|
Quản lý trải nghiệm của độc giả,
khán giả, thính giả
|
03
|
11
|
|
Trải nghiệm của độc giả, khán
giả, thính giả
|
04
|
12
|
|
5
|
Mức độ ứng dụng công nghệ số
|
03
|
15
|
Tùy theo kết quả đánh giá (điểm tổng
đạt được của tất cả các tiêu chí) cơ quan báo chí sẽ được xếp loại. Mức độ trưởng
thành chuyển đổi số báo chí của các cơ quan báo chí sẽ được xác định căn cứ vào
tổng điểm đạt được của 5 trụ cột/ chỉ số thành phần và được xếp hạng như sau:
Mức 1: dưới 50 điểm - ở mức Yếu
Mức 2: từ 50 đến dưới 60 điểm - ở
mức Trung bình
Mức 3: từ 60 đến dưới 75 điểm - ở
mức Khá
Mức 4: từ 75 đến dưới 90 điểm - ở
mức Tốt
Mức 5: từ 90 điểm trở lên - ở mức
Xuất sắc
Bộ Chỉ số đánh giá, đo lường mức
độ trưởng thành chuyển đổi số báo chí được dùng để theo dõi, đánh giá được hiện
trạng thực hiện chuyển đổi số hàng năm của cơ quan báo chí, so sánh và xếp hạng
mức độ chuyển đổi số của cơ quan báo chí; so sánh giữa các năm với nhau thấy được
các điểm mạnh cần phát huy, những điểm yếu cần khắc phục và cung cấp thông tin
hỗ trợ cho cơ quan báo chí và các cơ quan liên quan thực hiện các giải pháp
chuyển đổi số phù hợp nhằm hoàn thành các mục tiêu đã đặt ra tại Chiến lược
chuyển đổi số báo chí đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
Việc đánh giá, đo lường mức độ
trưởng thành chuyển đổi số báo chí của các cơ quan báo chí trước hết được thực
hiện theo từng tiêu chí, sau đó tính theo từng chỉ số thành phần/ trụ cột. Mỗi
trụ cột/chỉ số thành phần sẽ có các tiêu chí và điểm tối đa tương ứng của
tiêu chí.
Nhằm đảm bảo tính toàn diện,
khách quan, việc đánh giá, đo lường mức độ trưởng thành chuyển đổi số báo
chí được Bộ Thông tin và Truyền thông thành lập Hội đồng thẩm định thực hiện rà
soát, đối chiếu, kiểm tra số liệu các cơ quan báo chí cung cấp để đánh giá, xếp
hạng mức độ trưởng thành chuyển đổi số báo chí của các cơ quan báo chí. Căn cứ
theo kết quả thẩm định, điểm đánh giá từng tiêu chí của cơ quan báo chí có thể
được điều chỉnh.
Đối với các tiêu chí do các cơ
quan báo chí cung cấp số liệu để đánh giá, nếu cơ quan báo chí không cung cấp
được thông tin, số liệu báo cáo đối với tiêu chí nào thì giá trị điểm đối với
tiêu chí tương ứng đó sẽ có thể bị chấm là 0 điểm.
Kết quả đánh giá, xếp hạng là cơ
sở để các cơ quan báo chí theo dõi lộ trình thực hiện chuyển đổi số hằng
năm của đơn vị, phản ánh một bức tranh rõ nét hơn về tình hình ứng dụng và phát
triển CNTT, chuyển đổi số, từ đó các cơ quan báo chí xây dựng phương án, kế hoạch
phù hợp thúc đẩy hoạt động CNTT nói chung và chuyển đổi số nói riêng phù hợp với
đặc thù và mục tiêu hướng tới của đơn vị.
3. Thực trạng chuyển đổi số các tạp
chí hiện nay
Ở nước ta, báo chí là sản phẩm
văn hóa, cũng là sản phẩm chính trị, không thể bằng mọi giá để có nguồn thu.
Các cơ quan báo chí đều thực thi nhiệm vụ kép, dù cơ quan báo chí là đơn vị sự
nghiệp có thu một phần hay tự chủ hoàn toàn thì nhiệm vụ quan trọng hàng đầu
là thực hiện nhiệm vụ chính trị theo tôn chỉ, mục đích của tờ báo, tạp chí in
hay điện tử. Tôn chỉ đó xác định vị trí, chức năng… của cơ quan báo chí
đó.
Tạp chí không phải tổ chức thành
doanh nghiệp sinh ra để kinh doanh lấy lợi nhuận kinh tế làm thước đo tồn tại
và phát triển. Đồng thời cũng phải xác định, Tạp chí không phải là báo, không
chạy theo cập nhật thời sự hàng ngày. Tạp chí phải làm nội dung tốt, với những
bài chuyên sâu, mang tính nghiên cứu chuyên ngành, thực hiện đúng chức năng,
nhiệm vụ được giao, tạo vị thế vững vàng, tạo nền tảng tốt trong dòng chảy
thông tin báo chí cách mạng…
Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi số
tạp chí khoa học hiện nay gặp không ít thách thức. Các nghiên cứu đã thực hiện
cho thấy tại Việt Nam có gần 350 tạp chí khoa học, nhưng mới chỉ có 66 tạp chí
triển khai xuất bản trực tuyến với trang web độc lập, đa phần là các tạp chí
khoa học tự nhiên; còn lại là xuất bản bản in (Nguyễn Thị Minh Huế (2019). Có
khoảng 13% tạp chí khoa học được khảo sát không có website hoạt động, chỉ 39%
website tạp chí có đủ các thông tin cơ bản về hội đồng biên tập và chính sách
hoạt động (Nguyễn Phúc Quân, 2024). Việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố ảnh
hưởng đến quá trình chuyển đổi số của các tạp chí khoa học là điều cần thiết nhằm
góp phần tìm kiếm những giải pháp phù hợp để thúc đẩy nhanh tiến trình này.
Với sự phát triển của công nghệ số
những năm gần đây, mô hình xuất bản của các tạp chí khoa học đang dần biến đổi,
xuất hiện những nền tảng xuất bản tạp chí điện tử. Hầu hết các tạp chí khoa học
hàng đầu trên thế giới đều được xuất bản và phổ biến ở dạng điện tử hay còn gọi
là dạng số. Tại Việt Nam, có trên 380 tạp chí khoa học được Hội đồng chức danh
nhà nước xét tính điểm công trình nghiên cứu, trên tổng số 660 tạp chí và đã có
nhiều tạp chí nâng cao chất lượng, tiệm cận tiêu chuẩn quốc tế (ACI, ISI, Scopus...).
Tuy nhiên, phần lớn các tạp chí được xuất bản bởi các cơ quan chủ quản, các viện
nghiên cứu, chứ không phải được xuất bản bởi các nhà xuất bản như thông lệ của
nước ngoài. Hiện nay, theo khảo sát của Cục thông tin KH&CN quốc gia, trong
tổng số 155 tạp chí, có 102 tạp chí xuất bản tạp chí giấy (chiếm khoảng 66%),
52 tạp chí xuất bản cả bản giấy và bản điện tử (chiếm khoảng 33%) và chỉ có 1 tạp
chí xuất bản điện tử. Cũng theo khảo sát, chỉ có khoảng 27% số tạp chí sử dụng
mã định danh DOI cho các bài báo được xuất bản điện tử.
Năm 2023, lần đầu tiên Cục Báo
chí (Bộ TT&TT) công bố Báo cáo đánh giá mức độ trưởng thành chuyển đổi số
báo chí. Tuy nhiên, các cơ quan báo chí tham gia đánh giá còn khá hạn chế. Năm
2024 (năm thứ hai đánh giá), mới chỉ có 282/873 đơn vị báo chí tham gia đánh
giá. Báo cáo này cho thấy bức tranh tổng quan về chuyển đổi số báo chí của Việt
Nam hiện nay còn khá hạn chế và mờ nhạt (chỉ có 11/59 tiêu chí đạt trên 50%) (Bảng
2).
Bảng 2. Tiêu chí đạt được mề mức
độ trưởng thành chyển đổi số báo chí
|
STT
|
Tiêu chí đạt được
|
Số đơn vị báo chí đạt được
|
Tỷ lệ đạt (%)
|
|
1
|
Cơ quan báo chí có chiến lược/kế
hoạch/chương trình tổng thể/giai đoạn chuyển đổi số báo chí của cơ quan
|
158
|
56,03
|
|
2
|
Kho lưu trữ dữ liệu chung để kết
nối, chia sẻ và khai thác dữ liệu số của cơ quan báo chí (video, hình ảnh, âm
thanh…) và lưu trữ trên 12 tháng
|
152
|
53,90
|
|
3
|
Cơ quan báo chí có kết nối
Internet băng rộng cáp quang
|
171
|
60,64
|
|
4
|
Có ứng dụng các phần mềm để
nâng cao tốc độ biên tập, sản xuất tin, bài, đề dạng tác nghiệp tựa; hoặc có
hoạt động theo mô hình tòa soạn hội tụ, đa phương tiện; hoặc có ứng dụng phần
mềm trực tuyến và các nền tảng công nghệ ảo hóa, điện toán đám mây giúp phóng
viên, biên tập viên dễ dàng xử lý thông tin mọi lúc, mọi nơi
|
156
|
55,32
|
|
5
|
Có thực hiện phân phối nội dung
báo chí trên các nền tảng sẵn có (trang web, mạng xã hội uy tín và các nền tảng
công nghệ số trong nước) hoặc trên các nền tảng tự xây dựng, vận hành (trang
web, ứng dụng trên mobile, tablet, smartTV…)
|
169
|
59,93%
|
|
6
|
Có áp dụng hệ thống quản trị nội
dung trong quá trình sản xuất, phân phối nội dung
|
155
|
54,96%
|
|
7
|
Có các kênh thông tin riêng
trên các mạng xã hội như: Facebook, Twitter, YouTube…
|
159
|
56,38%
|
|
8
|
Ứng dụng các giải pháp/nền tảng
hỗ trợ không gian làm việc ảo/triển khai nền tảng họp trực tuyến xuống các cấp
(phòng, ban, đơn vị trực thuộc, thiết bị cá nhân…)
|
144
|
51,06%
|
|
9
|
100% máy chủ của cơ quan báo
chí được cài đặt phòng, chống mã độc
|
192
|
68,09%
|
|
10
|
100% máy trạm của cơ quan báo
chí được cài đặt phòng, chống mã độc
|
167
|
59,22%
|
|
11
|
Có đội ngũ chuyên trách bảo đảm
an toàn thông tin
|
156
|
51,77%
|
Nguồn: Cục Báo chí (2024), Báo
cáo đánh giá mức độ trưởng thành chuyển đổi số báo chí 2024.
Năm 2024, theo ghi nhận của Cục
Báo chí,
- Tổng số cơ quan báo chí cả nước:
873 đơn vị
- Tổng số cơ quan báo chí hoàn
thành chương trình tập huấn: 351 đơn vị
- Tổng đơn vị thực hiện đánh giá,
đo lường năm 2024: 282 đơn vị (trong đó: khối Báo trung ương: 40; Khối
Báo địa phương: 62; Khối Tạp chí trung ương và địa phuong: 48; Khối Tạp chí
khoa học: 67; Khối Đài Phát thanh, truyền hình: 65)
Năm 2024 ghi nhận 351 cơ quan báo
chí tham gia và hoàn thành chương trình Tập huấn, hướng dẫn cơ quan báo chí thực
hiện đánh giá, đo lường mức độ trưởng thành chuyển đổi số do Trung tâm Hỗ trợ
Chuyển đổi số báo chí tổ chức trực tiếp và trực tuyến ngày 30-31/10/2024.
Kết quả cho thấy, có 28 cơ quan
báo chí đạt mức Xuất sắc (tăng 6,27% so với năm 2023); 65 đơn vị đạt
mức Tốt (tăng 14,99% so với năm 2023); 55 đơn vị đạt mức Khá
(tăng 6.31% so với năm 2023); 25 đơn vị đạt mức Trung bình (giảm 3,22% so
với năm 2023); và 109 đơn vị đạt mức Yếu (giảm 24,35% so với năm
2023).
Cụ thể, ở khối Báo Trung ương, có
10 cơ quan báo chí chuyển đổi số đạt mức Xuất sắc gồm: Báo Lao động (Tổng Liên
đoàn Lao động Việt Nam); Báo VnExpress (Bộ Khoa học và Công nghệ); Báo điện tử
VietnamPlus (Thông tấn xã Việt Nam); Báo Tin tức (Thông tấn xã Việt Nam); Báo Đại
biểu nhân dân (Văn phòng Quốc hội); Báo Thanh niên (Trung ương Đoàn Thanh niên
Cộng sản Hồ Chí Minh); Báo Nhân Dân (Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt
Nam); Báo Vietnamnet (Bộ Thông tin và Truyền thông); Báo Nhà báo và Công luận (Hội
Nhà báo Việt Nam); Báo điện tử VTCNews (Đài Tiếng nói Việt Nam).
Top 7 đơn vị dẫn đầu (mức Tốt) ở
khối Tạp chí Trung ương và địa phương là: Tạp chí Hải quan (Tổng cục Hải quan,
Bộ Tài chính); Tạp chí Ngân hàng (Ngân hàng Nhà nước Việt Nam); Tạp chí Khoa học
và Công nghệ Việt Nam (Bộ Khoa học và Công nghệ); Tạp chí Cửa Việt (Hội Văn học
Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị); Tạp chí Công dân và Khuyến học (Hội Khuyến học Việt
Nam); Tạp chí Bảo hiểm xã hội (Bảo hiểm xã hội Việt Nam); Tạp chí Lao động và
Công đoàn (Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam).
Ví dụ, đối với tạp chí khoa học:
trong đánh giá chuyển đổi số báo chí 2024, Tạp chí Quản lý và Kinh tế quốc tế
(Trường Đại học Ngoại thương) xếp hạng KHÁ – mức thứ 2 trong khối tạp chí khoa
học. Đây là năm đầu tiên tham gia đánh giá, Tạp chí đã xuất sắc nằm trong Top 9
cơ quan báo chí dẫn đầu khối Tạp chí khoa học, khẳng định những nỗ lực bứt phá
trong năm 2024. Trong đó, Tạp chí đã tối ưu hóa quy trình biên tập, nâng cao trải
nghiệm cho tác giả và bạn đọc, đồng thời mở rộng kết nối qua các nền tảng trực
tuyến. Báo cáo đánh giá cho thấy Tạp chí đáp ứng tốt cả 5 trụ cột chuyển đổi số:
Chiến lược, Hạ tầng số, Nền tảng số, Đồng nhất chuyên môn, và Mức độ ứng dụng
công nghệ.
Một số chỉ số trong Báo cáo đánh
giá mức độ trưởng thành chuyển đổi số báo chí có tỷ lệ rất thấp như: có thực hiện
đo tỷ lệ độc giả, khán giả, thính giả trung thành và tỷ lệ độc giả, khán giả,
thính giả trung thành năm đánh giá giảm so với năm trước liền kề chiếm tỷ lệ
1,42%; có thực hiện đo tỷ lệ độc giả, khán giả, thính giả mới và tỷ lệ độc giả,
khán giả, thính giả mới năm đánh giá giảm so với năm trước liền kề chiếm tỷ lệ
1,77%; có đo lường thông qua khảo sát độc giả, khán giả, thính giả chiếm tỷ lệ
3,55%...
4. Một số khó khăn, thách thức đối
với tạp chí khoa học trong chuyển dổi số
1) Chính sách về tài chính khó
áp dụng đối với tạp chí khoa học
Hiện nay, chính sách tài chính đối
với các tạp chí khoa học được đề cập với tính chất là chính sách tài chính đối
với hệ thống báo chí nói chung, cụ thể là ở 2 văn bản: Nghị định số
18/2014/NĐ-CP ngày 14/03/2014 của Chính phủ quy định về chế độ nhuận bút trong
lĩnh vực báo chí, xuất bản; và Thông tư số 18/2021/TT-BTTTT ngày 30/11/2021 của
Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành định mức kinh tế - kỹ thuật hoạt động báo
in, báo điện tử.
Phạm vi điều chỉnh của Nghị định
số 18/2014/NĐ-CP ngày 14/03/2014 của Chính phủ quy định về chế độ nhuận bút
trong lĩnh vực báo chí nêu rõ: “Nghị định này quy định về chế độ nhuận bút cho
tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm báo chí (gồm báo
in, báo nói, báo hình, báo điện tử), xuất bản phẩm theo quy định tại Khoản
4 Điều 4 Luật xuất bản; thù lao cho người tham gia thực hiện các công việc liên
quan đến tác phẩm báo chí, xuất bản phẩm, người sưu tầm tài liệu, cung cấp
thông tin phục vụ cho việc sáng tạo tác phẩm báo chí, xuất bản phẩm”. Nghị định
này áp dụng đối với tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, nhà
báo, phóng viên, biên tập viên, cơ quan báo chí, nhà xuất bản và các cơ quan
nhà nước, tổ chức, cá nhân liên quan đến tác phẩm báo chí, xuất bản phẩm.
Chế độ nhuận bút đã được quy định
rõ đối với bài viết nghiên cứu tại điểm 1 của Điều 7 của Nghị định 18 với hệ số
tối đa là 30. Tuy nhiên, đối với một công trình nghiên cứu để được công bố trên
tạp chí khoa học còn đòi hỏi thù lao, chi phí đối với nhiều bên có liên quan:
kiểm tra sự trùng lặp, công biên tập, công cho chuyên gia phản biện, công hiệu
đính… nhưng Nghị định 18 chưa đề cập đến.
Năm 2021, Bộ Thông tin và Truyền
thông đã ban hành Thông tư số 18/2021/TT-BTTTT ngày 30/11/2021 định mức kinh tế
- kỹ thuật hoạt động báo in, báo điện tử. Thông tư này đã ban hành định mức cụ
thể cho một số nội dung sau: Công tác xây dựng bản thảo và biên tập bản thảo
tác phẩm báo chí; Định mức công tác thiết kế, chế bản báo in; Định mức công tác
thiết kế, chế bản, đăng tải báo điện tử; Định mức công tác in các loại ấn phẩm
báo in. Như vậy, Thông tư số 18/2021/TT-BTTTT cũng chỉ hướng dẫn định mức kinh
tế - kỹ thuật chung cho hệ thống báo chí nói chung, khó, thậm chí không thể áp
dụng đối với tạp chí khoa học.
2) Tiêu chí chuyển đổi số báo
chí dùng chung, tuy nhiên tính đặc thù của tạp chí chưa được xem xét khi xây dựng
và áp dụng tiêu chí
Kết quả đánh giá chuyển đổi số của
Cục Báo chí các năm qua cho thấy, không Tạp chí khoa học nào đạt mức xuất sắc
(trong tổng số 28 cơ quan báo chí năm 2024); trong khi đó, ở mức yếu lại chiếm
số lượng nhiều nhất: 52 đơn vị (trong tổng số 109). Như vậy, cơ quan báo chí
đánh giá đạt mức trưởng thành CĐS ở mức yếu, tập trung nhiều ở khối tạp chí
khoa học (47.71%), khối Tạp chí trung ương và địa phương (22,02%).
Điều này cho thấy, cần có bộ tiêu
chí, hướng dẫn mang tính chất riêng, có tính đến các yếu tố đặc thù, điều kiện
cụ thể để đảm bảo đồng bộ công tác chuyển đổi số các tạp chí khoa học
3) Khó khăn trong tiếp cận đạt
chuẩn quốc tế
Hiện nay, số lượng các tạp chí
khoa học của Việt Nam đạt chuẩn quốc tế còn rất hạn chế, tính đến tháng
04/2025, Việt Nam có 15 tạp chí trong cơ sở dữ liệu của Web of Science (WoS) và
Scopus. Mặc dù phần lớn các tạp chí đã xây dựng được hội đồng biên tập (chiếm
89,5%), nhưng thành viên hội đồng biên tập là các nhà khoa học trong nước vẫn
chiếm đa số (gần 2/3). Các tạp chí khoa học hiện nay không kiểm tra sự trùng lặp
của bài báo (62,8%). Phần lớn các tạp chí khoa học hiện nay không kiểm tra sự
trùng lặp của bài báo (62,8%); có 25,7% số các tạp chí khoa học chưa xây dựng
website...
Việc phát triển các tạp chí khoa
học trong nước hướng tới đạt chuẩn quốc tế là hết sức cần thiết, thể hiện năng
lực, trình độ và mức độ hội nhập của khoa học và công nghệ Việt Nam. Tuy nhiên,
điều này đang gặp một số khó khăn, thách thức như: hầu hết các tạp chí khoa học
của Việt Nam vẫn hoạt động theo một mô hình chung là thực hiện nhiệm vụ xuất bản
các bài báo khoa học thuộc lĩnh vực nghiên cứu, đào tạo của cơ quan chủ quản,
tác giả của các bài báo phần lớn cũng là các nhà khoa học thuộc cơ quan chủ quản
đó; chưa có sự đổi mới mạnh mẽ của bản thân các tạp chí khoa học để phát triển
theo chuẩn mực/thông lệ chung của quốc tế; các tổ chức tài trợ cho nghiên cứu
hiện nay thường yêu cầu đầu vào và đầu ra là các bài báo được đăng tải trên các
tạp chí thuộc hệ thống ISI hoặc Scopus mà chưa có sự khuyến khích đối với các tạp
chí trong nước (dù là có chất lượng); bất cập trong việc đánh giá và quản lý chất
lượng các tạp chí khoa học Việt Nam hiện nay.
5. Khuyến nghị một số giải pháp
chuyển đổi số tạp chí khoa học
1) Xây dựng chiến lược, kế hoạch
chuyển đổi số trên cơ sở sự định hướng của các cơ quan quản lý nhà nước, sự
lãnh đạo, chỉ đạo Viện Hàn lâm và cơ quan chủ quản
Xây dựng chiến lược, kế hoạch
chuyển đổi số là yêu cầu bắt buộc đối với các cơ quan báo chí trong quá trình
thực hiện chuyển đổi số. Đây là bước đi đầu tiên, quan trọng nhất, tạo cơ sở nền
tảng định hướng cho toàn bộ quá trình chuyển đổi số các tạp chí.
Trong quá trình xây dựng, hoàn
thiện kế hoạch chuyển đổi số, Ban Lãnh đạo các tạp chí cần tham khảo sự hỗ trợ
của các cơ quan quản lý nhà nước như Cục Báo chí, Trung tâm Hỗ trợ chuyển đổi số
báo chí, tham vấn chuyên gia trong lĩnh vực báo chí, truyền thông, công nghệ
thông tin và học hỏi kinh nghiệm từ các tạp chí đã thực hiện hiệu quả chuyển đổi
số.
Liên Chi hội Nhà báo Viện Hàn lâm
và các tạp chí tăng cường tổ chức các buổi hội thảo, tọa đàm, mời các chuyên
gia, các nhà khoa học uy tín, giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực báo chí số đến
trao đổi, tư vấn, qua đó lãnh đạo và cán bộ các tạp chí có cơ hội cập nhật, học
hỏi kinh nghiệm nhằm vận dụng vào thực tiễn đơn vị.
2) Các tạp chí đẩy mạnh đưa nội
dung lên các nền tảng số sẵn có (trang web, mạng xã hội uy tín); tiến tới xây dựng
tạp chí điện tử
Các tạp chí cần tiến hành số hóa
các bài báo đã đăng trên tạp chí in dưới dạng bản PDF để đưa lên các nền tảng sẵn
có. Trước hết là tiếp tục triển khai giới thiệu bìa, mục lục, tóm tắt nội dung
bài viết các số trên Cổng thông tin điện tử của Viện Hàn lâm, các Viện trực thuộc.
Đăng tải toàn văn các bài tạp chí trên trang thư viện điện tử của của Viện Hàn
lâm, các Viện trực thuộc trực thuộc. Bên cạnh đó, các tạp chí đẩy mạnh đưa nội
dung lên các nền tảng công nghệ số trong nước, thí dụ VJOL.
Bên cạnh hình thức phát hành bản
in truyền thống, các tạp chí có thể số hóa các ấn phẩm dưới dạng PDF (cho máy
tính và mobile) và thực hiện phương thức phát hành điện tử thông qua nền tảng
phát hành số của Công ty Phát hành báo chí Trung ương (PostENP). Đây là hình thức
phát hành có thu phí, song dưới dạng bản số hóa thay vì bản in thông thường.
Ngoài các nền tảng số trong nước,
các tạp chí cần nghiên cứu quy định, thể lệ để đăng ký cấp phép mã số DOI. Bên
cạnh đó, cần chú trọng tham gia vào các cơ sở dữ liệu uy tín của quốc gia, khu
vực (ACI), cũng như quốc tế (ISI, Scopus), tăng cường chỉ số trích dẫn, từ đó
tăng uy tín của tạp chí.
3) Các tạp chí hướng tới xây dựng
tạp chí điện tử
Đề án sắp xếp, phát triển hệ thống
tạp chí gắn với Đề án xây dựng Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam là cơ quan nghiên cứu
ngang tầm khu vực và quốc tế, xác định cần chú trọng đầu tư phát triển loại
hình tạp chí điện tử. Đây cũng là một trong bước tiến quan trọng trong quá
trình chuyển đổi số các tạp chí của Viện Hàn lâm trong bối cảnh hiện nay.
Bên cạnh việc phân phối nội dung
lên các nền tảng sẵn có, trong thời gian sắp tới, các tạp chí cần nghiên cứu
xây dựng tạp chí điện tử khi đủ điều kiện, qua đó thực hiện cơ chế hoạt động
báo chí đa nền tảng (tạp chí in, tạp chí điện tử, mạng xã hội). Các tạp chí cần
có sự chuẩn bị kỹ lưỡng về nhân lực, vật lực cần thiết; đào tạo, cập nhật kiến
thức, kỹ năng cho đội ngũ cán bộ, biên tập viên, chuẩn bị giải pháp thiết bị và
công nghệ, sẵn sàng thực hiện xuất bản điện tử. Kết cấu giao diện, kỹ thuật
công nghệ và vấn đề bảo mật và an toàn thông tin là những đặc trưng khác biệt của
tạp chí điện tử so với tạp chí in truyền thống mà các cơ quan báo chí cần chú
trọng.
4) Ưng dụng hệ thống quản trị
nội dung hiện đại, tối ưu hóa, nâng cao hiệu quả hoạt động, quản trị tòa soạn,
hướng tới xây dựng tòa soạn số
Các tạp chí trong Viện Hàn lâm cần
đẩy mạnh ứng dụng phần mềm quản lý tòa soạn, xuất bản trực tuyến hiện đại, hệ
thống quản trị nội dung tối ưu hóa cho lĩnh vực báo chí. Về cơ bản, quy trình
hoạt động của các tạp chí thực hiện biên tập - xuất bản trực tuyến trên phần mềm
CMS sẽ có những điểm tương đồng với quy trình xuất bản truyền thống hiện nay
đang được các tạp chí in sử dụng.
Toàn bộ bản thảo, ý kiến thẩm định,
phản biện, lịch sử biên tập, chỉnh sửa sẽ được lưu trữ trong cơ sở dữ liệu của
phần mềm.
Các tạp chí cần tích cực nghiên cứu
ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong một số nghiệp vụ để nâng cao hiệu quả hoạt
động. Thí dụ, phần mềm quét trùng lặp, kiểm tra đạo văn (Turnitin, doIT,
iThenticate...); phần mềm hỗ trợ phát hiện vi phạm bản quyền báo chí Media Hub;
phần mềm xác định và sửa lỗi chính tả tự động; phần mềm biên tập - xuất bản
tích hợp AI để đề xuất từ khóa thích hợp, bài viết cùng chủ đề, phân tích dữ liệu
độc giả và trải nghiệm độc giả, cá nhân hóa nội dung cho từng độc giả thông qua
phân tích hành vi...
Các tạp chí cần đẩy mạnh thực hiện
chuyển/nhận văn bản điện tử thông qua hệ thống V-office, nghiên cứu ứng dụng chữ
ký điện tử để ký báo cáo/ ký giấy giới thiệu từ xa, thực hiện gửi văn bản điện
tử. Việc sử dụng chữ ký điện tử cần tuân thủ nghiêm các quy định của pháp luật.
5) Giải pháp tài chính cho
chuyển đổi số tạp chí
Để thực hiện hiệu quả chuyển đổi
số, các tạp chí cần có sự đầu tư về kinh phí và nguồn lực tài chính dài hạn.
Trước hết, cần tranh thủ sự quan tâm, hỗ trợ của Viện Hàn lâm, trên cơ sở kế hoạch
chuyển đổi số của đơn vị và nhu cầu thực tiễn, các tạp chí đề xuất phân bổ ngân
sách qua đó bảo đảm cơ sở vật chất, nâng cấp hạ tầng, ứng dụng công nghệ, đào tạo
nhân lực phục vụ chuyển đổi số.
Các tạp chí đẩy mạnh hoạt động
kinh tế báo chí trong bối cảnh chuyển đổi số như: mở rộng phát hành qua nền tảng
phát hành số PostEnp của Công ty Phát hành báo chí Trung ương; nghiên cứu thử
nghiệm thu phí với một số nội dung hoặc tính năng đặc biệt... Bên cạnh đó, cần
tham gia các chương trình hỗ trợ, tài trợ của Cục Báo chí, như: cung cấp phần mềm
công nghệ số và tập huấn sử dụng miễn phí; chương trình kết nối, hợp tác với
các tổ chức, doanh nghiệp hỗ trợ, tài trợ cơ quan báo chí về công nghệ, viễn
thông, an toàn thông tin; các chương trình tập huấn nâng cao nhận thức về chuyển
đổi số...
Tài liệu tham khảo
1.
Bộ Thông tin và Truyền thông: Cẩm nang chuyển đổi số, Nxb Thông tin
và truyền thông, Hà Nội, 2020.
2.
Bùi Chí Trung, Phạm Văn Kiền và Nguyễn Bá đồng chủ biên (2022), Chuyển đổi số
báo chí Việt Nam - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, NXB Chính trị quốc gia Sự
thật.
3.
Cục Báo chí (2024), Báo cáo đánh giá mức độ trưởng thành chuyển đổi số báo chí
năm 2023.
4.
Cục Báo chí (2024), Báo cáo đánh giá mức độ trưởng thành chuyển đổi số báo chí
năm 2024.
5. Cục
Thông tin khoa học và công nghệ quốc gia: Kỷ yếu Hội thảo Chuyển đổi số tạp
chí khoa học Việt Nam, 2021.
6.
Nguyễn Phúc Quân: Chuyển đổi số tạp chí khoa học tại Việt Nam thực trạng
và đề xuất, 2024, http://diendanbaochi.vn
7.
Nguyễn Thùy Linh (2024), Đẩy mạnh chuyển đổi số trong hoạt động của các tạp chí
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Tạp chí Lý luận Chính trị, số tháng
11/2024.
8. World
Association of News Publishers (2022), World Press Trends Report
2021-2022, https://wan-ifra.org/world-press-trends,
truy cập ngày 20/11/2024.