Giữ vững độc lập, tự chủ - Bài học lớn từ cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ Đại thắng mùa Xuân 1975 nhưng bài học giữ vững độc lập, tự chủ vẫn nguyên vẹn giá trị. Độc lập, tự chủ không chỉ là giá trị lịch sử đã được kiểm nghiệm bằng quá trình đấu tranh lâu dài, bền bỉ để giành thắng lợi mà còn là nền tảng để đất nước phát triển nhanh, bền vững, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, nâng cao vị thế quốc gia và bảo vệ vững chắc lợi ích dân tộc trong thời kỳ mới.
Xe
tăng quân giải phóng tiến vào Dinh Độc Lập ngày 30/4/1975. Ảnh tư liệu
Mục
tiêu thiêng liêng, nguyên tắc bất biến
Sau Hiệp định Geneva
năm 1954, đất nước ta tạm thời bị chia cắt làm hai miền. Hòa bình được lập lại ở
miền Bắc, nhưng miền Nam chưa được giải phóng, non sông chưa liền một dải.
Trong hoàn cảnh đó, khát vọng độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc, toàn vẹn
lãnh thổ không chỉ là mục tiêu chính trị, mà còn là nguyện vọng thiêng liêng,
là lẽ sống, là ý chí không gì lay chuyển nổi của nhân dân Việt Nam.
Lúc này, giữ vững độc lập,
tự chủ trước hết là giữ vững mục tiêu chiến lược: Kiên quyết đấu tranh vì độc lập
dân tộc, vì thống nhất đất nước, vì quyền tự quyết của nhân dân Việt Nam đối với
chế độ chính trị và con đường phát triển của mình. Cách mạng Việt Nam đồng thời
thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: Miền Bắc tiến hành cách mạng xã hội chủ
nghĩa, miền Nam tiếp tục cách mạng để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Điều đó cho thấy độc lập, tự chủ của Việt Nam không phải là một khái niệm chính
trị chung chung, mà là độc lập trong việc lựa chọn con đường phát triển dân tộc,
tự chủ trong việc xác định tương lai của đất nước.
Chính vì vậy, có thể
nói, độc lập, tự chủ vừa là mục tiêu, vừa là nguyên tắc chỉ đạo xuyên suốt, là
"sợi chỉ đỏ" gắn kết toàn bộ cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước từ
những năm đầu đầy cam go cho đến ngày toàn thắng.
Trong mọi cuộc cách mạng,
có một đường lối đúng đắn dẫn đường là điều kiện tiên quyết. Nhưng để có đường
lối đúng, cần có bản lĩnh độc lập, tự chủ trong nhận định tình hình, trong đánh
giá thời cuộc, trong lựa chọn bước đi và phương pháp hành động.
Những năm đầu sau Hiệp
định Geneva, chính quyền Mỹ - Diệm thẳng tay đàn áp lực lượng cách mạng, khủng
bố phong trào yêu nước ở miền Nam, phá hoại khả năng hiệp thương tổng tuyển cử
thống nhất đất nước. Trong bối cảnh ấy, bản lĩnh độc lập, tự chủ của Đảng ta đã
thể hiện rõ nét. Đảng ta từng bước nhận rõ âm mưu, bản chất và mức độ nguy hiểm
của chiến lược xâm lược mới; đánh giá đúng tương quan lực lượng, đúng yêu cầu
phát triển của cách mạng miền Nam; từ đó đề ra quyết sách phù hợp, mở ra bước
chuyển có ý nghĩa chiến lược, dẫn tới phong trào Đồng khởi năm 1960. Đó là bước
phát triển đặc biệt quan trọng, khẳng định tầm vóc của tư duy chiến lược độc lập,
tự chủ, sáng tạo của Đảng ta.
Cờ
Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tung bay trên nóc Dinh Tổng thống
Sài Gòn, ngày 30/4/1975. Ảnh tư liệu
Độc
lập, sáng tạo trong phương pháp đánh giặc
Giữ vững độc lập, tự chủ
không chỉ thể hiện trong đường lối mà còn thể hiện sinh động trong phương thức
tổ chức lực lượng và cách thức tiến hành chiến tranh. Trước một đối phương vượt
trội về vũ khí, trang bị, tiềm lực vật chất và kỹ thuật chiến tranh, Việt Nam
không thể giành thắng lợi nếu đi theo lối đánh đối xứng, càng không thể sao
chép máy móc bất cứ mô hình có sẵn nào.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng,
quân và dân ta đã phát triển sáng tạo nghệ thuật chiến tranh nhân dân, phát huy
cao độ sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, kết hợp chặt chẽ đấu tranh quân sự với
đấu tranh chính trị, ngoại giao; kết hợp ba mũi giáp công, ba vùng chiến lược;
kết hợp tiến công và nổi dậy, kết hợp tiêu diệt địch với làm tan rã ý chí xâm
lược của chúng.
Trước mọi hình thức chiến
tranh mà Mỹ triển khai ở Việt Nam, từ "chiến tranh đặc biệt" đến
"chiến tranh cục bộ" rồi chiến tranh phá hoại đối với miền Bắc, quân
và dân ta vẫn bình tĩnh, chủ động vừa đánh, vừa xây dựng lực lượng, phát triển
cách đánh, từng bước phá vỡ thế mạnh của địch, đẩy địch vào thế bị động, sa lầy
và thất bại.
Đây là bài học lớn còn
nguyên giá trị đến hôm nay: Giữ vững độc lập, tự chủ không chỉ là kiên định mục
tiêu, mà còn là biết phát huy sáng tạo nội lực, biết lựa chọn cách đi riêng phù
hợp với điều kiện cụ thể của đất nước, biết biến khó khăn thành động lực, biến
thách thức thành cơ hội, biến sức mạnh tinh thần và chính nghĩa thành sức mạnh
trong hành động.
Một trong những biểu hiện
sâu sắc nhất của độc lập, tự chủ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ là việc xây dựng
được hậu phương lớn miền Bắc, tạo nền tảng vững chắc cho cả nước đánh thắng giặc
Mỹ xâm lược.
Sau năm 1954, từ một
vùng đất bị chiến tranh tàn phá nặng nề, cơ sở vật chất nghèo nàn, lạc hậu, miền
Bắc đã từng bước vươn lên, phát triển về kinh tế, quốc phòng, văn hóa, xã hội,
trở thành hậu phương lớn, căn cứ địa cách mạng của cả nước.
Trong suốt những năm
tháng ác liệt của chiến tranh, miền Bắc vừa sản xuất, vừa chiến đấu, vừa chi viện
cho miền Nam. Những tuyến đường chiến lược được mở rộng, những mạch giao thông
được nối thông, những dòng chảy sức người, sức của không ngừng nghỉ ra tiền tuyến
đã làm nên chiến thắng của cả dân tộc.
Nhìn từ hôm nay, bài học
ấy càng trở nên sâu sắc. Trong thời bình, "hậu phương lớn" của quốc
gia chính là nền kinh tế độc lập, tự chủ; là thể chế phát triển hiện đại; là
năng lực khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo; là nguồn nhân lực chất lượng
cao; là kết cấu hạ tầng đồng bộ; là nền quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh
nhân dân vững mạnh; là niềm tin xã hội và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Một
đất nước muốn phát triển nhanh, bền vững và giữ vững tự chủ chiến lược thì trước
hết phải xây dựng được nền tảng nội lực đủ mạnh để đứng vững trước mọi biến động
từ bên ngoài.
Mềm
dẻo trên bàn đàm phán, kiên định về lợi ích dân tộc
Một nét đặc sắc của cuộc
kháng chiến chống Mỹ là nghệ thuật kết hợp giữa sức mạnh chiến trường và sức mạnh
ngoại giao. Trên mặt trận này, tinh thần độc lập, tự chủ của Việt Nam tiếp tục
được thể hiện với tầm vóc đặc biệt.
Việt Nam luôn coi trọng
sự đoàn kết quốc tế, sự đồng tình, ủng hộ của các lực lượng tiến bộ trên thế giới.
Nhưng tranh thủ sự ủng hộ quốc tế không đồng nghĩa với dựa dẫm, càng không có
nghĩa là đánh đổi quyền tự quyết của dân tộc. Đó chính là cốt cách của ngoại
giao Việt Nam trong thời chiến: Mềm dẻo, khôn khéo, linh hoạt, nhưng tuyệt đối
kiên định về nguyên tắc, trước hết là nguyên tắc độc lập dân tộc, thống nhất đất
nước, quyền tự quyết của nhân dân Việt Nam.
Sau những thắng lợi có
ý nghĩa bước ngoặt trên chiến trường, Việt Nam bước vào Hội nghị Paris với tư
thế của một dân tộc nắm quyền chủ động chiến lược. Trên bàn đàm phán, ta luôn gắn
chặt ngoại giao với thực tiễn chiến trường, kiên quyết giữ vững lập trường:
Quân xâm lược phải rút hết, hòa bình phải gắn với độc lập, thống nhất, và vấn đề
miền Nam Việt Nam phải do chính nhân dân miền Nam quyết định.
Trong bối cảnh hội nhập
quốc tế sâu rộng hiện nay, Việt Nam càng cần quán triệt sâu sắc nguyên tắc: Chủ
động, tích cực hội nhập quốc tế, tranh thủ cao nhất các nguồn lực bên ngoài cho
phát triển đất nước, nhưng phải giữ vững độc lập, tự chủ, bảo đảm cao nhất lợi
ích quốc gia - dân tộc.
Nhân
dân Hà Nội và Sài Gòn mít tinh chào mừng miền Nam hoàn toàn giải phóng, ngày
15/11/1975. Ảnh tư liệu
Sau Hiệp định Paris năm
1973, quân viễn chinh Mỹ buộc phải rút khỏi miền Nam, song cuộc đấu tranh vẫn
chưa thể kết thúc ngay. Mỹ tiếp tục can thiệp bằng nhiều hình thức, còn chính
quyền Sài Gòn tiếp tục lphá hoại Hiệp định. Trong bối cảnh đó, ta vẫn tỉnh táo
đánh giá tình hình, khẩn trương tạo thế, tạo lực cho nhiệm vụ giải phóng miền
Nam, thống nhất đất nước.
Từ Phước Long đến Tây
Nguyên, từ Huế - Đà Nẵng đến Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, mỗi quyết định đều
thể hiện rõ năng lực phân tích chính xác tình hình, tầm nhìn chiến lược rộng mở,
ý chí quyết đoán và bản lĩnh dám chịu trách nhiệm trước vận mệnh dân tộc của Đảng
ta. Đại thắng mùa Xuân 1975 vì thế không chỉ là thắng lợi của sức mạnh quân sự,
mà còn là thắng lợi của tư duy chiến lược độc lập, tự chủ, sáng suốt và táo bạo.
Ngày nay, đất nước cũng
đang đứng trước những thời cơ lớn của phát triển. Nhưng nếu không có năng lực
phát hiện, nắm bắt và hành động quyết liệt, kịp thời, rất dễ bỏ lỡ thời cơ, thậm
chí tụt lại phía sau. Vì vậy, giữ vững độc lập, tự chủ hôm nay còn là giữ vững
năng lực lựa chọn ưu tiên chiến lược, lựa chọn đúng khâu đột phá, đúng mô hình
phát triển, đúng nhịp bước đi của đất nước trong thời đại mới.
Tự
chủ chiến lược trong kỷ nguyên phát triển mới
Bài học giữ vững độc lập,
tự chủ từ cuộc kháng chiến chống Mỹ hôm nay cần được nhận thức ở tầm vóc rộng
hơn, sâu hơn: Đó là yêu cầu xây dựng tự chủ chiến lược quốc gia trong kỷ nguyên
phát triển mới.
Thế giới đang chuyển biến
hết sức nhanh chóng, phức tạp và khó lường. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước
lớn ngày càng gay gắt; các vấn đề an ninh phi truyền thống nổi lên mạnh mẽ;
khoa học - công nghệ phát triển với tốc độ đột phá; xu thế tái cơ cấu kinh tế,
thương mại và chuỗi cung ứng toàn cầu đang diễn ra sâu sắc. Trong bối cảnh ấy,
độc lập, tự chủ không còn chỉ được hiểu theo nghĩa truyền thống là bảo vệ chủ
quyền lãnh thổ, mà còn là làm chủ chiến lược phát triển, làm chủ thể chế, làm
chủ công nghệ, làm chủ năng lực ứng phó với các cú sốc và biến động lớn của thời
đại. Tự chủ chiến lược hôm nay phải được xây dựng trên nền tảng nội lực mạnh,
thể chế tốt, con người chất lượng, khoa học - công nghệ hiện đại, quản trị quốc
gia hiệu quả và thế trận quốc phòng, an ninh vững chắc.
Xuyên suốt cuộc kháng
chiến chống Mỹ, cứu nước, bản lĩnh độc lập, tự chủ của dân tộc Việt Nam gắn chặt
với sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng. Ngày nay, công tác xây dựng Đảng
tiếp tục được xác định là nhiệm vụ "then chốt", là nhân tố quyết định
để đất nước giữ vững phương hướng phát triển, tăng cường năng lực lãnh đạo, cầm
quyền, nâng cao sức chiến đấu của Đảng, qua đó bảo đảm cho quốc gia giữ vững độc
lập, tự chủ trong mọi lĩnh vực. Một đất nước muốn thật sự tự chủ thì Đảng cầm
quyền phải đủ bản lĩnh, đủ trí tuệ, đủ năng lực tự đổi mới, tự chỉnh đốn; đội
ngũ cán bộ, đảng viên phải thật sự tiền phong, gương mẫu; hệ thống chính trị phải
tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả.
Nửa
thế kỷ đã đi qua kể từ ngày Đại thắng mùa Xuân 1975, nhưng bài học giữ vững độc
lập, tự chủ vẫn vẹn nguyên giá trị.
Giữ vững độc lập, tự chủ
hôm nay không phải là khép mình trước thế giới, mà là bước ra thế giới với tư
thế chủ động, tự tin, bản lĩnh hơn. Không phải là đứng ngoài dòng chảy hội nhập
và phát triển, mà là tham gia vào dòng chảy ấy bằng năng lực làm chủ, bằng nội
lực mạnh mẽ, bằng khát vọng vươn lên của một dân tộc chưa bao giờ chịu khuất phục
trước lịch sử.
Cha anh ta đã giữ vững
độc lập, tự chủ bằng máu xương, bằng sự hy sinh vô cùng lớn lao trong những năm
tháng chiến tranh. Trách nhiệm của chúng ta hôm nay là tiếp tục giữ vững và
nâng tầm độc lập, tự chủ ấy bằng trí tuệ, bằng bản lĩnh đổi mới, bằng khát vọng
phát triển, bằng ý chí xây dựng một nước Việt Nam hùng cường, phồn vinh, văn
minh, hạnh phúc./.