Xã hội học Mác xít từ thập niên 1930: Nicos Poulantzas. Bài 2: Ba mạch nguồn trí tuệ và các bộ máy tư tưởng của nhà nước
Nhìn lại toàn bộ sự nghiệp, nhiều nhà nghiên cứu trong đó có Bob Jessop tác giả chuyên khảo kinh điển về Poulantzas, cho rằng tính độc đáo của Ông nằm ở khả năng tổng hợp ba mạch nguồn trí tuệ khác biệt trong cùng một khung Mác-xít: triết học Pháp (từ hiện sinh luận của Sartre đến cấu trúc luận của Althusser, rồi tư tưởng của Foucault ở giai đoạn cuối); chủ nghĩa Mác ở Ý, trước hết là Gramsci, mà từ đó ông tiếp thu và phát triển các khái niệm bá quyền, khối quyền lực, và sự phân biệt giữa xã hội chính trị với xã hội dân sự và nền tảng luật học Đức-La Mã mà ông được đào tạo bài bản từ những năm học luật ở Athens rồi triết học pháp luật ở Paris. 
Anh-tin-bai

Chính nền tảng thứ ba này lại đặt cơ sở bền vững cho toàn bộ lý thuyết của ông về nhà nước tư bản “bình thường”. Ông xây dựng phân tích của mình trên tiền đề rằng nhà nước tư bản về bản chất là một nhà nước pháp quyền (Rechtsstaat) và các khái niệm như chủ quyền pháp lý, sự phân quyền, hay ranh giới giữa luật công và luật tư đều giữ vị trí trung tâm trong cách Ông mô tả cấu trúc thể chế của nhà nước. Đây là cách tiếp cận chịu ảnh hưởng của thuyết thực chứng pháp lý Hans Kelsen cho dù ông đồng thời phê phán gay gắt nền tảng triết học của học thuyết này.

Cũng cần nhắc rằng luận án tiến sĩ đầu tay của Poulantzas “Bản chất sự vật và pháp luật (1964)” còn nằm trong khung hiện sinh-mácxít chịu ảnh hưởng của Sartre, Lucien Goldmann và Georg Lukács với tham vọng dung hợp hiện sinh luận với chủ nghĩa Mác để vượt qua nhị nguyên sự kiện/giá trị trong triết học pháp luật. Về sau, chính Ông đã tự phê phán công trình đầu tay này là còn mang nặng dấu ấn “duy sử luận và nhân bản luận”. Những nhược điểm mà cấu trúc luận Althusserian sau này đã giúp Ông khắc phục. Dù vậy, một số yếu tố từ giai đoạn này, đặc biệt là cách tiếp cận pháp lý đối với nhà nước và phương pháp biện chứng “nội tại-ngoại tại”, vẫn tiếp tục để lại dấu ấn trong các công trình cấu trúc luận sau này của Ông.

Song song với lý thuyết về nhà nước và giai cấp, Poulantzas cũng kế thừa và phát triển khái niệm “các bộ máy tư tưởng của nhà nước” (Ideological State Apparatuses) mà Althusser đưa ra gồm gia đình, hệ thống giáo dục, tôn giáo, truyền thông... Những thiết chế này vận hành chủ yếu thông qua tư tưởng để duy trì sự gắn kết xã hội. Tuy nhiên, Ông phê phán cách trình bày của Althusser là còn quá trừu tượng và hình thức khi ngầm giả định các bộ máy tư tưởng này vận hành thống nhất dưới một hệ tư tưởng thống trị duy nhất. Với Poulantzas, các bộ máy tư tưởng của nhà nước không phải là những công cụ đồng nhất phục vụ một ý chí giai cấp duy nhất, mà tự thân chúng là những địa hạt diễn ra đấu tranh giai cấp gay gắt về mặt tư tưởng, nơi các giai cấp và phân đoạn giai cấp khác nhau đều có thể tìm được chỗ đứng và ảnh hưởng nhất định khiến chính các bộ máy tư tưởng ấy cũng trở thành một phần của hệ thống nhà nước đầy mâu thuẫn nội tại, chứ không đứng ngoài nó.

Từ phân tích “thuần tuý-trừu tượng” đến phân tích “cụ thể-phức hợp”

Trong suốt sự nghiệp, Poulantzas kiên trì với một thao tác phương pháp luận hai bậc mà Ông kế thừa từ truyền thống Althusserian: một mặt là phân tích “thuần tuý-trừu tượng” (abstract-simple) nhằm xác định tính đặc thù lịch sử-cấu trúc của kiểu nhà nước tư bản nói chung, tách biệt khỏi mọi hình thái nhà nước tiền tư bản; mặt khác là phân tích “cụ thể-phức hợp” (concrete-complex) nhằm nghiên cứu các nhà nước cụ thể, trong các hình thái xã hội cụ thể, ở những thời điểm lịch sử cụ thể[1]. Chính sự phối hợp giữa hai cấp độ phân tích này giúp lý thuyết của Ông tránh được cả hai cực đoan hoặc sa vào một mô hình hình thức thuần tuý xa rời thực tiễn lịch sử hoặc ngược lại chìm vào chủ nghĩa kinh nghiệm rời rạc không có khả năng khái quát. Đây cũng chính là điều khiến các khái niệm của Ông về khối quyền lực, phân đoạn giai cấp, nhà nước ngoại lệ  có thể vừa giữ được tính lý thuyết chặt chẽ, vừa được vận dụng linh hoạt để phân tích những hình thái nhà nước rất khác nhau, từ chủ nghĩa phát xít những năm 1930 đến các nền dân chủ đại nghị hậu chiến.

Ảnh hưởng của Antonio Gramsci, như đã đề cập, không dừng lại ở khái niệm bá quyền nói chung mà thấm sâu vào cách Poulantzas xây dựng bộ khái niệm giai cấp-quyền lực. Khái niệm “giai cấp bá quyền” (hegemonic class/fraction) tức phân đoạn giai cấp giữ vai trò lãnh đạo trong khối quyền lực ở một giai đoạn nhất định cùng với “khối lịch sử” (bloc historique) mà Gramsci dùng để chỉ sự thống nhất biện chứng giữa cơ sở hạ tầng kinh tế và thượng tầng chính trị-tư tưởng đều được Poulantzas tiếp thu và lồng ghép vào khung phân tích cấu trúc luận vốn chịu ảnh hưởng của Althusser. Nhiều nhà bình luận xem đây chính là điểm giúp lý thuyết Poulantzas tránh được nguy cơ tĩnh tại, phi lịch sử vốn thường bị gán cho chủ nghĩa cấu trúc luận nói chung. Khối quyền lực, theo Ông, không phải một cấu trúc bất biến mà luôn là kết quả tạm thời, luôn có thể bị thách thức, của một tương quan lực lượng giai cấp cụ thể.

Ở giai đoạn cuối đời, khi tiếp thu các ý tưởng của Michel Foucault về quyền lực như một mạng lưới phân tán, thấm khắp các quan hệ xã hội chứ không tập trung vào một trung tâm duy nhất, Poulantzas không đơn thuần sao chép mà có sự tiếp biến phê phán. Ông đồng ý với Foucault rằng quyền lực nhà nước không phải một “khối” thuần nhất có thể nắm giữ trọn vẹn hay đánh mất trọn vẹn mà vận hành như một tập hợp các năng lực chiến lược phân tán trong toàn bộ hệ thống các bộ máy nhà nước. Tuy nhiên, khác với Foucault, Ông kiên quyết không từ bỏ chiều kích giai cấp. Với Poulantzas, dù được phân tán hoá đến đâu, các quan hệ quyền lực trong nhà nước tư bản vẫn luôn mang “dấu ấn giai cấp” tức là luôn gắn với việc tổ chức khối quyền lực thống trị và làm phân rã các giai cấp bị trị. Chính lập trường trung gian vừa chấp nhận tính phân tán, chiến lược của quyền lực theo tinh thần Foucault, vừa giữ vững chiều kích giai cấp theo tinh thần Mác đã khiến tác phẩm cuối đời của ông trở thành một điểm quy chiếu quan trọng, dù gây nhiều tranh cãi, đối với trường phái hậu Mácxít (post-Marxism) sau này. Tiêu biểu là Ernesto Laclau và Chantal Mouffe, những người từng khởi đầu sự nghiệp gần với chủ nghĩa Mác cấu trúc luận nhưng sau đó đã đẩy xa hơn nhiều sự tách rời giữa chính trị-tư tưởng với nền tảng giai cấp mà chính Poulantzas, cho đến cuối đời vẫn từ chối thực hiện trọn vẹn.

Anh-tin-bai
Nhà nước, Quyền lực, Chủ nghĩa xã hội (1978)

Poulantzas là một nhân vật nổi bật của chủ nghĩa cộng sản châu Âu và công trình lý luận của Ông gắn bó chặt chẽ với chiến lược chính trị. Trong bối cảnh Đảng Cộng sản Hy Lạp (KKE) phân liệt và sau đó là sự kiện phong trào cải cách “Chủ nghĩa xã hội mang gương mặt người” bị dập tắt cùng trong năm 1968, Poulantzas đứng về phía thân Cộng sản châu Âu, về sau được biết đến với tên gọi KKE Nội bộ (KKE Interior). Từ thời điểm đó cho đến khi qua đời, Ông phát triển các quan điểm chính trị của mình trong hàng ngũ đảng này, dù thường ở một vị trí còn cấp tiến hơn cả đường lối chính thức của đảng và tích cực tham gia vào các cuộc tranh luận về “con đường dân chủ hướng tới chủ nghĩa xã hội”.

Bối cảnh trực tiếp thúc đẩy Ông viết tác phẩm cuối đời là sự trỗi dậy của phong trào Cộng sản châu Âu (Eurocommunism) tại Ý, Pháp và Tây Ban Nha giữa thập niên 1970 khi các đảng cộng sản lớn ở những nước này lần đầu tiên trong nhiều thập kỷ đứng trước triển vọng thực sự tham chính bằng con đường bầu cử. Tiêu biểu là bước đột phá của Đảng Cộng sản Ý giành hơn một phần ba số phiếu phổ thông năm 1976 hay triển vọng thắng cử của Liên minh cánh tả ở Pháp. Bối cảnh đó đặt ra một cách cấp bách câu hỏi về vai trò của nhà nước trong quá trình quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Trong cuốn sách cuối cùng của mình, Nhà nước, Quyền lực, Chủ nghĩa xã hội (L'État, le pouvoir, le socialisme, 1978), Ông chuyển sang một lý thuyết quan hệ về nhà nước, khẳng định lại định nghĩa nhà nước như “sự cô đọng vật chất của mối quan hệ lực lượng giữa các giai cấp”, đồng thời dành phần cuối tác phẩm[2] để phác thảo một chiến lược quá độ. Chiến lược mà Ông chủ trương là không theo mô hình Lênin-nít (đập tan bộ máy nhà nước tư sản bằng khởi nghĩa vũ trang để dựng lên một quyền lực đối lập hoàn toàn – “lưỡng quyền”) cũng không theo mô hình dân chủ-xã hội cải lương (chỉ đơn thuần chiếm lĩnh bộ máy nhà nước sẵn có qua bầu cử mà không làm biến đổi bản chất giai cấp của nó). Poulantzas cho rằng cả hai lối đi đều thất bại bởi bạo lực cách mạng theo kiểu Lênin dễ đẻ ra một bộ máy quan liêu-chuyên chính trong khi con đường cải lương thuần tuý nghị trường lại bỏ qua thực tế rằng bộ máy nhà nước tư bản – với tính vật chất, cấu trúc giai cấp và các “bức tường ngăn” thể chế của riêng nó – không thể chỉ đơn giản được “chiếm lấy” và sử dụng nguyên trạng cho các mục tiêu xã hội chủ nghĩa.

Thay vào đó, Ông đề xuất một chiến lược kết hợp đồng thời hai hình thức dân chủ: dân chủ đại diện (nghị trường, phổ thông đầu phiếu, đa nguyên chính trị) và dân chủ trực tiếp, cơ sở (các uỷ ban tự quản, phong trào quần chúng, các hình thức tự tổ chức của người lao động ngay trong lòng và bên ngoài bộ máy nhà nước). Theo Ông, chuyển hoá cách mạng đối với nhà nước không phải là một hành động chiếm đoạt tức thời mà là một quá trình lâu dài gồm nhiều đợt đứt gãy (ruptures) nối tiếp nhau, trong đó quyền lực nhân dân dần dần lấn át và tái cấu trúc các bộ phận của bộ máy nhà nước từ bên trong, đồng thời được củng cố bằng sức mạnh tự tổ chức từ bên ngoài. Poulantzas thừa nhận thẳng thắn rằng cho đến thời điểm Ông viết, lịch sử chưa cung cấp một kinh nghiệm thành công nào về con đường dân chủ tiến lên chủ nghĩa xã hội mà chỉ có những bài học thất bại cần tránh. Nhưng ông vẫn kiên định với một lập trường về sau thường được nhắc lại như một trong những di sản cô đọng nhất: “chủ nghĩa xã hội, nếu muốn tồn tại, tất yếu phải là dân chủ, hoặc sẽ không thể là chủ nghĩa xã hội”[3].

Cũng trong tác phẩm này, đối diện với bối cảnh khủng hoảng kinh tế những năm 1970 và sự tập trung quyền lực ngày càng rõ vào bộ máy hành pháp ở nhiều nước tư bản phát triển, Poulantzas phát triển thêm khái niệm “nhà nước độc tài chuyên chế” hay “chủ nghĩa chuyên chế nhà nước” (l'étatisme autoritaire)[4] để mô tả một hình thái nhà nước tư bản mới. Trong đó, dân chủ đại diện dần bị thu hẹp, quyền lực dồn về hành pháp, quốc hội suy yếu, các quyền tự do dân sự bị hạn chế song song với việc duy trì vỏ bọc hợp pháp của các định chế dân chủ. Đây là một trong những đóng góp có sức sống lâu dài nhất của Ông. Nhiều nhà nghiên cứu sau này vẫn viện dẫn khái niệm này để phân tích xu hướng tập trung quyền hành pháp và xói mòn các thiết chế dân chủ trong chủ nghĩa tư bản đương đại. Từ đó, Ông rút ra một cảnh báo mang tính lý luận đối với chính phong trào xã hội chủ nghĩa nói chung: nếu một lực lượng cách mạng lên nắm quyền mà không đồng thời duy trì và mở rộng các quyền tự do dân chủ, không dựa vào sự tự tổ chức thực chất của quần chúng từ bên dưới, thì bản thân nhà nước “xã hội chủ nghĩa” ấy cũng hoàn toàn có thể tái sản sinh những cơ chế chuyên chế-quan liêu tương tự[5]. Đó chính là lý do khiến ông đặt vấn đề dân chủ xã hội chủ nghĩa ở vị trí trung tâm, không thể tách rời, của bất kỳ dự án xã hội chủ nghĩa nào, thay vì xem dân chủ như một mục tiêu có thể trì hoãn đến “sau cách mạng”.

Cũng cần nói thêm rằng lập trường của Poulantzas về vai trò của nhà nước trong quá độ còn là một phản đề đối với chính khuynh hướng tự quản-phi nhà nước (autogestion) khá thịnh hành trong cánh tả Pháp những năm 1970[6]. Poulantzas phê phán khuynh hướng này vì có xu hướng xem nhà nước chỉ là một “phần phụ” thụ động của “cái xã hội” và của các cuộc đấu tranh quần chúng, từ đó suy ra một chiến lược thuần tuý dựa vào dân chủ trực tiếp, tự quản cơ sở mà đánh giá thấp trọng lượng vật chất thực sự, dai dẳng của bộ máy nhà nước. Như vậy, chiến lược “con đường dân chủ tiến lên chủ nghĩa xã hội” của Ông được xây dựng như một con đường thứ ba theo đúng nghĩa: vừa phê phán chủ nghĩa quốc gia hoá cực đoan kiểu Jacobin, vừa phê phán khuynh hướng đánh giá thấp vai trò nhà nước của một số dòng tự quản-vô chính phủ, để đi đến chủ trương kết hợp cả hai. Nghĩa là đấu tranh làm biến đổi nhà nước từ bên trong lẫn xây dựng dân chủ trực tiếp từ bên ngoài.

Lập trường này khiến Ông vừa bị phê phán từ cánh tả cách mạng[7] vừa bị phê phán từ phía những người theo cấu trúc luận chính thống. Lý do là trong các tác phẩm cuối đời Ông ngày càng rời xa khung lý thuyết chặt chẽ của Althusser để tiếp thu các ý tưởng của Michel Foucault, quan niệm hoá nhà nước như một “địa hạt và tiến trình chiến lược” (terrain and process) nơi diễn ra sự đối đầu giữa các lực lượng, hơn là một khối thể chế nguyên khối, thuần nhất. Nhiều nhà bình luận trong đó có Stuart Hall trong bài điểm sách trên New Left Review ngay sau khi Poulantzas qua đời đã chỉ ra rằng chính sự căng thẳng chưa được giải quyết dứt điểm giữa “cấu trúc” và “thực tiễn”, giữa phân tích khách quan về các quy luật cấu trúc của nhà nước tư bản và đòi hỏi về hành động chính trị chủ động của các chủ thể lịch sử, là sợi chỉ xuyên suốt và cũng là điểm chưa hoàn kết trong toàn bộ sự nghiệp lý luận của ông.

Những năm cuối đời và di sản

Trong những năm cuối đời, Poulantzas trải qua một giai đoạn trầm uất kéo dài. Theo lời kể của một số đồng nghiệp thân thiết, một sự việc xảy ra với Ông vào năm 1978 mà Ông gọi là “tai nạn” khiến không ít người trong giới thân cận đặt câu hỏi liệu đó có phải là một dấu hiệu báo trước. Ngày 3 tháng 10 năm 1979, ở tuổi 43, Poulantzas qua đời do tự tử tại Paris, đúng vào giai đoạn phong trào Cộng sản châu Âu mà ông đặt nhiều kỳ vọng bắt đầu chững lại tại chính những nước ông theo dõi sát nhất[8].

Dù qua đời ở tuổi còn khá trẻ đối với một học giả, Poulantzas để lại một di sản lý luận đồ sộ và vẫn tiếp tục được đọc lại, dịch thuật và tranh luận cho đến ngày nay. Trong chuyên khảo năm 1985 vẫn được xem là công trình tham chiếu đầy đủ nhất về ông, Bob Jessop đánh giá Poulantzas là nhà lý luận Mác-xít về nhà nước và chính trị có ảnh hưởng lớn nhất trong toàn bộ giai đoạn hậu chiến, đồng thời nhận xét rằng khác với không ít trí thức Mác-xít Tây Âu cùng thời vốn dễ sa vào tư biện thuần tuý, Poulantzas luôn không ngừng điều chỉnh, thậm chí tự phê phán các lập trường lý thuyết của chính mình thông qua việc bám sát những vấn đề chiến lược cấp bách của thực tiễn chính trị ở cả Hy Lạp lẫn Pháp. Bộ khái niệm của Ông về tính tự chủ tương đối của nhà nước, khối quyền lực, phân đoạn giai cấp, nhà nước ngoại lệ, chủ nghĩa chuyên chế nhà nước, và con đường dân chủ tiến lên chủ nghĩa xã hội đã trở thành điểm quy chiếu bắt buộc cho lý thuyết nhà nước Mác-xít hiện đại, và ảnh hưởng trực tiếp đến các nhà lý luận thế hệ sau[9].

Tại Hy Lạp, tên tuổi Ông được đặt cho Viện Nicos Poulantzas ở Athens. Đây là một tổ chức nghiên cứu có liên hệ mật thiết với đảng cánh tả Syriza nơi tiếp tục quy tụ giới học giả và nhà hoạt động vận dụng di sản của Ông vào phân tích chính trị châu Âu đương đại. Cho đến gần đây, nhân dịp kỷ niệm 40 năm ngày mất của Ông năm 2019, giới nghiên cứu quốc tế vẫn tiếp tục công bố các tuyển tập và hội thảo đánh giá lại toàn bộ sự nghiệp của Ông. Điều này cho thấy sức sống bền bỉ của một lý thuyết ra đời cách đây gần nửa thế kỷ. Có lẽ chính sự từ chối dứt khoát cả hai lối mòn là cách mạng bạo lực và cải lương nghị trường thuần tuý để tìm kiếm một con đường thứ ba vừa mácxít vừa dân chủ, dù còn nhiều điểm mơ hồ về mặt tổ chức thực tiễn và chưa từng được kiểm chứng trọn vẹn trong lịch sử, là điều khiến tư tưởng của Poulantzas về nhà nước và chủ nghĩa xã hội vẫn còn nguyên tính thời sự. Trong bối cảnh nhiều nền dân chủ đương đại tiếp tục chứng kiến xu hướng tập trung quyền lực vào hành pháp và thu hẹp không gian tranh luận công khai mà Ông từng gọi tên bằng khái niệm chủ nghĩa chuyên chế nhà nước, câu hỏi Ông đặt ra từ cuối thập niên 1970 là “làm thế nào để vừa biến đổi tận gốc một cấu trúc quyền lực bất bình đẳng vừa không đánh mất chính những giá trị dân chủ mà cuộc biến đổi ấy hướng tới” vẫn còn nguyên giá trị đối với bất kỳ ai suy nghĩ nghiêm túc về tương lai của dân chủ và công bằng xã hội./.

Danh mục tài liệu tham khảo

1. Poulantzas, Nicos. Pouvoir politique et classes sociales. Paris: Maspero, 1968. (Bản dịch tiếng Anh: Political Power and Social Classes, biên tập bởi Timothy O’Hagan. London: NLB/Sheed and Ward, 1973.)

2. Poulantzas, Nicos. Fascisme et dictature. Paris: Maspero, 1970. (Bản dịch tiếng Anh: Fascism and Dictatorship: The Third International and the Problem of Fascism, dịch bởi Judith White. London: NLB, 1974.)

3. Poulantzas, Nicos. Les classes sociales dans le capitalisme aujourd’hui. Paris: Seuil, 1974. (Bản dịch tiếng Anh: Classes in Contemporary Capitalism, dịch bởi David Fernbach. London: NLB, 1975.)

4. Poulantzas, Nicos. La crise des dictatures: Portugal, Grèce, Espagne. Paris: Maspero, 1975. (Bản dịch tiếng Anh: The Crisis of the Dictatorships: Portugal, Greece, Spain, dịch bởi David Fernbach. London: NLB, 1976.)

5. Poulantzas, Nicos. L’État, le pouvoir, le socialisme. Paris: PUF, 1978. (Bản dịch tiếng Anh: State, Power, Socialism, dịch bởi Patrick Camiller, giới thiệu của Stuart Hall. London: NLB, 1978.)

6. Poulantzas, Nicos. “The Problem of the Capitalist State.” New Left Review, số 58 (11–12/1969): 67–78.

7. Poulantzas, Nicos. “The Capitalist State: A Reply to Miliband and Laclau.” New Left Review, số 95 (1–2/1976): 63–83.

8. Miliband, Ralph. The State in Capitalist Society. London: Weidenfeld & Nicolson, 1969.

9. Miliband, Ralph. “The Capitalist State: Reply to N. Poulantzas.” New Left Review, số 59 (1–2/1970).

10. Miliband, Ralph. “Poulantzas and the Capitalist State.” New Left Review, số 82 (11–12/1973): 83–92.

11. Hall, Stuart. “Nicos Poulantzas: ‘State, Power, Socialism’.” New Left Review, số I/119 (1–2/1980): 60–69.

12. Jessop, Bob. Nicos Poulantzas: Marxist Theory and Political Strategy. London: Macmillan, 1985.

13. Martin, James (chủ biên). The Poulantzas Reader: Marxism, Law and the State. London: Verso, 2008.

14. “Nicos Poulantzas.” Wikipedia, Wikimedia Foundation. Truy cập tháng 9/2026.

Chú thích:

[1] Nước Đức thời Bismarck, nước Pháp thời Cộng hoà thứ Năm, hay chính nước Hy Lạp quê hương ông dưới chế độ quân sự

[2] Mang tên “Hướng tới một nền dân chủ xã hội chủ nghĩa”

[3] P. Camiller (1978), State, Power, Socialism, bản dịch, London: NLB

[4] Khái niệm này được Poulantzas trình bày lần đầu và có hệ thống trong phần thứ tư của Nhà nước, Quyền lực, Chủ nghĩa xã hội (1978), nhằm mô tả xu hướng gia tăng quyền lực của hành pháp, thu hẹp vai trò của quốc hội và các quyền tự do dân sự, song vẫn duy trì lớp vỏ hợp pháp của các thiết chế dân chủ đại diện trong các nhà nước tư bản phát triển giai đoạn hậu chiến.

[5] P. Camiller (1978), sđd.

[6] Tiêu biểu là dòng tư tưởng của nhóm tạp chí Socialisme ou Barbarie (Claude Lefort, Cornelius Castoriadis) và ảnh hưởng của nó trong công đoàn CFDT hay cánh cấp tiến của Đảng Xã hội Pháp

[7] Cho rằng đó thực chất là một hình thức cải lương trá hình, đặt niềm tin thái quá vào khả năng cải biến hoà bình của các thiết chế nghị viện và thậm chí cả bộ máy cảnh sát, quân đội

[8] Đảng Cộng sản Ý dần rút khỏi liên minh cầm quyền, Liên minh cánh tả ở Pháp tan vỡ năm 1977, còn tại Hy Lạp, đảng KKE (Nội bộ) của ông hứng chịu một thất bại nặng nề trong cuộc tổng tuyển cử năm 1977.

[9] Ví dụ Bob Jessop (tác giả một chuyên khảo về Poulantzas năm 1985 và người phát triển thêm “cách tiếp cận chiến lược-quan hệ” đối với nhà nước) hay Stuart Hall và nhóm nghiên cứu văn hoá Birmingham, những người vận dụng khái niệm chủ nghĩa chuyên chế nhà nước để phân tích chủ nghĩa Thatcher tại Anh đầu thập niên 1980

Nguyễn Hoài Sơn
Nguồn bài viết: Trang Thông tin điện tử Viện Xã hội học và Tâm lý học
Tin xem nhiều
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1