Giới thiệu một số bài viết thuộc chuyên mục: Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam số 4 năm 2026
Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam số 4/2026 trân trọng gửi tới bạn đọc chuyên mục: Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, Xã hội học và Chính trị học. Nội dung các bài viết góp phần khẳng định giá trị của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đồng thời phân tích vai trò của công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trước những thông tin sai lệch, quan điểm xuyên tạc trên không gian mạng và trong đời sống xã hội. Các bài viết Xã hội học đặc biệt phản ánh những biến đổi về văn hóa, giáo dục, gia đình, và các vấn đề xã hội dưới tác động của chuyển đổi số và toàn cầu hóa. Các nghiên cứu Chính trị học tập trung vào đổi mới phương thức lãnh đạo, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và phát huy vai trò của nhân dân trong đời sống chính trị - xã hội.

Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam số 4/2026
Có thể điểm qua một số bài viết tiêu biểu như:
Bài viết của TS. Đinh Khương Duy “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào tham gia và thực thi các cam kết thương mại quốc tế trong bối cảnh biến động địa chính trị” trung phân tích những nội dung cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh về hợp tác quốc tế, đặc biệt là các nguyên tắc bình đẳng giữa các quốc gia, tôn trọng độc lập - chủ quyền dân tộc, hài hòa lợi ích và đề cao pháp luật quốc tế. Đây được xem là những nguyên tắc nền tảng giúp Việt Nam xây dựng quan hệ hợp tác kinh tế quốc tế một cách chủ động, linh hoạt nhưng vẫn giữ vững lợi ích quốc gia và bản sắc phát triển độc lập tự chủ. Bài viết cũng đặt vấn đề trong bối cảnh thế giới hiện nay khi cạnh tranh chiến lược giữa các cường quốc, xung đột địa chính trị và xu hướng bảo hộ thương mại đang tác động mạnh đến trật tự thương mại toàn cầu. Trước những thách thức đó, tác giả khẳng định rằng việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh sẽ góp phần định hướng cho Việt Nam trong quá trình tiếp cận, tuân thủ và thực thi các cam kết thương mại quốc tế, đồng thời nâng cao năng lực thích ứng trước những thay đổi nhanh chóng của môi trường quốc tế. Trên cơ sở phân tích lý luận và thực tiễn, bài viết đề xuất một số kiến nghị pháp lý và chính sách nhằm hoàn thiện cơ chế thực thi pháp luật thương mại quốc tế, tăng cường năng lực bảo vệ lợi ích quốc gia và nâng cao vị thế của Việt Nam trong hệ thống thương mại toàn cầu.
Bài viết của TS. Nguyễn Thị Thanh Nhàn “Chế định chính quyền địa phương qua 40 năm Đổi mới (1986-2026): Quá trình hoàn thiện và những vấn đề đặt ra” tập trung phân tích quá trình hình thành, phát triển và hoàn thiện chế định chính quyền địa phương trên cả phương diện hiến định và luật định từ năm 1986 đến năm 2026. Bài viết bắt đầu từ nền tảng của Hiến pháp năm 1980 và Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 1989, đồng thời phân tích những điều chỉnh quan trọng qua các bản Hiến pháp năm 1992, sửa đổi năm 2001, Hiến pháp năm 2013 cùng các luật tổ chức chính quyền địa phương tương ứng. Qua đó, tác giả cho thấy sự chuyển biến trong tư duy quản lý nhà nước từ mô hình hành chính tập trung sang mô hình phân cấp, phân quyền mạnh hơn cho địa phương gắn với cơ chế kiểm soát quyền lực. Một nội dung đáng chú ý của bài viết là việc phân tích ý nghĩa của mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp theo sửa đổi Hiến pháp năm 2025. Theo tác giả, đây là bước tái cấu trúc quan trọng trong tư duy quản trị lãnh thổ, phản ánh yêu cầu đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh gọn, hiệu lực và hiệu quả hơn. Không chỉ dừng lại ở việc tổng kết quá trình phát triển, bài viết còn chỉ ra những vấn đề mang tính cấu trúc còn tồn tại trong tổ chức và vận hành chính quyền địa phương hiện nay như sự chồng chéo về thẩm quyền, cơ chế phối hợp giữa các cấp chính quyền hay yêu cầu nâng cao trách nhiệm giải trình. Từ đó, tác giả đề xuất các định hướng tiếp tục hoàn thiện chế định chính quyền địa phương trong giai đoạn mới nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước và hội nhập quốc tế.
Bài viết của TS. Nguyễn Song Tùng và TS. Đoàn Thị Thu Hương “Biến đổi khí hậu và tác động đến hệ sinh thái nông nghiệp vùng Trung du và miền núi phía Bắc Việt Nam” tập trung phân tích những tác động đa chiều của biến đổi khí hậu đối với hệ sinh thái nông nghiệp trong khu vực. Dựa trên khung phân tích DPSIR (Động lực - Sức ép - Hiện trạng - Tác động - Đáp ứng), kết hợp với các hướng tiếp cận nông nghiệp thông minh thích ứng với khí hậu (CSA) và thích ứng dựa vào hệ sinh thái (EbA), bài viết làm rõ mối liên hệ giữa các yếu tố tự nhiên, kinh tế và xã hội trong quá trình biến đổi môi trường nông nghiệp. Các hiện tượng thời tiết cực đoan như mưa lớn, lũ quét, hạn hán, rét đậm, rét hại không chỉ làm giảm năng suất cây trồng mà còn làm gia tăng sâu bệnh, ảnh hưởng đến vật nuôi và gây áp lực lên hệ thống thủy lợi cũng như cơ sở hạ tầng nông thôn. Không dừng lại ở việc nhận diện thực trạng, bài viết còn đề xuất nhiều giải pháp thích ứng nhằm nâng cao khả năng chống chịu của hệ sinh thái nông nghiệp trước biến đổi khí hậu. Trong đó, việc thúc đẩy các mô hình EbA và CSA, lồng ghép nội dung thích ứng vào quy hoạch phát triển địa phương, đồng thời triển khai cơ chế “cảnh báo sớm - hành động sớm” được xem là những định hướng quan trọng để hướng tới phát triển nông nghiệp bền vững. Với cách tiếp cận liên ngành và gắn với thực tiễn, bài viết mang lại nhiều gợi mở có giá trị cho công tác nghiên cứu, quản lý và hoạch định chính sách trong bối cảnh biến đổi khí hậu hiện nay.
Bài viết của TS. Phùng Thanh Thảo “Tác động của các yếu tố xã hội đến hiệu lực và hiệu quả pháp luật đến chuyển đổi số ở Việt Nam hiện nay” tập trung phân tích vai trò của các yếu tố xã hội trong việc bảo đảm tính khả thi và hiệu quả thực thi pháp luật trong môi trường số. Bài viết tiếp cận vấn đề thông qua việc phân tích các yếu tố như niềm tin công chúng, chuẩn mực xã hội, văn hóa pháp lý, năng lực số và khả năng tiếp cận thông tin. Trên cơ sở kết hợp phương pháp phân tích - tổng hợp lý thuyết với các minh chứng thực tiễn, tác giả cho thấy chuyển đổi số vừa mở ra nhiều cơ hội trong nâng cao tính minh bạch, khả năng tiếp cận pháp luật và tương tác giữa người dân với cơ quan quản lý, vừa đặt ra không ít thách thức liên quan đến khoảng cách số, xung đột chuẩn mực xã hội và vấn đề an toàn dữ liệu cá nhân. Đáng chú ý, bài viết làm rõ vai trò của các chính sách và định hướng lớn của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là Nghị quyết 57-NQ/TW và Nghị quyết 03/NQ-CP, trong việc hình thành hành lang pháp lý phục vụ chuyển đổi số ở Việt Nam. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất nhiều giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực và hiệu quả pháp luật, như hoàn thiện khung pháp lý cho môi trường số, đẩy mạnh giáo dục pháp luật số, nâng cao năng lực số cho người dân và củng cố niềm tin công chúng đối với hệ thống pháp luật. Với cách tiếp cận liên ngành và gắn với thực tiễn, bài viết mang lại nhiều gợi mở quan trọng cho quá trình xây dựng nền quản trị số hiện đại, minh bạch và phát triển bền vững ở Việt Nam hiện nay.
Với cách tiếp cận khoa học, khách quan và gắn với thực tiễn, các bài nghiên cứu không chỉ có giá trị học thuật mà còn góp phần cung cấp luận cứ cho công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị tư tưởng và hoạch định chính sách trong giai đoạn hiện nay. Với nội dung phong phú, cách tiếp cận đa ngành và tinh thần nghiên cứu nghiêm túc, Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam số 4/2026 tiếp tục khẳng định vị thế là diễn đàn học thuật uy tín, nơi công bố và trao đổi các kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học xã hội ở Việt Nam.