Nghiệm thu nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp cơ sở “Thực trạng và các yếu tố tác động đến mức độ hài lòng với công việc của công nhân làm việc tại khu công nghiệp hiện nay”
Sáng ngày 04/11/2026, tại trụ sở 176 Thái Hà, Đống Đa, Hà Nội, Viện Xã hội học và Tâm lý học đã tổ chức Hội đồng nghiệm thu nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp cơ sở “Thực trạng và các yếu tố tác động đến mức độ hài lòng với công việc của công nhân làm việc tại khu công nghiệp hiện nay (Nghiên cứu trường hợp khu công nghiệp Vân Trung, tỉnh Bắc Ninh)” do ThS. Nguyễn Quang Tuấn làm chủ nhiệm.
Ảnh: Chủ nhiệm nhiệm vụ ThS. Nguyễn Quang Tuấn trình bày kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp cơ sở năm 2026
Tại
buổi nghiệm thu, Hội đồng đã nghe chủ nhiệm nhiệm vụ trình bày khái quát về quá
trình triển khai, nội dung nghiên cứu và những kết quả nghiên cứu về sự hài
lòng với công việc của công nhân làm việc tại khu công nghiệp Vân Trung, tỉnh
Bắc Ninh.
Nghiên
cứu đã khảo sát bảng hỏi đối với 150 công nhân và phỏng vấn sâu 16 công nhân
đang làm việc tại khu công nghiệp Vân Trung, tỉnh Bắc Ninh và vận dụng Thuyết
hai nhân tố của Herzberg và lý thuyết kỳ vọng - giá trị của Vroom, chủ nhiệm
nhiệm vụ đã làm rõ 03 câu hỏi nghiên cứu đặt ra gồm: (1) “Mức độ hài lòng với
công việc của công nhân đang làm việc tại KCN Vân Trung, tỉnh Bắc Ninh hiện nay
như thế nào? (2) Sự khác biệt giữa một số đặc điểm nhân khẩu học - xã hội và
mức độ hài lòng với công việc của công nhân làm việc tại khu công nghiệp Vân
Trung, tỉnh Bắc Ninh ra sao? (3) Yếu tố nào tác động mạnh đến mức độ hài lòng
với công việc của công nhân đang làm việc tại khu công nghiệp Vân Trung, tỉnh
Bắc Ninh hiện nay?
Đối với
câu hỏi thứ nhất, kết quả cho thấy mức độ hài lòng với công việc nhìn chung
tương đối tích cực (ĐTB = 3,67/5), trong đó, phần lớn người lao động thể hiện
sự hài lòng (61,3%). Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận công nhân chưa hài lòng
(12,7%) hoặc có đánh giá trung lập về công việc (26,0%).
Đối với
câu hỏi thứ hai, nghiên cứu cho thấy có sự khác biệt về mức độ hài lòng với
công việc giữa một số nhóm công nhân theo các đặc điểm nhân khẩu học - xã hội.
Cụ thể, giới tính, dân tộc, trình độ học vấn và mức tiền lương có mối liên hệ
có ý nghĩa thống kê với mức độ hài lòng. Trong đó, tỷ lệ hài lòng cao hơn được
ghi nhận ở nhóm nam giới, người dân tộc Kinh, người có trình độ trung cấp, cao
đẳng và người có mức lương từ 10 triệu đồng/tháng trở lên. Ngược lại, không có
sự khác biệt về mức độ hài lòng giữa các nhóm công nhân phân chia theo độ tuổi,
thâm niên làm việc và tình trạng di cư.
Đối với
câu hỏi cuối cùng, kết quả phân tích hồi quy logistic nhị phân cho thấy trong
số các yếu tố thuộc nhóm yếu tố duy trì thì thu nhập và phúc lợi có liên hệ
đáng kể với mức độ hài lòng với công việc của công nhân. Nói cách khác, thu
nhập và phúc lợi là những yếu tố đáng chú ý trong việc lý giải sự hài lòng với
công việc của công nhân. Đối với nhóm yếu tố động lực, yếu tố về cơ hội thăng
tiến có mối liên hệ có ý nghĩa thống kê với mức độ hài lòng với công việc,
trong khi các yếu tố như “Công việc mang lại giá trị cho xã hội”, “Công việc có
ý nghĩa đối với bản thân” hay “tham gia các khóa đào tạo nâng cao kỹ năng”,
“tạo điều kiện để học hỏi và phát triển chuyên môn” lại không có mối liên hệ có
ý nghĩa thống kê. Đối với nhóm yếu tố kỳ vọng - giá trị, yếu tố “Tin rằng nếu
làm việc tốt thì sẽ được công nhận và thưởng xứng đáng” có mối liên hệ với sự
hài lòng với công việc. Nói cách khác, công nhân càng có niềm tin rằng nếu làm
tốt thì sẽ được công nhận và thưởng xứng đáng thì càng hài lòng với công việc.
Tuy nhiên,
khi đưa các biến kiểm soát có ý nghĩa thống kê vào mô hình hồi quy tổng thể,
bao gồm giới tính, thâm niên làm việc và mức tiền lương, kết quả cho thấy yếu
tố “cơ hội thăng tiến” có mối liên hệ mạnh nhất với mức độ hài lòng với công
việc. Trong khi đó, hai yếu tố “thu nhập và phúc lợi” và “niềm tin rằng làm
việc tốt sẽ được công nhận và khen thưởng” không còn cho thấy mối liên hệ có ý
nghĩa thống kê với sự hài lòng trong mô hình. Phát hiện này nhấn mạnh vai trò
của cơ hội và triển vọng phát triển nghề nghiệp đối với sự hài lòng với công
việc của công nhân tại KCN Vân Trung. Nói cách khác, mức thu nhập tương đối tốt
có thể chưa đủ để tạo ra sự hài lòng nếu người lao động thiếu cơ hội thăng tiến
và phát triển nghề nghiệp. Ngược lại, khả năng nhận diện được lộ trình phát
triển trong tổ chức có thể góp phần nâng cao mức độ hài lòng của người lao động
đối với công việc hiện tại.
Ảnh: Toàn cảnh Hội đồng nghiệm thu
Hội đồng nghiệm thu đánh giá cao tinh thần nghiêm túc và những nỗ lực của chủ nhiệm trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, đồng thời ghi nhận những giá trị khoa học và thực tiễn của nhiệm vụ khi nghiên cứu về sự hài lòng với công việc của công nhân đang làm việc tại khu công nghiệp. Các thành viên Hội đồng đã chỉ ra những hạn chế và có những góp ý cụ thể về các nội dung cần chỉnh sửa, bổ sung. Đặc biệt, Hội đồng nhấn mạnh yêu cầu tăng cường sự kết nối giữa dữ liệu định tính và kết quả phân tích định lượng nhằm làm rõ hơn các phát hiện nghiên cứu từ góc nhìn xã hội học. Đồng thời, bổ sung thêm các kiến giải lý thuyết, bảo đảm sự gắn kết giữa kết quả phân tích thực nghiệm với khung lý thuyết và các luận điểm được trình bày trong phần kết luận của nhiệm vụ. Những ý kiến đóng góp này là cơ sở quan trọng để chủ nhiệm nhiệm vụ rút kinh nghiệm và tiếp tục hoàn thiện báo cáo sau nghiệm thu.
Trên cơ
sở kết quả đánh giá, Hội đồng thống nhất thông qua nhiệm vụ và đề nghị chủ
nhiệm nhiệm vụ nghiêm túc tiếp thu, chỉnh sửa và bổ sung theo các ý kiến của
Hội đồng.