Khảo sát khả năng thích ứng với chuyển đổi số của người cao tuổi tại Hà Nội: Khoảng cách giữa biết và làm
Nhằm tìm hiểu thực trạng thích ứng với chuyển đổi số của người cao tuổi và nhận diện những rào cản mà nhóm dân số này đang gặp phải, Viện Địa lý nhân văn và Phát triển bền vững đã tổ chức khảo sát thực địa tại hai địa bàn của Hà Nội. Kết quả bước đầu cho thấy điểm nghẽn không nằm ở thiết bị hay kỹ năng như vẫn thường được giả định, mà nằm ở khâu chuyển từ biết làm sang thực làm.
Từ tháng 5 đến
tháng 8 năm 2026, nhóm thực hiện nhiệm vụ khoa học cấp cơ sở “Khả năng thích ứng
của người cao tuổi đối với chuyển đổi số tại Hà Nội”, mã số
ĐLNV&PTBV/NV/2026-10, đã tiến hành khảo sát 100 người cao tuổi tại hai địa
bàn được lựa chọn có chủ đích. Phường Tây Tựu đại diện cho khu vực có mức độ đô
thị hóa cao, xã Yên Xuân đại diện cho khu vực ngoại vi. Bên cạnh phiếu hỏi định
lượng, nhóm nghiên cứu thực hiện 10 cuộc phỏng vấn sâu tại nhà người dân nhằm
tìm hiểu những khía cạnh mà bảng hỏi khó nắm bắt được.
Việc lựa chọn
thiết kế so sánh hai địa bàn xuất phát từ hướng tiếp cận Địa tâm lý học, theo
đó môi trường sống định hình cách con người cảm nhận và tương tác với công nghệ.
Người cao tuổi ở nội thành sống trong môi trường mà thanh toán không tiền mặt
và dịch vụ số hiện diện dày đặc, tạo áp lực phải thích nghi. Người cao tuổi ở
ngoại vi sống trong môi trường ít áp lực hơn nhưng cũng ít cơ hội tiếp xúc hơn.
Giả thuyết ban đầu cho rằng nhóm thứ nhất sẽ thích ứng tốt hơn.
Trong 100 người được khảo sát, có 92
người sở hữu điện thoại thông minh. Nếu chỉ nhìn con số này, bức tranh khá lạc
quan, và về mặt báo cáo thành tích thì đây là kết quả đáng ghi nhận.
Nhưng khi đo
năng lực thích ứng thực chất trên thang điểm 5, kết quả chỉ đạt 1,79 điểm.
Trong 99 trường hợp có đủ dữ liệu, 93 người nằm dưới mức giữa thang đo. Không
ai đạt mức cao từ 4 điểm trở lên, và điểm cao nhất trong toàn mẫu chỉ là 3,57.
Đáng chú ý, ngay trong nhóm 92 người đã có thiết bị, điểm trung bình cũng chỉ đạt
1,84.
Có thiết bị
trong tay không tự động chuyển thành năng lực sử dụng. Khoảng cách giữa hai con
số 92% và 1,79 điểm chính là vấn đề trung tâm mà nhiệm vụ nhận diện được.
Đi sâu hơn vào
cấu trúc năng lực, nhóm nghiên cứu nhận thấy một đường gãy rõ rệt. Các chỉ báo
về kỹ năng vận hành đạt trung bình 2,51 điểm, trong đó khả năng nhận diện tin
giả đạt 2,97 và khả năng tìm kiếm thông tin đạt 2,14. Nhưng các chỉ báo về mức
độ sử dụng dịch vụ số thực tế chỉ đạt 1,25 điểm. Sử dụng dịch vụ công trực tuyến
đạt 1,17, thanh toán số đạt 1,32, đặt lịch khám bệnh trực tuyến chỉ đạt 1,13.
Riêng chỉ báo cuối cùng chỉ nhận đúng hai mức thấp nhất trên toàn bộ mẫu, nghĩa
là không một người cao tuổi nào tự đặt được lịch khám ở mức thành thạo trung
bình trở lên.
Phát hiện này
có ý nghĩa thực tiễn cụ thể. Nếu tiếp tục thiết kế chương trình can thiệp theo
giả định rằng người cao tuổi thiếu kỹ năng, nguồn lực sẽ được đầu tư vào đúng
khâu mà họ đã tương đối ổn, trong khi khâu thực sự tắc nghẽn là bước chuyển từ
biết sang làm.
Nhóm nghiên cứu thực hiện phỏng vấn sâu tại nhà người dân trên địa bàn khảo sát
Trong toàn bộ các chỉ báo của phiếu
hỏi, chỉ báo về nỗi lo trở thành nạn nhân lừa đảo trực tuyến đạt 4,23 điểm, cao
vượt trội so với mọi chỉ báo còn lại. Nỗi lo này không phân hóa theo địa bàn, học
vấn hay thu nhập mà hiện diện đồng đều ở mọi nhóm.
Phỏng vấn sâu bổ
sung một chi tiết quan trọng mà phiếu hỏi không nắm bắt được, đó là cách người
cao tuổi phản ứng. Phần lớn chọn né tránh hoàn toàn: không nghe máy số lạ, đưa
máy cho con cháu kiểm tra, không cài ứng dụng mới. Rất ít trường hợp tự kiểm
tra và xác minh. Sự phân biệt này có ý nghĩa với công tác truyền thông, bởi né
tránh tuy giảm rủi ro trước mắt nhưng đồng thời chặn luôn con đường hình thành
năng lực.
Một kết quả
khác gây chú ý là sự đối lập giữa hai kênh hỗ trợ. Hỗ trợ từ con cháu trong hộ
đạt 3,83 điểm, trong khi hỗ trợ từ bạn bè hàng xóm, cán bộ địa phương và các tổ
chức đoàn thể chỉ đạt trung bình 1,37 điểm. Trong 99 người trả lời, có 62 người
cho điểm ở mức thấp nhất trên cả ba chỉ báo về hỗ trợ ngoài gia đình, nghĩa là
chưa từng nhận được bất kỳ hỗ trợ nào từ kênh thể chế.
Đối chiếu với
tám văn bản của chính quyền hai địa bàn, nhóm nghiên cứu nhận thấy một khoảng
cách đáng lưu ý. Báo cáo của chính quyền ghi nhận mức độ triển khai đáng kể,
bao gồm thành lập tổ công nghệ số cộng đồng và tổ chức các đợt tuyên truyền, hướng
dẫn. Trong khi đó khảo sát người dân lại cho thấy mức độ tiếp cận gần như bằng
không.
Hai con số này
không mâu thuẫn mà đo hai thứ khác nhau. Số liệu của chính quyền đo hoạt động
đã được tổ chức, số liệu khảo sát đo hoạt động đã đến được với đối tượng. Chỉ
khi đặt cạnh nhau, khoảng cách mới lộ ra. Điểm nghẽn ở đây không nằm ở khâu tổ
chức mà ở khâu truyền thông và ở hình thức tổ chức chưa phù hợp với đặc điểm đi
lại, ghi nhớ của người cao tuổi.
Phỏng vấn sâu
cho thấy ba dạng biểu hiện. Một người cho biết có thấy giấy mời dán ở cổng nhà
văn hóa nhưng không đi được vì đi lại khó khăn. Một người khác phải chăm sóc vợ
ốm nên không thể dự lớp vào giờ hành chính. Trường hợp thứ ba đã dự lớp của xã
nhưng vẫn e ngại thao tác thanh toán vì nội dung này chưa được hướng dẫn đủ. Ba
tình huống đòi hỏi ba cách xử lý khác nhau, và không tình huống nào được giải
quyết bằng cách tổ chức thêm lớp học.
Về so sánh giữa hai địa bàn, kết
quả buộc nhóm nghiên cứu phải điều chỉnh nhận định ban đầu.
Phép so sánh
trung bình đơn thuần không phát hiện khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa Tây Tựu
và Yên Xuân. Nếu dừng lại ở đây, kết luận sẽ là yếu tố không gian cư trú không
có vai trò gì.
Tuy nhiên, khi
đưa yếu tố thu nhập vào mô hình để kiểm soát, chênh lệch hiện ra rõ rệt và theo
chiều ngược với giả thuyết ban đầu. Người cao tuổi tại Yên Xuân, địa bàn ngoại
vi, có năng lực thích ứng cao hơn người cao tuổi tại Tây Tựu. Kết quả nhất quán
trên ba mô hình được xây dựng độc lập với nhau.
Nguyên nhân nằm
ở chỗ Tây Tựu có lợi thế rõ rệt về thu nhập, và lợi thế này kéo điểm số lên,
che lấp một bất lợi theo chiều ngược lại. Hai tác động ngược chiều triệt tiêu lẫn
nhau khiến phép so sánh thông thường không nhìn thấy gì. Bằng chứng từ báo cáo
của chính quyền cơ sở gợi ý rằng mức độ triển khai chính sách tại Yên Xuân dày
hơn, song nhóm nghiên cứu chưa loại trừ được hoàn toàn các cách giải thích
khác.
Đây là bài học
phương pháp đáng lưu ý. Một kết quả không đạt ý nghĩa thống kê chỉ nói rằng dữ
liệu chưa đủ để khẳng định khác biệt, chứ không nói rằng khác biệt không tồn tại.
Nếu nhiệm vụ dừng lại ở bảng so sánh trung bình, toàn bộ định hướng chính sách
sẽ đi theo một hướng khác hẳn, và có thể là hướng sai.
Một phát hiện chỉ hiện ra qua phỏng vấn sâu
là hỗ trợ từ con cháu vận hành theo hai kiểu khác nhau, dẫn tới hai kết quả
trái ngược.
Kiểu thứ nhất
là hướng dẫn để người cao tuổi tự thao tác, người hỗ trợ chỉ can thiệp khi có
sai sót. Một người 76 tuổi tại Tây Tựu cho biết con trai hướng dẫn theo nguyên
tắc để bố tự làm rồi con chỉnh lại, và nhờ vậy mà ngày càng thành thạo hơn.
Kiểu thứ hai là
làm hộ toàn bộ. Một người 71 tuổi cũng tại Tây Tựu cho biết con dâu thường cầm
máy làm hộ luôn vì thấy mẹ chồng chậm chạp, nên rốt cuộc năng lực không cải thiện.
Điểm mấu chốt
là trên phiếu hỏi, cả hai đều báo cáo mức độ hỗ trợ cao gần như nhau, nhưng kết
quả năng lực hoàn toàn khác biệt. Hàm ý chính sách khá trực tiếp: việc tăng cường
kênh gia đình, nếu không đi kèm nguyên tắc hướng dẫn thay vì làm hộ, có thể làm
tăng mức độ phụ thuộc thay vì tăng năng lực tự chủ.
Nhóm nghiên cứu
cũng ghi nhận một nhóm mà dữ liệu định lượng không nhận diện được, đó là những
người cao tuổi không có con cháu sống cùng. Với họ, vai trò của tổ trưởng thôn
và hàng xóm thay thế một phần vai trò của gia đình. Đây chính là nhóm mà kênh
gia đình, vốn mạnh nhất theo kết quả khảo sát, không thể vươn tới.
Trên cơ sở các phát hiện, nhiệm vụ đề xuất
sáu nhóm giải pháp sắp xếp theo thứ tự ưu tiên tương ứng với độ lớn của bằng chứng.
Ưu tiên hàng đầu
là giảm rào cản tâm lý và bảo đảm an toàn thông tin, với trọng tâm là thiết lập
đầu mối xác minh nhanh tại cơ sở để người cao tuổi có thể gọi hỏi khi nhận tin
nhắn đáng ngờ. Đầu mối này cần bảo đảm không hỏi thông tin cá nhân của người gọi,
bởi nếu không sẽ tái tạo đúng tình huống mà họ đang lo ngại.
Tiếp theo là
khơi dậy động lực thông qua dịch vụ thiết yếu, cụ thể là rà soát và rút gọn quy
trình đặt lịch khám bệnh trực tuyến trước khi tổ chức hướng dẫn. Nhóm thứ ba tập
trung chuyển hóa kỹ năng thành hành vi bằng mô hình đồng hành theo chu kỳ,
trong đó mỗi thao tác được học đều có cơ hội lặp lại và kiểm tra trước khi chuyển
sang thao tác mới.
Ba nhóm còn lại
gồm phát huy đồng thời hai kênh hỗ trợ, cải thiện điều kiện tiếp cận vật chất với
ưu tiên yếu tố thị lực, và phân hóa can thiệp theo địa bàn thông qua triển khai
thí điểm có đánh giá.
Nhóm nghiên cứu
cũng nêu rõ các hạn chế của nhiệm vụ. Phạm vi khảo sát giới hạn ở hai địa bàn
nên kết quả không khái quát hóa cho toàn bộ người cao tuổi tại Hà Nội. Mẫu được
chọn theo phương pháp thuận tiện nên các hệ số chỉ diễn giải như xu hướng liên
hệ. Dữ liệu cắt ngang tại một thời điểm không cho phép kết luận về tiến trình
thay đổi năng lực theo thời gian.
Kết quả từ nhiệm
vụ này sẽ là chất liệu để nhóm nghiên cứu tiếp tục hoàn thiện báo cáo tổng kết,
đồng thời mở ra hướng thảo luận về cách đo lường hiệu quả các chương trình phổ
cập kỹ năng số. Như thực tiễn khảo sát cho thấy, các chỉ báo đếm được như số
thiết bị, số lượt tập huấn hay số điểm hỗ trợ không thể thay thế cho chỉ báo đo
năng lực đã thực sự chuyển thành hành vi sử dụng.