Số hóa giáo dục tại Ấn Độ và hàm ý cho Việt Nam
Giáo dục là nền tảng cho sự tiến bộ của một quốc gia, trong quá trình chuyển đổi số toàn diện, giáo dục Ấn Độ đang có sự chuyển đổi mạnh mẽ. Giáo dục ở Ấn Độ đã được số hóa mạnh mẽ trên mọi cấp độ để cung cấp cơ hội và khả năng tiếp cận cho người dân nhằm hỗ trợ giáo dục chất lượng thông qua các công nghệ như trí tuệ nhân tạo (AI), thực tế ảo và công nghệ trực tuyến.
Anh-tin-bai

 

1. Số hóa giáo dục

Số hóa giáo dục tại Ấn Độ nằm trong khuôn khổ rộng lớn của chương trình số hóa Ấn Độ, nhằm mục đích tạo ra một hệ sinh thái học tập toàn diện, dựa trên công nghệ, giúp trao quyền cho học sinh trên toàn quốc. Thực tế, chương trình số hóa Ấn Độ đã có sự phát triển ổn định, đạt được nhiều cột mốc và sáng kiến trọng điểm. Những thành tựu của chương trình này trải rộng trên nhiều lĩnh vực, bao gồm phát triển đường truyền băng thông rộng, truy cập phổ cập vào kết nối di động, các chương trình truy cập internet công cộng và quản trị số (Ministry of Electronics and Information Technology, Government of India).

Chương trình số hóa Ấn Độ hướng tới những bước tiến vượt bậc, tận dụng các công nghệ mới nổi để thúc đẩy hơn nữa sự đổi mới và tăng trưởng. Cam kết chuyển đổi số sẽ nâng cao chất lượng dịch vụ, thúc đẩy tăng trưởng toàn diện và củng cố vị thế của Ấn Độ như một nhà lãnh đạo toàn cầu trong nền kinh tế số. Với những nỗ lực bền bỉ và các sáng kiến chiến lược, Ấn Độ số đang hướng tới việc định hình lại diện mạo kinh tế - xã hội của quốc gia, tạo ra một tương lai tươi sáng và kết nối hơn cho tất cả công dân (Ministry of Electronics & IT, Government of India).

Trong tiến trình số hóa Ấn Độ, số hóa giáo dục là sự tích hợp các công cụ và nền tảng dựa trên công nghệ để nâng cao trải nghiệm dạy và học. Nó bao gồm nhiều nguồn tài nguyên kỹ thuật số khác nhau như nền tảng học trực tuyến, lớp học ảo, ứng dụng tương tác, bài giảng video và các giải pháp giáo dục được hỗ trợ bởi trí tuệ nhân tạo. Những công nghệ này cung cấp cho học sinh và giáo viên khả năng truy cập liền mạch vào các tài liệu học tập chất lượng cao, thúc đẩy một môi trường giáo dục năng động và hiệu quả hơn.

Về chính sách, năm 2020, Ấn Độ đưa ra chính sách Giáo dục Quốc gia (NEP), chính sách giáo dục đầu tiên của thế kỷ 21 nhằm tạo ra sự chuyển đổi lớn trong giáo dục. Chính sách nhấn mạnh vào mối quan hệ hướng tới tương lai giữa công nghệ và giáo dục. Với mục tiêu chuyển đổi ngành, chính sách này tập trung vào việc tích hợp cơ sở hạ tầng số và nội dung giáo dục kỹ thuật số, nâng cao năng lực giáo viên, kỹ năng số và giáo dục toàn diện, đồng thời chú trọng đến vai trò đang nổi lên của các công nghệ đột phá như Trí tuệ nhân tạo. 

Chính sách này được xây dựng dựa trên năm trụ cột chính: tiếp cận, công bằng, chất lượng, khả năng chi trả và trách nhiệm giải trình. Mục tiêu của NEP 2020 là xóa bỏ rào cản địa lý bằng cách cung cấp truy cập kỹ thuật số ở các vùng xa xôi và tận dụng công nghệ để cải thiện quá trình và kết quả giáo dục ở mọi cấp độ. Theo Chính sách Giáo dục Quốc gia 2020, Diễn đàn Giáo dục và Công nghệ Quốc gia (NETF) được thành lập để tạo điều kiện cho việc trao đổi tự do các ý tưởng về việc sử dụng công nghệ nhằm nâng cao chất lượng học tập, đánh giá, lập kế hoạch và quản lý, cả ở bậc phổ thông và đại học. Chính sách này đặc biệt chú trọng đến các Nhóm có hoàn cảnh kinh tế - xã hội khó khăn (SEDGs), hướng tới nền giáo dục công bằng cho tất cả học sinh để xóa bỏ sự bất bình đẳng dựa trên hoàn cảnh kinh tế - xã hội (Drishya Thekkumbad, 2025).

Tầm nhìn giáo dục của Ấn Độ được thể hiện qua Luật Quyền Giáo dục (2009) nhấn mạnh rằng các trường học phải tiếp cận được những trẻ em bị bỏ rơi hoặc bị loại trừ do khuyết tật, nghèo đói, giới tính hoặc địa vị xã hội. Các chính sách này cũng nêu rõ rằng các bài học cần phải linh hoạt để việc giảng dạy có thể phù hợp với các cách hiểu thông tin khác nhau của trẻ em.

2. Thách thức đặt ra

Mặc dù đã có những tiến bộ đáng kể trong số hóa giáo dục, nhưng vẫn còn nhiều thách thức cản trở việc áp dụng một cách rộng rãi và hiệu quả.

Kiểm soát chất lượng nội dung giáo dục 

Điều này liên quan đến vấn đề đào tạo và khả năng thích ứng của giáo viên. Việc chuyển đổi từ phương pháp giảng dạy truyền thống sang nền tảng kỹ thuật số đòi hỏi giáo viên phải thành thạo công nghệ. Tuy nhiên, nhiều nhà giáo dục gặp khó khăn trong việc thích ứng với các công cụ mới và thiếu đào tạo bài bản về kỹ thuật giảng dạy trực tuyến, ảnh hưởng đến chất lượng tổng thể của giáo dục kỹ thuật số.

Bên cạnh đó là sự tham gia và tính tự giác của học sinh. Không giống như lớp học truyền thống, học tập kỹ thuật số đòi hỏi mức độ tự giác và kỷ luật cao. Nhiều học sinh gặp khó khăn trong việc duy trì sự tham gia vào các lớp học trực tuyến, dẫn đến kết quả học tập giảm sút. Sự xao nhãng ở nhà và thiếu tương tác với bạn bè càng ảnh hưởng đến khả năng tập trung của các em.

Yếu tố quan trọng trong giáo dục là các nguồn tài liệu (sách hướng dẫn dành cho giáo viên và sách hướng dẫn dành cho học sinh). Sách hướng dẫn dành cho giáo viên bao gồm cả sách hướng dẫn về khái niệm và sách hướng dẫn giải. Sách hướng dẫn dành cho học sinh chứa các bài tập cho cả đánh giá khách quan và tự luận. Việc có sẵn các tài liệu học tập kỹ thuật số chất lượng cao, được chuẩn hóa vẫn là một thách thức. Nội dung không nhất quán hoặc được thiết kế kém có thể dẫn đến sự nhầm lẫn và thiếu sự truyền đạt kiến thức đúng đắn, gây khó khăn trong việc duy trì các tiêu chuẩn giáo dục đồng nhất.

Cơ sở hạ tầng số hạn chế

Một rào cản lớn trong giáo dục số là sự khác biệt về khả năng tiếp cận công nghệ. Nhiều người dân ở vùng nông thôn và các khu vực kinh tế yếu kém trong xã hội thiếu kết nối internet đáng tin cậy và các thiết bị kỹ thuật số như điện thoại thông minh, máy tính bảng hoặc máy tính. Điều này hạn chế khả năng tham gia học trực tuyến của học sinh, làm gia tăng khoảng cách giữa giáo dục thành thị và nông thôn.

Nhiều trường học, đặc biệt là ở các khu vực kém phát triển, thiếu cơ sở hạ tầng cần thiết, bao gồm máy tính, ứng dụng và phòng học thông minh, và các nguồn tài nguyên học tập kỹ thuật số. Nếu không có các cơ sở vật chất phù hợp, học sinh không thể hưởng lợi từ các phương pháp học tập hiện đại, khiến giáo dục số trở nên không hiệu quả đối với một bộ phận lớn dân số (AAS Vidyalaya).

Mặc dù số lượng người đăng ký internet và người có kiến thức kỹ thuật số đã tăng nhanh chóng, nhưng chỉ có 32,4% trong số 1,47 triệu trường học ở Ấn Độ có máy tính hoạt động tốt. Chỉ có 24,4% có phòng học thông minh để hỗ trợ giảng dạy các kỹ năng thời đại mới (Drishya Thekkumbad, 2025). Cuộc khảo sát về chi tiêu xã hội hộ gia đình cho giáo dục ở Ấn Độ cho thấy chỉ có 4,4% hộ gia đình ở khu vực nông thôn có máy tính, trái ngược với 23,4% ở khu vực thành thị. Xu hướng tương tự cũng được quan sát thấy đối với các hộ gia đình có truy cập internet, trong đó 14,9% hộ gia đình nông thôn có truy cập internet so với 42% hộ gia đình thành thị. Tương tự, số người trên 5 tuổi có thể sử dụng máy tính hoặc internet lần lượt là 9,9% và 13,0% ở khu vực nông thôn, trái ngược với 32,4% và 37,1% ở khu vực thành thị. Tỷ lệ trường học có trang thiết bị máy tính đã tăng lên 47,51% trong năm học 2021-2022 so với 27,31% trong năm học 2015-2016 và tỷ lệ trường học có kết nối internet đã tăng lên 33,91% trong năm học 2021-2022 từ 24,51% trong năm học 2015-2016 (Anulekha Nandi, 2024).   

Sự chênh lệch thậm chí còn rõ rệt hơn ở các trường công lập và nông thôn, nơi cơ sở hạ tầng và khả năng tiếp cận thiết bị còn thua xa các trường tư thục ở thành thị. Khoảng cách này có nghĩa là, bất chấp những nỗ lực về chính sách, hàng triệu học sinh có hoàn cảnh khó khăn vẫn bị loại trừ khỏi những lợi ích của giáo dục kỹ thuật số. Các chuyên gia cảnh báo rằng việc thúc đẩy các trường học lớn hơn theo NEP 2020 sẽ loại trừ học sinh nghèo, nông thôn khỏi việc tiếp cận giáo dục đại học, vì họ sẽ không thể trang trải chi phí sinh hoạt. Điều này cũng đã đẩy nhanh quá trình tư nhân hóa trường học: Trong thập kỷ qua, số lượng trường công lập đã giảm 8% và trường tư thục tăng 14% (Drishya Thekkumbad, 2025). Với sự thương mại hóa ngày càng tăng, giáo dục dường như trở thành một đặc quyền hơn là một nhu cầu cơ bản. Việc thiếu cơ sở hạ tầng ở khu vực nông thôn đang cản trở tiến trình thực hiện Chính sách Giáo dục Quốc gia (NEP). Trừ khi việc thực hiện được tăng cường và nguồn lực được hướng đến những người yếu thế, khoảng cách kỹ thuật số sẽ vẫn tồn tại, khiến nhiều người trẻ Ấn Độ không được chuẩn bị cho một tương lai dựa trên công nghệ.

3. Hàm ý cho Việt Nam

Việt Nam đã xác định giáo dục và đào tạo là một trong những lĩnh vực ưu tiên trong Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 (Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020). Tiếp đó, Đề án “Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong giáo dục và đào tạo giai đoạn 2022-2025, định hướng đến năm 2030” (Quyết định số 131/QĐ-TTg ngày 25/01/2022) đặt ra các mục tiêu cụ thể về xây dựng nền tảng dạy học trực tuyến, kho học liệu số dùng chung và phát triển đại học số. Từ trường hợp Ấn Độ, có thể rút ra một số hàm ý cho Việt Nam như sau: 

Thứ nhất, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

Chuyển đổi số là bước chuyển mình mạnh mẽ, đòi hỏi sự thay đổi từ trong tư duy, nhận thức của mỗi người. Do vậy, cần thực hiện các biện pháp nhằm nâng cao nhận thức, phổ cập tầm quan trọng cho giáo viên, giảng viên, cán bộ nhà trường. Từ đó mới phối hợp cùng nhau xây dựng văn hóa số trong giáo dục.

Tiến hành hướng dẫn, nâng cao kỹ năng nghiệp vụ trong ứng dụng công nghệ số cho tất cả những người làm công tác giảng dạy, như kỹ năng công nghệ thông tin, an toàn thông tin,... trên môi trường số.

Giáo viên đóng vai trò quan trọng trong thực hiện chuyển đổi số trong giáo dục bằng cách áp dụng công nghệ số trong phương pháp giảng dạy, giúp mở ra nhiều cơ hội để tăng cường chất lượng giáo dục và giúp học sinh phát triển toàn diện trong thế giới số hóa ngày càng phát triển.

Thứ hai, quản lý dữ liệu số trong giáo dục

Việc chú trọng vào triển khai quản lý hệ thống, chia sẻ dữ liệu để đồng bộ trong giáo dục, chuyển đổi tất cả tài liệu từ giấy tờ qua văn bản điện tử. Hoàn thiện cơ sở hạ tầng mạng, các thiết bị phục vụ quá trình dạy và học, tạo cơ hội học tập bình đẳng cho tất cả mọi người, ở mọi vùng miền có điều kiện kinh tế - xã hội số khác nhau.

Các hoạt động như thúc đẩy triển khai học liệu số, hình thành kho học liệu mở dùng chung cho toàn ngành, đồng thời hợp tác, liên kết với các tổ chức trên thế giới, thu hẹp khoảng cách giữa các vùng miền, khuyến khích và hỗ trợ triển khai các mô hình giáo dục đào tạo mới dựa trên các nền tảng số.

Thứ ba, xây dựng hạ tầng chuyển đổi số

Hạ tầng mạng và các trang thiết bị phải được cải tiến, đổi mới khi chuyển đổi số trong giáo dục, đặc biệt là những nơi có kết nối kém. Tăng cường kết hợp với các công nghệ hiện đại trên thế giới như AI, Big data, IoT, Blockchain,... với cơ sở dữ liệu số để xây dựng hệ thống thu thập thông tin, đưa ra dự báo và thiết lập ứng dụng, dịch vụ phù hợp đến từng đối tượng người học.

Tài liệu tham khảo

1. AAS Vidyalaya. “Role of Government Initiatives in Promoting Digital Education in India”, https://www.vidyalaya.org.in/digital-education-in-india/.

2. Anulekha Nandi (2024). “ICT and education in India: Gains and gaps”, ORF, https://www.orfonline.org/expert-speak/ict-and-education-in-india-gains-and-gaps.

3. Drishya Thekkumbad (2025). Digital Dreams, Divided Realities: Navigating Educational Access in India. https://www.orfonline.org/expert-speak/digital-dreams-divided-realities-navigating-educational-access-in-india

4. Ministry of Electronics and Information Technology, Government of India, “9 Pillars of Digital India”, https://www.digitalindia.gov.in/our-pillars/.

5. Ministry of Electronics & IT, Government of India. “Future Ready: India’s Digital Economy to Contribute One-Fifth of National Income by 2029-30”. https://www.pib.gov.in/PressReleasePage.aspx?PRID=2097125.

6. Quyết định số 749/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt "Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030", https://chinhphu.vn/default.aspx?pageid=27160&docid=200163 

7. Quyết định số 131/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt Đề án "Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong giáo dục và đào tạo giai đoạn 2022- 2025, định hướng đến năm 2030", https://vanban.chinhphu.vn/?pageid=27160&docid=205236&classid=0

Anh Phan
Nguồn bài viết: Trang Thông tin điện tử Viện Nghiên cứu Nam Á, Tây Á và Châu Phi
Tin xem nhiều
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1