Các cư dân văn hóa Óc Eo: sự phát triển trong bối cảnh dao động mực nước biển vào những thế kỷ trước sau công nguyên
Hình 1.Sơ đồ kết quả phân tích bào tử phấn hoa ở di tích Gò Cây Thị, Nhơn Thành và Gò Tháp trong mối tương quan với sự dao động mực nước biển (Nguồn: Nhóm tác giả)
Giới
thiệu
Văn hóa Óc Eo do L. Malleret định danh sau cuộc khai quật tại
cánh đồng Óc Eo (huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang) vào năm 1944 với việc phát hiện
hàng loạt chứng tích vật chất trước đó, là một nền văn minh rực rỡ phát triển ở
vùng đồng bằng Nam Bộ từ những thế kỷ đầu Công nguyên đến khoảng thế kỷ VII. Thực
ra, từ thế kỷ XIX đã có ghi chép của Trịnh Hoài Đức về việc phát hiện những
viên gạch cổ và hai mảnh vàng có hình vẽ ở Gò Cây Mai, nay thuộc thành phố Hồ
Chí Minh (Lê Thị Liên 2006: 23). Các nghiên cứu trong gần 80 năm qua đã xác tín
đây là những chứng cứ vật chất của vương quốc Phù Nam, một trong những nhà nước
sớm nhất ở Đông Nam Á, một đế chế hàng hải phát triển thịnh vượng. Gần đây nhất,
cuộc khai quật với quy mô lớn chưa từng thấy tại hai khu di tích Óc Eo-Ba Thê
và Nền Chùa trong các năm 2017-2019 đã xuất lộ nhiều di tích với khối lượng hiện
vật khổng lồ (Kỷ yếu 2019). Chắc chắn sẽ cần thêm nhiều thời gian nữa để nghiên
cứu khối tư liệu này dưới nhiều góc độ khác nhau, với chủ đề về những cơ hội
hay điều kiện tự nhiên và xã hội tạo đà cho sự phát triển bùng nổ của nền văn
hóa này ngày càng được đặc biệt quan tâm.
Bài viết này dựa trên các kết quả nghiên cứu
khảo cổ học gần đây và các kết quả nghiên cứu về môi trường tự nhiên nhằm góp
phần cung cấp một cái nhìn vào quá trình phát triển và vị thế của nền văn hóa
Óc Eo trong lịch sử khu vực giai đoạn trước sau Công nguyên.
1. Lịch
sử phát triển của đồng bằng sông Cửu Long và kết quả nghiên cứu đường bờ biển cổ
Kết quả nghiên cứu của
các nhà địa chất và cổ môi trường đã góp phần đưa đến nhiều hiểu biết về quá
trình hình thành của vùng đất Nam Bộ, đặc biệt là vùng đồng bằng sông Cửu Long
trong giai đoạn biển tiến Holocene-trung vào khoảng 5-7.000 BP. Khi đó mực nước
biển được ghi nhận là cao từ 2,5m hoặc 4,5m so với mực nước biển hiện nay. Lúc
này, đường bờ biển còn nằm trên vùng đất thuộc Campuchia. Từ sau 5000BP cho đến
nay, đồng bằng đã mở rộng ra biển khoảng 200km theo hướng đông nam. Kết quả của
6 mũi khoan thực hiện ở khu vực Bến Tre và Trà Vinh đã cho thấy quá trình lấn
ra biển của vùng đồng bằng sông Cửu Long chịu ảnh hưởng của cả thủy triều và
sóng. Đặc biệt, dưới tác động của sóng và gió, các gờ bờ biển đã hình thành rất
mạnh, từ khoảng 3-4.000 năm BP, tạo nên các giồng cát gần song song theo hướng
đông bắc - tây nam ở khu vực Bến Tre, Trà Vinh (Thị Kim Oanh Tạ et. al. 2002:
Fig. 4)". Những kết quả
nghiên cứu gần đây nhất cũng cung cấp một cái nhìn chi tiết hơn về sự phát triển
của vùng bán đảo Cà Mau. Lê Xuân Thuyên cung cấp một sơ đồ địa mạo trầm tích
(2019: Hình 2) cho thấy các giồng cát dạng vòng cung tập trung ở phần phía Đông
châu thổ và trật tự thời gian hình thành của chúng cho thấy khá rõ dạng vòng
tăng trưởng theo nhịp của châu thổ trong Holocene muộn. Đây là cơ sở để các nhà
nghiên cứu đoán định đường bờ châu thổ vào thời gian khoảng 4,5 ngàn năm trước ở
phần phía Tây sông Hậu, mặc dù còn thiếu bằng chứng cụ thể như là giồng cát biển
ở đây. Đồng thời hình thái phân bố các giồng cát này còn cho thấy hướng động lực
chính tạo nên chúng đến từ hướng đông là chủ đạo, nên đầu giồng thường cao và
luôn ở phía đông, đuôi giồng thấp và thoải dần về hướng tây. Đặc điểm địa tầng
trầm tích lõi khoan sâu đặt tại cù lao Tân Lộc (huyện Thốt Nốt) cho thấy thời
gian cách nay khoảng 3,6 ngàn năm ở độ sâu cách mặt đất hiện tại khoảng 18m thì
nơi đây vẫn còn là vùng nước rìa châu thổ. Từ sơ đồ của Lê Xuân Thuyên, ta thấy
rằng theo thời gian phát triển thì hình dạng châu thổ có hướng mở rộng nhanh từ
thời kỳ Holocene muộn cho tới nay và có xu thế lệch về phía tây và tây nam nhiều hơn là theo hướng Đông Nam vốn là trục vận
chuyển vật liệu phù sa của sông Mekong ra biển. Do tác động của dòng chảy của hệ
thống sông Cửu Long và tác động của sóng, gió biển và các dòng hải lưu, đã khiến
cho mũi đất Cà Mau ngày càng mở nhanh ra biển (Lê Xuân Thuyên 2019: 201).
Một hướng nghiên cứu khác đi sâu vào các đợt
dao động mực nước biển trong khoảng 3000 năm trở lại đây. Liêu Kim Sanh (1984:
76-77) cung cấp thông tin chi tiết về sự dao động của mực nước biển với bốn lần
biển lấn, ký hiệu là HI-IV và ba lần lùi xen kẽ, ký hiệu là h1-3. Tập trung vào
khoảng thời gian đang quan tâm, cần lưu ý tới đợt mực nước biển rút h2 ở -1m so
với hiện tại vào khoảng những năm 550 trước Công nguyên, biển xâm nhập HIII ở mức
+0,4m trong những năm 50 trước Công nguyên, mực nước biển rút h3 ở -0,5m trong
những năm 200 Công nguyên và đặc biệt là biển xâm nhập HIV ở mức +0,8m trong những
năm 650 Công nguyên. Hiện tượng đó đã tác động đến môi trường vùng đồng bằng, đặc
biệt là nơi có các di tích như thế nào? Trong những năm gần đây, việc nghiên cứu
bào tử phấn hoa và các lát cắt địa tầng có liên quan tại một số di tích Óc Eo
điển hình được đặc biệt quan tâm để tìm hiểu vấn đề này.
Kết quả phân tích phấn hoa ở hàng loạt các
di tích như Đá Nổi, Gò Óc Eo, Gò Giồng Trôm, Gò Tư Trâm (An Giang), Nhơn Thành
(Cần Thơ), Chòm Cau (Sóc Trăng), Gò Tháp (Đồng Tháp), Cạnh Đền (Kiên Giang),…
thể hiện rõ sự đan xen giữa môi trường trong sông và môi trường ngập mặn hoặc
chịu tác động của nước mặn. Mức độ tác động có thể khác nhau do điều kiện địa
hình. Các mũi khoan ở Gò Tháp và Nhơn Thành thể hiện rõ các mức độ chịu tác động
của mực nước biển ở các độ cao khác nhau (Nguyen Thi Mai Huong et al., 2015;
Nguyễn Thị Mai Hương 2020; Nguyễn Thị Mai Hương và nnk, 2021 a,b). Kết quả bước
đầu của việc phân tích mẫu trong tầng văn hóa ở Gò Óc Eo dường như ăn khớp với
sự dao động dâng lên của mực nước biển ở mốc 50 trước Công nguyên và 650 Công
nguyên. Tuy nhiên, vẫn cần có thêm việc nghiên cứu đối sánh với địa tầng và kết
quả xác định niên đại ở nhiều di tích trọng điểm.
Lịch sử phát triển về địa chất và địa hình
của khu vực Nam Việt Nam như vậy đã tạo nên những khu vực có tính chất khác
nhau về địa hình và đặc điểm thổ nhưỡng. Trong đó, đối với sự hình thành và
phát triển của các di tích khảo cổ học, cần quan tâm tới tính chất đồng lụt kín
của vùng Đồng Tháp Mười, đồng lụt mở của vùng tứ giác Long Xuyên và vùng tam
giác châu ở khu vực các cửa sông của hệ thống sông Cửu Long (Trần Kim Thạch
1996: 12). Một đặc điểm nữa cũng rất đáng quan tâm là lịch sử phát sinh và bồi
lấp của các cửa sông cổ, song hành với quá trình phát triển của đồng bằng. Một
ví dụ rõ rệt nhất là sự bồi lấp của các cửa sông cổ đã được nhận thấy ở vùng Đồng
Tháp Mười, với cửa sông cổ Tam Nông, cửa sông cổ Cái Bè, cửa sông cổ Bến Thủ ở
phía nam vùng thềm cao Đức Hòa, Đức Huệ và cuối cùng là vùng cửa sông Tân Thanh
ở khu vực Tiền Giang. Quá trình bị bồi lấp và hình thành các cồn cát ven biển
vào giai đoạn sớm cũng để lại dấu vết các bãi biển cổ, như bãi biển Mộc Hóa và
bãi biển Tân An (Trần Kim Thạch 1996: 18). Trong lịch sử chịu tác động của các
đợt dao động mực nước biển, các địa điểm cư trú của cư dân cổ thuộc các khu vực
này đã có cơ hội lớn hơn để tồn tại và tiếp tục phát triển. Về phía tây, ngoài
các vùng chân núi sót, sự hình thành các vùng tích tụ phù sa sông trong khoảng
2500 đến sau 2000 năm ở khu vực tây nam, thuộc các tỉnh Kiên Giang, Minh Hải,
Cà Mau cũng là các điều kiện tự nhiên quan trọng cho sự hình thành các di chỉ
trong nửa đầu thiên niên kỷ I Công nguyên ở khu vực này.
2. Không
gian phân bố các di chỉ khảo cổ học Tiền - Sơ sử ở Nam Việt Nam
Do những khác biệt về tự nhiên, miền Nam
Việt Nam được phân biệt gồm hai vùng miền Đông và miền Tây Nam Bộ. Vùng Đông
Nam Bộ cơ bản thuộc vùng phù sa cổ của lưu vực sông Đồng Nai. Hai khu vực địa
hình tương ứng có liên quan đến các địa điểm khảo cổ học ở độ cao 100-200 m, chạy
song song theo hướng tây bắc sang đông nam và ở độ cao dưới 100 m nghiêng từ
đông bắc xuống tây nam. Thời kỳ đầu Holocene, khi dòng chảy của sông Cửu Long
chưa thay đổi như hiện nay, các địa hình phù sa cổ hình thành một vòng cung lớn
chạy từ Vũng Tàu đến Hà Tiên. Do đó, miền Đông Nam Bộ thể hiện rõ nét địa hình
bậc thang với hơn 60% diện tích cao hơn mực nước biển 10m, bao gồm vùng cao, đồi
núi thấp và gợn sóng, sông và thềm ven biển (Hà Văn Tấn 1999: 351-352). Hệ thống
sông Đồng Nai và sông Vàm Cỏ có vai trò quan trọng nhất trong khu vực này với
chức năng giao thông và cung cấp nguồn nước. Do các mũi đất và núi nhô xa ra biển
của vùng Bà Rịa - Vũng Tàu, vùng cửa sông Đồng Nai hầu như không mất đi vị thế
cửa ngõ đi vào đất liền của nó trong suốt mấy ngàn năm qua.
Vùng đồng bằng sông Cửu Long (Miền
Tây Nam Bộ) có ba mặt đều là biển, có diện tích 40.000 km2, được hình thành
trong quá trình bồi trũng trước Kainozoi. Và bị lấp đầy dần bởi trầm tích
Kainozoi trong quá trình biển tiến và thoái trào, đặc biệt là trong Holocene.
Vùng này cơ bản là rất bằng phẳng, hình thành cách đây 6-7.000 năm, chỉ có một
số ngọn núi nhô lên, với Núi Cấm (710m) là ngọn cao nhất của nhóm Bảy Núi. Ở
ven biển tỉnh Kiên Giang và sâu hơn trong nội địa tỉnh An Giang, có một số núi
bị cô lập, có thể đến bằng đường thủy hoặc kênh rạch như Hòn Đất, Hòn Chồng
(Kiên Giang) và Ba Thê, Núi Sập, Núi Nhỏ, Núi Bà Chúa Xứ (An Giang). Ngoài ra
còn có các đáy biển nông với một số đảo bao quanh đất liền như Côn Đảo, Hòn
Khoai, Nam Du và Phú Quốc (Phan Huy Lê 2011: 115). Do hệ quả hoạt động của các
dòng sông và tác động của hoạt động thủy triều, hình thành nên những giồng cát
tập trung ở phía đông nam. Do đó, vùng đồng bằng được bồi lấp không đều, tạo
nên bốn khu vực chịu tác động của nước lũ và ảnh hưởng biển khác nhau: đồng lụt
mở (tứ giác Long Xuyên, gồm các tỉnh An Giang, Kiên Giang, Cần Thơ, Hậu Giang);
đồng lụt kín (vùng Đồng Tháp Mười, thuộc các tỉnh Đồng Tháp và Long An); tam
giác châu (chủ yếu là các tỉnh Vĩnh Long, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Trà Vinh, Bến
Tre và Tiền Giang); đồng bồi nâng (thuộc tỉnh Cà Mau) (Trần Kim Thạch 1996:
12-Bản đồ).
Với hàng trăm di tích được phát hiện, đã
có thể nhận thấy những đặc điểm phân bố các di tích có khung niên đại giai đoạn
trước sau Công nguyên như sau:
2.1. Các di tích thời kỳ Tiền - Sơ sử ở miền
Đông Nam Bộ
Hình 2.Các di tích giai đoạn đồ Sắt quanh khu vực tp HCM (Nishimura 2005: Fig. 1)
Ở khu vực này, có các di tích thời kỳ Tiền
sử đậm đặc nhất trên nhiều địa hình khác nhau. Tại các tỉnh Long An, Bình
Dương, Đồng Nai, thành phố Hồ Chí Minh đã phát hiện hàng loạt các di tích thuộc
Văn hóa Đồng Nai (Hà Văn Tấn 1999). Ngoài các di tích trên các bậc thềm đất đỏ
bazan, đã phát hiện nhiều di tích trên các triền sông, gò đất thấp trong vùng đầm
lầy và ven biển. Nhiều di tích có tầng văn hóa dày và phát triển qua nhiều giai
đoạn như An Sơn, Rạch Núi, Cổ Sơn Tự, Gò Ô Chùa (Long An), Dốc Chùa (Bình Dương),
Bình Đa (Đồng Nai). Một số di tích nằm trong vùng đầm lầy có diện tích rất lớn
như Bưng Thơm, Bưng Bạc, Cái Lăng, cho thấy những khu dân cư nông nghiệp rộng lớn.
Dấu tích khảo cổ học cho thấy sự phát triển sôi động của các nhóm dân cư ở khu
vực này vào thiên niên kỷ I trước Công nguyên, có nhiều kinh nghiệm cư trú và
khai thác vùng đầm lầy. Các di tích tiêu biểu
cho nửa đầu thiên niên kỷ I trước Công nguyên là Dốc Chùa, Bưng Bạc. Ngoài ra
có thể kể đến các di tích như Rạch Rừng, Gò Cao Su, Phù Mỹ, Rạch Heo, Bưng
Thơm, Gò Đình.
Từ thế kỷ V trước Công nguyên đến đầu Công
nguyên, có sự bùng nổ của nhiều di tích. Trong đó một số di tích tiếp tục phát
triển từ thời kỳ sớm hơn, có tầng văn hóa dày, di vật phát hiện rất phong phú,
mang tính chất cư trú và xưởng sản xuất. Tiêu biểu là các di tích Dốc Chùa,
Long Bửu, Phú Hòa, Gò Cao Su, An Sơn, Lộc
Giang, Cổ Sơn Tự, Lò Gạch, Gò Ô Chùa và rất nhiều di tích trên các gò nổi trong
vùng Đồng Tháp Mười thuộc tỉnh Long An (Hà Văn Tấn 1999: 351-487; Nishimura
2005; Bùi Chí Hoàng và nnk 2015:113-115). Đáng chú ý là nhiều di tích phát triển
ở ven biển và vùng cửa sông.
Vùng cửa sông quan trọng nhất là khu vực
Long Sơn (Bà Rịa Vũng Tàu)- Cần Giờ (TP Hồ Chí Minh) hiện nay. Ngoài ra có vùng
trũng ven biển Long An, Đồng Nai và Bà Rịa-Vũng Tàu, nơi tiếp nhận các nhánh
thuộc hệ thống sông Đồng Nai đổ ra biển như sông Sài Gòn, sông Bé, sông La Ngà
và sông Vàm Cỏ. Do đó, cửa sông Đồng Nai đóng vai trò là cửa ngõ tiếp cận các cộng
đồng dân cư nội địa và thượng nguồn ở Đông Nam Bộ. Vùng này hiện nay rất thấp
và chủ yếu là đầm lầy ngập mặn. Tuy nhiên, vào thế kỷ V trước Công nguyên, khi
mực nước biển ở mức -1m so với hiện nay, đây là một khu vực thuận lợi để các
nhóm cư dân cổ sinh sống và tiếp xúc với những khu dân cư khác thông qua các mạng
lưới hàng hải đã trở nên sôi động ở Đông Nam Á. Tại huyện Cần Giờ hàng trăm gò
cao từ 1 đến 3m phân bố dọc theo các tuyến đường thủy nhỏ trong vùng đầm lầy ngập
mặn. Cho đến nay, các di tích khảo cổ học đã được phát hiện trên 26 gò đất, phần
lớn là đất đỏ và một số là đất cát. Việc khai quật được tiến hành ở các gò Khu
Bao Đồng, Giồng Cá Vồ, Giồng Phệt, Giồng Cá Trăng và Giồng Am. Trong đó, Giồng
Cá Vồ (GCV) và Giồng Phệt cung cấp những dữ liệu quan trọng nhất về các khu định
cư, phong tục chôn cất, hoạt động kinh tế và các mối quan hệ hàng hải từ thế kỷ
V đến thế kỷ I trước Công nguyên (Đặng Văn Thắng và Vũ Quốc Hiền 1995; Đặng Văn
Thắng và nnk 1998; Nguyễn Kim Dung 1993).
Trên bờ đối diện của Vịnh Gành Rái, một số
di chỉ khảo cổ học đã được phát hiện trên đảo Long Sơn và bờ biển đầm lầy ngập
mặn của thành phố Vũng Tàu, có niên đại từ những thế kỷ cuối trước Công nguyên
đến thế kỷ III - IV Công nguyên. Trong số này, di chỉ Giồng Lớn được khai quật
vào các năm 2003 và 2005 với 80 mộ được phát hiện, trong đó mộ đất chiếm đa số.
Hai mẫu 14C cho niên đại 2220 ± 70 năm và 2680 ± 70 năm cách ngày
nay. Dựa vào đặc điểm của các mộ táng, di vật và tiền đồng Ngũ Thù Tây Hán,
niên đại chung của khu mộ được dự đoán vào khoảng 2000 năm cách ngày nay (Vũ Quốc
Hiền và cộng sự 2006: 40, 2007; Bùi Chí Hoàng và cộng sự 2012: 93). Tư liệu
cũng dẫn đến ý kiến khung niên đại có thể gồm nhiều thời kỳ cư trú (Trương Đắc
Chiến 2018: 34) .
Các di chỉ khảo cổ học ở Cần Giờ và đảo
Long Sơn cho thấy mật độ dân cư trong các thế kỷ trước Công nguyên đến đầu thời
kỳ Óc Eo rất cao, căn cứ vào mật độ mộ táng (Le Thi Lien et al. 2018: 165). Có
thể nhận thấy mối liên hệ giữa cư dân vùng cửa biển với hàng loạt các di tích
ven các nhánh của hệ thống sông Vàm Cỏ, vào sâu trong vùng Đồng Tháp Mười qua sự
tương đồng giữa nhiều loại hình gốm, được thấy ở Gò Ô Chùa, Gò Hàng và lớp sớm
của Gò Tháp. Ngay tại Gò Tháp, những kết quả 14C sớm nhất và dấu
tích của một số loại hình gốm thô pha cát cho thấy có khả năng đã có những người
đến định cư ở đây vào nửa cuối thiên niên kỷ I trước Công nguyên (Nishimura
2005; Vu Quốc Hiền và nnk 2007; Đào Linh Côn 2011; Lê Thị Liên và nnk 2013a).
2.2. Các di tích thời kỳ Tiền - Sơ sử ở miền Tây
Nam Bộ
Rất ít di tích sớm ở miền Tây Nam Bộ được
phát hiện. Di tích được khai quật nhiều lần nhất là Gò Cây Tung. Bên dưới một
móng kiến trúc thuộc thời kỳ Óc Eo, đã phát hiện một lớp văn hóa tiền sử dày, với
số lượng lớn mảnh gốm, đồ đá và đặc biệt là các mảnh nồi nấu kim loại. Chúng
còn được phát hiện trên mặt đất trong một phạm vi rộng dưới chân gò. Hai niên đại
14C (2750±220BP; 2870±60BP) cho thấy di tích phát triển trong thiên
niên kỷ I trước Công nguyên (Nishimura 2005: 110). Dấu tích của sự chiếm cư của
cư dân vào cuối thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên cũng được tìm thấy ở một
số địa điểm vùng chân núi và đồi thấp giáp giới Campuchia về phía tây bắc miền
Tây Nam Bộ. Hầu như những loại hình di vật xa xỉ hay ngoại nhập thuộc thời kỳ
Óc Eo chưa được phát hiện ở đây.
Các di vật đá cũng được phát hiện rải rác
trên một số ngọn núi độc lập trên đồng bằng (Ba Thê, Núi Sập). Gần đây cũng đã
phát hiện các loại hình hiện vật khác, chủ yếu là đồ gốm. Bờ biển Tây Nam Bộ từ
Hà Tiên đến Rạch Giá rải rác những gò đất nhỏ lẻ loi và dải đất trũng hẹp chia
cắt đồng bằng tứ giác Long Xuyên với vịnh Thái Lan. Mặc dù chưa có các cuộc khảo
sát hệ thống trong khu vực này, một số di tích khảo cổ có niên đại từ thời tiền
sử và sơ sử được tìm thấy. Ở chân núi Hòn Đất, một số mảnh gốm pha cát thô màu
nâu đã được tìm thấy trong đất cát mịn. Từ Núi Mò So và ấp Trà Săn (huyện Kiên
Lương) cách núi Hòn Đất khoảng 33km và 40km về phía đông bắc, 2 rìu đá được
phát hiện ngẫu nhiên, về loại hình có thể so sánh với công cụ đá Trung kỳ và Hậu
kỳ Đá Mới (6000-7000 BP và 4000-5000 BP) (Phan Thanh Toàn 2013). Những cuộc khảo
sát sâu rộng sẽ giúp hiểu rõ hơn về quá trình chiếm cư của người tiền sử ở đây.
Ở chân phía tây núi Soa Ảo (thị xã Hà Tiên), người ta đã phát hiện được hài cốt
người cổ ở độ sâu 2m (0,5m trên mực nước biển). Ngoài ra có dấu tích cọc gỗ nhà
sàn, mảnh thuyền gỗ và nhiều mảnh gốm (130 mẫu được thu thập qua điều tra năm
2013 và 2015) cùng với đá mài, cuội tự nhiên và đinh sắt (Phan Thanh Toàn 2013:
28-33). Đồ gốm mịn bao gồm đồ gốm màu cam và đen với áo màu trắng hoặc hơi đen.
Các loại gốm pha cát thô và mịn với bã thực vật cũng thường được sử dụng. Về loại
hình, chúng chủ yếu là đồ dùng sinh hoạt như nồi, lọ, bình, bát chân cao và bếp
lò (cà ràng). Đồ gốm Soa Ảo gần gũi với đồ gốm phát hiện từ các di chỉ tiền Óc
Eo ở tỉnh Kiên Giang, đặc biệt là K9 và Giồng Xoài.
Di tích tiền sử được khai quật trên vùng đồng
bằng đáng chú ý nhất là Giồng Nổi (Bến Tre). Với tầng văn hóa mỏng (chỉ khoảng
39-45cm), các loại hình di vật ở đây rất phong phú, nhất là công cụ đá và đồ gốm.
Mặc dù còn tranh luận, một số ý kiến cho rằng di tích có hai giai đoạn. Giai đoạn
sớm khoảng 3500-3000 năm cách ngày nay và có mối liên hệ gần gũi với di tích An
Sơn, Rạch Núi (Long An), Dinh Ông (Tây Ninh), Cù Lao Rùa, Mỹ Lộc (Bình Dương),
giai đoạn sớm của di tích Núi Đất Lớn (khu Cần Giờ). Giai đoạn muộn có thể kéo
dài đến khoảng thế kỷ III-II trước Công nguyên với sự có mặt loại hình bình gốm,
vò, hạt chuỗi gốm, chai gốm... gần gũi với các di tích Giồng Cá Vồ, Giồng Phệt,
Gò Cây Tung và các loại hình đặc trưng như nồi nấu kim loại, nắp gốm mang yếu tố
giai đoạn tiền Óc Eo (Nguyễn Hoàng Bách Linh, Lê Hoàng Phong 2019).
K9 được cho là hình thành vào thế kỷ III-I
trước Công nguyên, trên những gò đất thấp cao hơn mặt ruộng 0,4-0,7m, xen giữa
những vùng đất ẩm thấp. Dấu tích cọc gỗ nhà sàn và nhiều loại hình di vật được
phát hiện, bao gồm đồ đất nung, gốm, trang sức bằng mã não, carnelian, thủy
tinh, thiếc và chì và công cụ lao động (Nguyễn Quốc Mạnh 2006).
Giồng
Xoài là một cồn cát nằm cách núi Ba Thê 1.000m về phía nam. Trong cuộc khai quật
năm 2001, đã phát hiện dấu tích của một khu định cư, chủ yếu là đồ gốm, phân bố
trong khu vực rộng 4.000m2 về phía nam của gò. Trong số 2.100 mảnh gốm,
có 830 mảnh gốm thô pha cát thể hiện những nét tương đồng với các di chỉ thời kỳ
đồ Đồng và đồ Sắt ở các tỉnh Đồng Nai và Bình Dương. Hơn 1.200 mảnh gốm mịn đại
diện cho các loại hình gốm sớm của văn hóa Óc Eo. Một mẫu than ở độ sâu
0,80-0,85cm có niên đại 14C là 2150 ± 90 năm cách ngày nay. Ở giai đoạn
muộn hơn - thời kỳ Óc Eo, có mặt một kiến trúc bằng gạch và đá ở giữa gò -
GX02-KT1. Đã phát hiện100 hiện vật trong
phần trung tâm, thể hiện tính chất một bộ thánh tích, bao gồm các mảng vàng,
chuỗi hạt và mảnh thủy tinh (Đào Linh Côn và Nguyễn Mỹ Hồng 2004: 283-292). Kết
quả khai quật và các tác phẩm điêu khắc khác nhau được tìm thấy từ địa điểm này
cho thấy nó đã phát triển liên tục trong thiên niên kỷ thứ nhất sau Công nguyên
(Lê Thị Liên 2006a: Hình 14, 156,157).
Địa tầng và dữ liệu 14C của các
gò Cây Thị, gò Tư Trâm, gò Óc Eo v.v. trên cánh đồng Óc Eo cho thấy sự phát triển
liên tục trong các thế kỷ cuối trước Công nguyên và đầu Công nguyên (Mission
Archéologie du Delta du Mekóng 2002: Tab. 1, 3; Manguin 2004: Fig. 12.13;
Hirano 2005: Fig. 2.4).
Hình 3.Hình thái đồng bằng sông Cửu Long tương ứng với các giai đoạn phát triển văn hóa (Nguyễn Quốc Mạnh, dựa trên bản đồ của Thị Kim Oanh Ta et al 2002: Fig. 4)
Sự phân bố và tính chất của các di tích tiền
sử cho thấy đến nửa cuối thiên niên kỷ I trước Công nguyên, nhiều trung tâm trù
phú đã phát triển trên các dạng địa hình vùng miền Đông Nam Bộ và cư dân từ đây
đã tiến xuống chiếm lĩnh vùng đồng bằng mới hình thành ở miền Tây Nam Bộ. Phần
lớn họ cư trú trên các vùng đất gò, giồng ven sông và gò trong đồng. Mật độ cư
dân tập trung ở vùng cửa sông, dễ nhận thấy nhất là vùng cửa sông Đồng Nai. Mực
nước biển hạ thấp vào giữa thiên niên kỷ I trước Công nguyên xuống -1m có thể
đã mở ra thêm những vùng đất thấp màu mỡ phù hợp cho việc phát triển cây lúa ở
các khu vực ven hệ thống sông Vàm Cỏ, Đồng Nai, Sông Bé và vùng đồng bằng ven
biển Đông Nam Bộ, vùng chân núi và ven biển phía tây của Tây Nam Bộ. Cùng theo
đó là sự phát triển của các nghề thủ công và hoạt động trao đổi hàng hóa trong
vùng và với thế giới bên ngoài. Cần Giờ vào thời kỳ này đóng vai trò trung tâm
giao thương và trung gian quan trọng nhất, nối kết mạng lưới thương mại nội địa
với bên ngoài. Đây cũng là thời kỳ manh nha cho việc chiếm cư các vùng giồng,
gò cao ở đồng bằng Tây Nam Bộ, chuẩn bị cơ sở cho sự phát triển các trung tâm
dân cư và đô thị vào những thế kỷ tiếp theo.
2.2. Sự bùng nổ các
di tích thuộc văn hóa Óc Eo trong nửa đầu thiên niên kỷ I
Bước sang đầu Công lịch, các di chỉ trên
các gò, ven các hệ thống sông và ven biển vùng đông Nam Bộ (ví dụ: lớp trên của
Gò Ô Chùa, Cổ Sơn Tự, Lộc Giang) tiếp tục phát triển. Cũng ở miền Đông Nam Bộ,
đã xuất hiện những kiến trúc gạch được coi là sớm nhất trên các gò đất thuộc tỉnh
Đồng Nai (Gò Ông Tùng, Chiêu Liêu, Cây Gáo I, Cây Gáo II… (Nguyễn Văn Long
1977). Các điêu khắc đá lớn và di tích kiến trúc, là đối tượng được phát hiện
và nghiên cứu nhiều nhất, có mặt dọc theo hệ thống sông Vàm Cỏ Đông trên vùng đất
thuộc tỉnh Long An và Tây Ninh (Chùa Linh Nguyên, Chùa Thiên Mụ, Rạch Núi, Gò
Cao Su, Bàu Sình, Trâm Quỳ, Gò Sao, Gò Đồn, Gò Phật, Cổ Lâm Tự, Gò Vườn Dầu, cụm
di tích Thanh Điền, cụm di tích Phước Chỉ v.v.) (Lê Thị Liên 2006: Bản đồ I,
II). Hơn 20 gò và cụm gò được phát hiện trong vùng trũng Đồng Tháp Mười của tỉnh
Long An. Các dấu tích nền, móng hoặc gạch vỡ lẻ tẻ, cùng với sự có mặt của tầng
văn hóa chứa gốm, hạt chuỗi bằng đá quý và thủy tinh, đồ trang sức bằng vàng,
chì, thiếc, đồng tiền v.v. và các điêu khắc đá trên nhiều gò (Gò Hàng, Gò Dung,
Gò Đế, Gò Bảy Liếp vv.) cho thấy khu vực này rất phát triển trong nửa đầu thiên
niên kỷ I Công nguyên (Bùi Phát Diệm và nnk 2001: 97-115). Lịch sử phát triển của
di tích Gò Tháp (thuộc tỉnh Đồng Tháp), có thể coi là một trung tâm quan trọng
nhất của vùng Đồng Tháp Mười (Lê Thị Liên 2005, 2006, Lê Thị Liên và nnk 2014).
Ở vùng ven biển, mặc dù chưa được nghiên cứu nhiều, với các dấu hiệu từ Giồng
Am và hàng chục gò khác trong khu vực Cần Giờ, cho thấy một sự phát triển được
coi là mang tính chất địa phương của văn hóa Óc Eo vào giai đoạn nửa đầu thiên
niên kỷ I Công nguyên (Đặng Văn Thắng và nnk 1998: 222-240). Ngay trong nội đô
thành phố Hồ Chí Minh, dấu tích kiến trúc và các điêu khắc đất nung xuất lộ ở
chùa Phụng Sơn gợi ý đây là khu vực rất phát triển vào giai đoạn này, có thể có
vai trò cửa ngõ, mở vào nội địa qua hệ thống sông Đồng Nai và sông Vàm Cỏ. Dấu
vết của các xưởng thủ công sản xuất đồ gốm, dệt, hạt chuỗi thủy tinh và đá,
điêu khắc đá, gỗ đã được khai quật từ một số địa điểm như Gò Hàng, Gò Tháp, Giồng
Am… cho thấy hệ thống sông Vàm Cỏ đóng vai trò quan trọng nối cửa biển Cần Giờ
với vùng Đồng Tháp Mười. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nông nghiệp trồng
lúa, sản phẩm của các xưởng thủ công có thể không chỉ để sử dụng tại địa phương
mà còn để trao đổi thực phẩm và đặc sản cho xuất khẩu. Chúng là nền tảng kinh tế
và xã hội cơ bản cho sự phát triển của các khu định cư lớn và các thành phố cảng.
Sự có mặt của các di tích thuộc văn hóa Óc
Eo ở miền Tây Nam Bộ được biết đến rõ ràng hơn nhờ các cuộc khảo sát và khai quật
được tổ chức có quy mô lớn.
Hình 4. Một số di tích trọng điểm giai đoạn Tiền Óc Eo ( ) và Óc Eo ( ) (Nguồn: Nguyễn Quốc Mạnh) Hình 4.Một số di tích trọng điểm giai đoạn Tiền Óc Eo ( ) và Óc Eo( )
Hình 9 cho thấy sự có mặt của cư dân trên
toàn bộ vùng đồng bằng. Qua những cuộc khảo sát của chúng tôi (1994, 1998,
1999, 2001, 2011, 2014), có thể thấy, giống như Óc Eo, hầu hết các khu di tích
đều có đặc điểm chung là có tầng văn hóa phân bố trên một vùng rất rộng. Trung
tâm di tích thường là nơi xuất lộ các phế tích kiến trúc như ở Thành Mới (Vĩnh
Long), Gò Thành (Tiền Giang), Nền Chùa, Đá Nổi (Kiên Giang), Đá Nổi (An Giang),
Nhơn Thành (Cần Thơ), Lò Gạch (Trà Vinh), Vĩnh Hưng (Minh Hải), Tráp Đá (An Giang)
v.v. Tầng văn hóa chứa gốm phát triển rộng trên những cánh đồng xung quanh. Ở một
số địa điểm, các phế tích kiến trúc được xây vào nhiều thời kỳ khác nhau (Gò
Thành, Tiền Giang) hoặc chồng lên tầng văn hóa bên dưới (Thành Mới, Vĩnh Long).
Có thể nhận thấy sự biến mất của các kiến trúc và điêu khắc dưới vùng đồng bằng
vào cuối thiên niên kỷ I (Lê Thị Liên 2006: Bản đồ I, II). Tầng văn hóa chứa gốm
ở các vùng thấp cũng cho thấy, chúng không tiếp tục vào giai đoạn sau (từ thế kỷ
VIII trở đi), rõ rệt nhất là tại di tích Nhơn Thành, di tích Gò Hàng và các
cánh đồng bên ngoài khu di tích Gò Tháp, đại diện cho các tiểu vùng địa lý khác
nhau. Ngay quanh khu vực tháp Vĩnh Hưng, dấu tích văn hóa dưới các khu ruộng
lúa xung quanh chỉ thể hiện các đặc điểm của thời kỳ Óc Eo.
3. Lịch sử hình thành và biến mất của hệ thống
kênh đào
Kết quả nghiên cứu hệ thống kênh rạch cho
thấy vào thời kỳ đầu Công nguyên, các kênh đào không sâu lắm nhưng khá rộng đã
được xây dựng ở vùng hạ lưu đồng bằng sông Mekong. Chúng được sử dụng để vận
chuyển hàng hóa địa phương (Bishop et al. 2003). Trong vài thế kỷ tiếp theo,
các kênh đào quy mô lớn đã được đào ở Óc Eo, kết nối với tất cả các kênh và đường
thủy tự nhiên của địa phương. Malleret đã xác nhận hệ thống gồm ít nhất 27 kênh
đào ở hạ lưu sông Mekong, trong đó có 19 kênh ở Nam Bộ. Các dấu vết có thể nhìn
thấy từ các bức ảnh đã được ghi lại (Stevens et al., 2004: Hình 1, 6), đại diện
cho mạng lưới đường dẫn nước kết nối các khu vực khác nhau và cả những cánh đồng
lúa. Các nghiên cứu địa-cổ sinh-môi trường chứng minh rằng kênh Lung Lớn nối
Angkor Borei-Óc Eo đã được đào đến độ sâu ban đầu là 246cm vào đầu thế kỷ II
Công nguyên. Phân tích cổ sinh vật học cho thấy kênh được nối với biển và nước
mặn có thể đã xâm nhập vào khu vực Óc Eo. Kênh đào có thể đã bị lấp và việc lưu
thông với vịnh Rạch Giá đã dừng lại vào khoảng cuối thế kỷ VI Công nguyên (Lê
Xuân Thuyên 2005: 81, Hình 3b).
Kết quả khai quật gần đây nhất ở trung tâm
đô thị Óc Eo chứng minh kênh Lung Lớn rộng khoảng 30-35m, sâu 1,5-2,0m, hoạt động
sôi động trong khoảng thế kỷ II-V và bị bỏ hoang sau đó (Lê Hoàng Phong, Lâm
Kiêm Lợi 2019). Bên cạnh đó, các phương pháp nghiên cứu kết hợp sử dụng bản đồ
cổ, bản đồ GIS và viễn thám đã làm rõ các hệ thống kênh đào mà người Pháp đã
phát hiện. Đặc biệt, các điểm tụ kênh cho thấy ngoài các chức năng giao thông,
tưới tiêu, còn có thể mang ý nghĩa tôn giáo. Việc khoan địa chất kết hợp với ảnh
viễn thám cũng góp phần xác định quy mô của hào và thành cổ Óc Eo (Nguyễn Quang
Bắc 2019: 297, 299, H.17, 31, 32). Trên cơ sở xác định các dấu tích hào, thành
và hệ thống kênh rạch liên quan, Nguyễn Quang Bắc và đồng nghiệp đã xác định
thêm những khu dân cư mới, bên cạnh 11 khu được Malleret xác định. Nếu mở rộng
ra toàn bộ các tỉnh Nam Bộ, có thể đã có hàng trăm khu dân cư phát triển trù
phú trên đồng bằng trong nửa đầu thiên niên kỷ I Công nguyên.
Hình
5. Hệ thống kênh cổ, đô thị cổ của L. Malleret, các kênh mới phát hiện,
với các điểm tụ kênh (xanh lá cây) trên nền ảnh
vệ tinh (Nguyễn Quang Bắc và nnk 2019: Hình 17)
4. Bức tranh giai đoạn trước sau Công nguyên
và tác động của môi trường tự nhiên
Từ các kết quả nghiên cứu đa ngành nói
trên, hãy đối chiếu với kết quả nghiên cứu khảo cổ học ở một số địa điểm tiêu
biểu vào thời kỳ hình thành văn hóa Óc Eo để tìm hiểu những điều kiện và cơ hội
giúp chúng phát triển.
Từ
thiên niên kỷ I trước Công nguyên, việc khai thác nông nghiệp trên diện rộng đã
tạo nên những vùng dân cư trù phú cả trên các bậc thềm cao, ven rìa các chân
núi thấp và các hệ thống sông. Các di tích này tập trung nhất ở vùng miền Đông
Nam Bộ và rải rác trên những vùng ven chân núi, giồng gò cổ ở miền Tây Nam Bộ.
Bên cạnh nông nghiệp, một số ngành thủ công đã rất phát triển.
Hình 6. Một số loại hình gốm từ Giồng Lớn và K9 có các yếu tố chung với nhiều di tích Óc Eo sớm ở miền Đông và miền Tây Nam Bộ (Nguồn: Nguyễn Quốc Mạnh) Hình 6. Một số loại hình gốm từ Giồng Lớn và K9 có các yếu tố chung với nhiều di tích Óc Eo sớm ở miền Đông và miền Tây Nam Bộ
Nghề gốm hầu như được sản xuất trong mỗi
khu dân cư cho nhu cầu tại chỗ. Tuy nhiên, một số địa điểm đã phát triển các loại
hình mang tính chất hàng hóa số lượng lớn để trao đổi (Gò Ô Chùa, Giồng Cây
Keo, Giồng Am…). Sự tương đồng về loại hình của một số loại gốm, đặc biệt là
bát/mâm bồng chân cao của nhiều địa điểm ở miền Đông và miền Tây Nam Bộ cho thấy
xu thế giao lưu trao đổi và cả xu thế dịch chuyển dân cư trong nội vùng và có
thể cả từ vùng xa hơn (Le Thi Lien et al. 2018: 165).
Nghề đúc đồng và nghề dệt rất phát triển,
với chứng cứ là sự có mặt với số lượng lớn của khuôn đúc đồng (Dốc Chùa, Bưng Bạc,
Phú Mỹ, Bưng Thơm, Suối Chồn, Gò Cao Su, Gò Ô Chùa, Gò Cao Su, Phú Chánh), dọi
xe chỉ và dụng cụ dệt ở một số di tích (Dốc Chùa, Phú Chánh) (Nishimura 2002:
Fig. 29). Trống đồng và sự có mặt của kiểu rìu xòe cân ở nhiều địa điểm cho thấy
mối tiếp xúc và liên hệ khá gần gũi với các nhóm cư dân văn hóa Đông Sơn và văn
hóa Sa huỳnh ở miền Bắc và miền Trung Việt Nam (Hà Văn Tấn 1999: Bv. 10, 22-7).
Đến những thế kỷ cuối trước Công nguyên, sự tiếp xúc và giao lưu với các vùng
xa ngày càng phong phú qua sự có mặt của các đồ trang sức bằng đá nephrit, mã
não, carnelian. Trong đó, khuyên tai hai đầu thú và khuyên tai ba mấu được cho
là những dấu ấn của văn hóa Sa Huỳnh. Thậm chí khu vực ven biển vùng Cần Giờ được
một số nhà nghiên cứu cho là thuộc không gian văn hóa Sa Huỳnh, hay là vùng chiếm
cư của những người từ miền Bắc và miền Trung Việt Nam di cư tới. Hiện vật kiểu
mặt nạ bằng vàng ở vùng ven biển (Giồng Lớn), sâu trong nội địa (Phú Chánh) và
sự giàu có, phong phú của đồ trang sức hay hiện vật mang tính biểu tượng của quyền
lực và tôn giáo chứng tỏ vùng Cần Giờ đã là cảng biển quốc tế vào những thế kỷ
trước và sau Công Nguyên.
Hình 7. Mặt nạ (vàng hoặc đồng), di tích Phú Chánh (Nguồn: Lê Thị Liên)
Cảng biển Cần Giờ phát triển nhộn nhịp,
trước hết nhờ nền tảng kinh tế nông nghiệp và thủ công nghiệp phát triển. Mực
nước biển hạ thấp vào giữa thiên niên kỷ I trước Công nguyên làm cho cả một
vùng đồng bằng ven biển miền Đông Nam Bộ và một phần vùng Đồng Tháp Mười có thể
trồng trọt, chăn nuôi và giao thông qua hệ thống sông Vàm Cỏ, tới vùng Gò Hàng
và Gò Tháp1. Đây cũng là thời kỳ phát triển các di tích trên vùng đồng
bằng cửa sông ven biển miền Trung và miền Bắc Việt Nam, nơi có các loại hình di
vật chỉ dẫn cho mối liên hệ với con đường thương mại trên biển như Việt Khê (vùng
đồng bằng sông Hồng), Lai Nghi, Gò Cấm, Hòa Diêm (vùng đồng bằng sông Thu Bồn).
Vào thời kỳ này, miền tây Nam Bộ mới được
chiếm cư và khai thác lác đác ở một số vùng gò, giồng mà dấu tích mới được thấy
ở Giồng Nổi, trên các đồi núi sót, đồi đất thấp và ven rìa các ngọn núi vùng Bảy
Núi, chủ yếu thuộc tỉnh An Giang. Gò Cây Tung có lẽ đã đóng vai trò rất quan trọng
trong việc cung cấp nguyên liệu kim loại. Tuy nhiên, việc khai quật và nghiên cứu
chưa đủ để nhận thức rõ ràng như ở Nam Thái Lan (Bellina et al. 2019). Những lớp
cư dân tiền sử đầu tiên trụ lại ở vùng này, đặc biệt là trên sườn núi Ba Thê,
đã đặt nền móng sớm nhất cho sự hình thành các khu dân cư. Vào nửa đầu thiên
niên kỷ I sau Công nguyên, khi đồng bằng phù sa mới có diện mạo gần như ngày
nay, hàng loạt di tích trên khắp vùng cho thấy một bước phát triển vượt bậc ở
tính chất phong phú, đa dạng hóa nhưng rất thống nhất của nền văn hóa Óc Eo, phản
ánh các khía cạnh văn minh vật chất của vương quốc Phù Nam, với các đặc điểm
chung như sau:
Các khu dân cư hình thành dưới dạng các
trung tâm, nối kết với nhau bằng hệ thống kênh rạch được tổ chức rất chặt chẽ.
Malleret đã xác định có ít nhất 11 khu dân cư. Các nghiên cứu gần đây đã xác định
thêm nhiều khu mới trong vùng Tứ giác Long Xuyên. Ở các vùng khác, dù mới khảo
sát, đã có thể thấy mức độ dày đặc của các di tích. Một số khu dân cư điển hình
như Nền Chùa, Đá Nổi (An Giang), Cạnh Đền, Đá Nổi (Kiên Giang), Nhơn Thành (Cần
Thơ), Gò Tháp (Đồng Tháp), Gò Thành (Tiền Giang), Thành Mới (Vĩnh Long), cho thấy
một quy luật khá phổ biến: Các di tích đền thờ (Phật giáo, Hindu giáo hoặc cả
hai) thường được xây dựng trên các gò cao hoặc trên nền đất được đắp lên trên tầng
văn hóa sớm hơn. Khu dân cư trải rộng xung quanh, đặc biệt đậm đặc ven các kênh
rạch, với dấu tích cọc nhà sàn, tầng văn hóa chứa đầy gốm, than tro và các di tồn
khác. Cư trú trên nhà sàn là hình thức phổ biến nhất. Mật độ trấu trong tầng
văn hóa, sử dụng phổ biến vỏ trấu trong gạch, gốm với tỷ lệ khác nhau và khối
lượng lớn các loại xương răng động vật trong các di tích xác nhận nông nghiệp
trồng lúa và chăn nuôi rất phát triển.
Trong
mỗi khu dân cư hầu như đều phát triển một hoặc một số nghề thủ công, quy mô lớn
nhỏ khác nhau tùy theo vị trí và vai trò. Nghề gốm là phổ biến nhất. Các dòng sản
phẩm gốm truyền thống (chủ yếu là gốm thô) được kế thừa và phát triển, qua việc
tiếp nối một số loại hình chum, vò, nồi, cà ràng. Tuy nhiên, thành phần và tỷ lệ
phụ gia có khác biệt lớn. Lượng vỏ trấu cho các đồ đựng cỡ lớn, thành gốm dày,
dường như là một biểu hiện của cư dân nông nghiệp, khác với nhóm cư dân ven biển,
sử dụng chủ yếu là gốm thô pha cát trước đó. Một số loại hình và trang trí trên
gốm thời tiền sơ sử dần biến mất. Thay vào đó là sự phát triển những loại hình
gốm mới, đặc biệt là gốm mịn, dùng trên bàn hay trong nghi lễ. Các mẫu vật hoặc
mảnh vỡ ngoại nhập phát hiện ở một số di chỉ thời kỳ Tiền Óc Eo và Óc Eo sớm, đặc
biệt là ở Óc Eo cho thấy chúng đã góp phần vào việc hình thành nhiều loại hình
gốm điển hình có mặt ở tất cả các di tích của văn hóa Óc Eo như bình có vòi
(kendi), bình có vòi vẩy (kundika), cốc chân cao, nắp đậy hình tháp, nắp đậy có
móc v.v.
Hình 8. Một số loại gốm điển hình của văn hóa Óc Eo phát
hiện từ a, c-Óc Eo, b- Gò Tháp (Nguồn ảnh: Lê Thị Liên; Nguồn bản vẽ:
Đăng Cường)
Nghề sản xuất đồ trang sức bằng thủy tinh,
kim loại (chì, thiếc, vàng, bạc) và các sản phẩm phục vụ cho nghi lễ tôn giáo
và táng tục rất phát triển. Nhiều di tích cho thấy sự có mặt của nghề này. Tuy
nhiên, chúng dường như tập trung hơn ở một số trung tâm, như Óc Eo (An Giang),
Nhơn Thành (Cần Thơ), Nền Chùa, Cạnh Đền (Kiên Giang), Gò Tháp (Đồng Tháp).
Nhơn Thành là di tích đáng chú ý nhất bởi ở đây xuất lộ dấu tích sớm nhất của
nghề điêu khắc đá và đúc đồ trang sức bằng kim loại. Hàng chục tấm khuôn hai
mang được phát hiện, có chiếc có tới 15 hình đúc khác nhau, cho thấy sản phẩm rất
phong phú và lớn về số lượng (Le Thi Lien 2011). Nghề điêu khắc đá và gỗ là một
bước phát triển mới của văn hóa Óc Eo, dấu tích rõ rệt nhất được thấy ở Gò Tháp,
Nhơn Thành và Giồng Xoài. Nghề điêu khắc tượng Phật bằng gỗ tạo ra số lượng lớn
các điêu khắc tiêu biểu cho đặc điểm riêng của nghệ thuật Óc Eo.
Ảnh hưởng văn hóa từ bên ngoài, đặc biệt
là từ Ấn Độ, tạo nên một diện mạo đặc sắc của văn hóa Óc Eo đã được giới nghiên
cứu thừa nhận. Tuy nhiên, các dấu tích khảo cổ học phản ánh các giai đoạn tiếp
nhận và phát triển các yếu tố văn hóa rất khác nhau ở các di tích, do lịch sử
hình thành và phát triển, cũng như chức năng của chúng qua từng thời kỳ không
giống nhau. Vào một vài thế kỷ sau Công nguyên, những dấu ấn văn hóa từ bên
ngoài được thấy rõ rệt nhất ở Óc Eo và Gò Tháp. Các con dấu niêm hàng có chữ viết
và biểu tượng sớm thời kỳ Kushana-Gupta, đầu tượng Phật phong cách Gandhara, những
viên ngói sớm nhất kiểu Ấn Độ, gương đồng Trung Hoa v.v. được phát hiện ở Óc Eo
và trên sườn núi Ba Thê. Di tích Gò Tháp xuất lộ những mảnh vàng có biểu tượng
và chữ viết ảnh hưởng thời kỳ Kushana và Sattavahana và các biểu tượng Hindu
giáo rất sơ khai cho thấy ảnh hưởng từ văn hóa Ấn Độ đã tới khu vực Gò Tháp vào
nhiều thời kỳ, sớm nhất từ sau thế kỷ V trước Công nguyên đến trước thế kỷ V.
Trong khi đó, các di tích hình thành muộn hơn trên đồng bằng miền tây Nam Bộ
cũng đồng thời tiếp nhận những ảnh hưởng từ bên ngoài muộn hơn, chủ yếu trong
giai đoạn thế kỷ IV-IV ở các di tích Nền Chùa, Đá Nổi, Cạnh Đền.
Hình 9. Chữ viết và biểu tượng tôn giáo phát hiện từ Gò Tháp (Nguồn: Bản vẽ: Đăng Cường; Ảnh: Lê Thị Liên)
5. Thảo luận và kết luận
Hầu hết các nhà nghiên cứu đều cho rằng Óc
Eo là một trung tâm thương mại có tính chất quốc tế đáng chú ý nhất trong khu vực
Đông Nam Á, “nơi đã chứng kiến những ảnh hưởng từ Nam Á, Trung Á và La Mã”
(Manguin 2009). Vậy nó đóng vai trò từ khi nào và có phải là trung tâm duy nhất
trong thời kỳ văn hóa Óc Eo phát triển hay thời kỳ thịnh vượng của vương quốc
Phù Nam?
Khi phân tích chi tiết sự hình thành các
trung tâm thương mại, dựa vào sự có mặt của các loại di vật nhập khẩu hoặc mức
độ tập trung của các loại hàng hóa, từ đó đã có thể nhận định rằng khu vực Cần
Giờ là một trong những cảng biển sớm ở Nam Việt Nam hình thành vào những thế kỷ
cuối trước Công nguyên. Khu cảng thị này đã tiếp nhận các đầu mối giao thương từ
miền Bắc (văn hóa Đông Sơn và xa hơn là văn hóa Hán), từ miền Trung (văn hóa Sa
Huỳnh), từ các vùng hải đảo Đông Nam Á (những yếu tố của Kalanay, vùng
Indonexia) và xa hơn, từ Ấn Độ và Trung Á. Chính từ khu vực này, các ảnh hưởng
văn hóa đã lan tỏa sâu vào nội địa, bao gồm cả vùng đồng bằng lụt kín Đồng Tháp
Mười (Trương Đắc Chiến 2018; Le Thi Lien et al. 2018).
Hình 10. Các loại hạt chuỗi thủy tinh và đá: a- Giồng Cá Vồ, b- Gò Hàng, c- Gò Tháp (Nguồn: a- Nguyễn Kim Dung; b, c- Lê Thị Liên)Trong khi đó, sự bồi lấp đầy và mở rộng của đồng bằng đã dẫn tới trào lưu tiến xuống mở rộng đất canh tác của các nhóm cư dân, khiến miền Tây Nam Bộ trở nên trù phú. Từ một điểm kết nối nhỏ lẻ trong mạng lưới giao thương nội vùng và tiếp xúc đơn giản với thế giới bên ngoài, từ đầu Công Nguyên vùng Ba Thê - Óc Eo đã phát triển thành một tâm điểm thu hút các cộng đồng cư dân nông nghiệp, thợ thủ công và thương nhân. Trong đó, có thể có cả những thương nhân và thợ thủ công từ xa tới, bao gồm người Ấn. Với những tín ngưỡng ngoại lai đã manh nha được thực hành trong các cộng đồng dân cư trước đó, Hindu giáo và Phật giáo đã được thực hành ở đây từ rất sớm. Việc lựa chọn Ba Thê như một biểu tượng tôn giáo có lẽ đã diễn ra khi những thương nhân Ấn Độ đầu tiên đến định cư và tiếp tục xây dựng các kiến trúc tôn giáo.
Ba Thê-Óc Eo trở nên giàu có từ khoảng thế
kỷ II. Đó là nguyên nhân để nơi đây trở thành một trung tâm chính trị, kinh tế
và văn hóa của vương quốc Phù Nam, với những tiêu chí nổi bật so với các trung
tâm khác (bao gồm cả Angkor Borei, đã được xác định là một kinh đô của Phù
Nam). Từ những kết quả nghiên cứu cho đến nay, đã đưa đến nhận định Ba Thê-Óc
Eo đóng vai trò kinh đô vào khoảng từ thế kỷ III đến đầu thế kỷ V. Cấu trúc đô
thị, các phân khu chức năng, các dấu tích kiến trúc và di vật để lại đã ủng hộ
cho nhận định trên, khi so sánh với bất kỳ trung tâm nào cùng thời kỳ trong khu
vực (Lê Thị Liên 2019). hệ thống kênh rạch được khai đào hoàn chỉnh vào thời kỳ
này, dù một số đã được khai đào trước đó.
Hình 11. Cấu kiện gỗ của các kiến trúc hoa lệ phát hiện từ Óc Eo (Nguồn: Lê Thị Liên)
Mối liên hệ của Trung tâm Ba Thê - Óc Eo với
các vệ tinh được nhận thấy rõ qua hệ thống kênh rạch nối với các di tích lớn
thuộc văn hóa Óc Eo, trực tiếp với các di tích vùng tứ giác Long Xuyên. Với các
di tích nằm về phía đông sông Hậu và sông Tiền, sự thống nhất về loại hình di
tích và di vật, đặc biệt là đồ gốm, cho thấy mối liên hệ đồng đại rất thống nhất
của các di tích thời kỳ văn hóa Óc Eo, có thể nhờ hệ thống kênh rạch nối thông
với sông Tiền và sông Hậu. Một số di tích đáng chú ý nhất như Đá Nổi (An
Giang), Nền Chùa, Đá Nổi, Cạnh Đền (Kiên Giang), Nhơn Thành (Cần Thơ) có vai
trò và vị trí đặc biệt trong các thời kỳ phát triển của văn hóa Óc Eo.
Đá Nổi (An Giang) là một khu dân cư trù
phú, thiên về làm nông. Cư dân cư trú trong những ngôi nhà sàn có quy mô lớn nhỏ
khác nhau. Thuyền độc mộc là một trong những phương tiện thường ngày. Có một
trung tâm tôn giáo phát triển vào khoảng thế kỷ IV - VI Công nguyên, gồm các
ngôi đền thờ các vị thần Hindu giáo. Trong đó, những ngôi đền quy mô nhất thờ
Visnu và Siva. Lối viết những câu cầu khấn trên các mảnh vàng và các biểu tượng
tôn giáo thể hiện có sự ảnh hưởng của văn hóa Nam Ấn Độ thời kỳ Pallava. Cần có
các cuộc khai quật quy mô hơn để hiểu rõ những đặc điểm văn hóa xã hội và kinh
tế khác của cư dân ở đây.
Nhơn Thành (Cần Thơ) cũng là một trung tâm
nông nghiệp phát triển từ đầu Công nguyên. Các nghề thủ công cũng rất phát triển,
đặc biệt là nghề điêu khắc đá và gỗ, nghề đúc đồ trang sức bằng kim loại. Giai
đoạn thịnh vượng nhất của di tích có thể vào khoảng thế kỷ V-VI, khi các nghề
điêu khắc tượng Phật bằng gỗ và tượng đá phát triển. Tại đây, có thể nhận thấy
những ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ rõ rệt, đặc biệt là từ nghệ thuật Gupta (thế kỷ
III-VI).
Đá Nổi (Kiên Giang) là một khu dân cư lớn
khác. Ở đây, đã thấy dấu vết mang hình hài một đô thị có các khu vực mang tính
chất tôn giáo và mộ táng. Dấu tích gốm phân bố trong không gian rất rộng. Gốm mịn
Óc Eo điển hình và ngói phẳng thuộc giai đoạn Óc Eo phát triển chứng tỏ di tích
rất thịnh vượng vào khoảng giữa thiên niên kỷ I Công nguyên.
Cạnh Đền (Kiên Giang) còn được gọi là Trăm
Phố. Mặc dù diện tích khai quật không lớn và đã bị phá hủy nhiều do quá trình
canh tác, cải tạo đất, nhưng các dấu tích xuất lộ cho thấy đây là một khu đô thị
quan trọng, mà thương mại là hoạt động chính. Các phế tích kiến trúc có mặt
trên nhiều gò, cùng với các dấu tích mi cửa, gạch, đá, tượng thờ. Trong đó đáng
chú ý nhất là tấm điêu khắc có hình một cây đinh ba cắm trong bình phong đăng,
được xác định niên đại vào thế kỷ VI (Guy 2014: Fig. 109). Bên cạnh các dấu vết
sinh hoạt trong các khu vực cư trú, dấu tích khuôn luyện sắt và nhiều con dấu
được phát hiện. Một trong số này là loại con dấu bằng thủy tinh trong có hình một
người ngoại quốc. Một hình người phụ nữ chơi đàn harp trên mảnh một chiếc bình
gốm kiểu Óc Eo thể hiện những yếu tố ảnh hưởng của văn hóa Ammaravati ở miền
Nam Ấn Độ. Sơ lược một số dấu tích trên đây cho thấy Cạnh đền là một cảng thị
quan trọng của văn hóa Óc Eo, phát triển trong khoảng giữa thiên niên kỷ I Công
nguyên, giao lưu và tiếp nhận trực tiếp các ảnh hưởng văn hóa từ vùng Địa Trung
Hải và Ấn Độ.

Nền Chùa (Kiên Giang) là một trung tâm
phát triển thịnh vượng vào giữa thiên niên kỷ I SCN. Ở đây có tất cả các yếu tố
thường thấy của một khu di tích Óc Eo điển hình: Các đền thờ Hindu giáo, đền
tháp Phật giáo (mặc dù dấu tích kiến trúc chưa xác định rõ, nhưng một số pho tượng
Phật đáng chú ý đã được phát hiện) (Le Thi Lien 2014: Fig 87). Khu cư trú trên
nhà sàn, dấu tích nhiều loại hình hiện vật như đồ trang sức, hạt chuỗi, con dấu,
tiền kim loại v.v. Trong đó, có một đồng tiền của Anastasius I (491-518 CE)
(Borell et al. 2018). Một hòn đá hầu như không được chế tác, trên bề mặt có
hình khắc một cái thuyền có cột buồm là chứng cứ đáng chú ý. Trong cuộc khai quật
gần đây nhất đã phát hiện thêm nhiều di vật ngoại nhập từ di tích này. Tính chất
tiền cảng của Óc Eo đã được Malleret nhắc đến từ năm 1938. Những di vật nói
trên cung cấp thêm chứng cứ cho nhận định Nền Chùa là tiền cảng của Óc Eo hay
có thể nói là cảng chính khi Óc Eo đóng vai trò là kinh đô.Vào thời kỳ Ba Thê-Óc Eo đóng vai trò
trung tâm chính trị của Phù Nam, đã có không chỉ một cảng thị. Các di tích như
Cạnh Đền và cả khu vực thành phố Hồ Chí Minh đã có vai trò quan trọng trong việc
tham gia vào mạng lưới thương mại hàng hải phát triển trong giai đoạn nửa đầu
thiên niên kỷ I Công nguyên. Dấu tích một con tàu khâu dây được phát hiện ở
Giàn Gừa, cách Nền Chùa không xa về phía bắc, gợi ý không gian cảng thị cũng
như các phân khu chức năng không chỉ bó hẹp trong vài ngàn m2 và
tính chất của một cảng thị ở mỗi thời kỳ có lẽ cũng rất khác nhau.
Từ các kết quả
nghiên cứu có được cho đến nay, có thể thấy nền văn hóa Óc Eo đã nảy nở và phát
triển hưng thịnh nhanh chóng trong điều kiện rất thuận lợi của việc hình thành
một vùng đồng bằng mới và sự phát triển của mạng lưới thương mại quốc tế từ nửa
cuối thiên niên kỷ I trước Công nguyên, với hành trình ven biển qua nhiều vùng
văn minh và văn hóa từ Đông sang Tây. Việc kế tục các truyền thống trong sản xuất
nông nghiệp và sản xuất thủ công, kết hợp với giao thương và tiếp nhận những kĩ
thuật, tư tưởng và nghệ thuật mới đã tạo đà cho sự phát triển về mọi mặt kinh tế,
văn hóa, tôn giáo và tổ chức nhà nước. Hệ thống kênh đào đã đóng vai trò quan
trọng đối với cả giao thông vận tải và canh tác lúa nước đa vụ, được chỉ ra bởi
các giống lúa hoang dã và canh tác được tìm thấy từ địa điểm Óc Eo và Gò Tháp
(Nguyễn Xuân Hiển 1984: 246; Nguyễn Thị Mai Hương và cộng sự 2012; Le Thi Lien
et al. 2018: Fig.20.9). Đồng thời, đây cũng là phương pháp tiêu thoát nước, rửa
mặn cho đồng ruộng, mà đến thời Nguyễn và cho đến hiện nay vẫn được sử dụng
(Bourdonneau 2009; Le Thi Lien et Al. 2018). Hình thái của hệ thống kênh với
nhiều tụ điểm hình sao cũng được Nguyễn Quang Bắc cho rằng mang ý nghĩa tâm
linh, tôn giáo (Nguyễn Quang Bắc 2019: 309).
Kết
quả là sự ra đời, lớn mạnh của nhà nước Phù Nam và sự phát triển của hàng loạt
khu dân cư giàu có, văn minh trên khắp các vùng đồng bằng Nam Bộ. Tuy nhiên,
cùng với việc phát triển kĩ thuật hàng hải, những biến động về môi trường gây
ra bởi sự dao động mực nước biển, đặc biệt là sự dâng lên tới mức 0,8m so với
ngày nay đã khiến nhiều vùng bị nhiễm mặn, úng ngập. Hệ thống kênh rạch, do mực
nước biển dâng cao khiến thủy lực yếu đã bị bồi lấp. Đây là một nhân tố lớn dẫn
đến suy giảm không chỉ về nông nghiệp mà còn về nhân lực, khả năng tái khơi
thông dòng chảy kênh đào cũng như đối phó với các dạng thức biến đổi khí hậu và
thiên tai khác. Có lẽ đây cũng là một trong những nguyên nhân khiến các trung
tâm thương mại mất đi hoặc chuyển sang các khu vực khác (miền Trung Việt Nam và
vùng Sumatra, Indonexia, vùng ven Vịnh Thái Lan vào thời kỳ Dvaravati). Các
nhóm cư dân bản địa rút lên các vùng cao hoặc lùi sâu vào nội địa, hình thành
những thế lực mới hoặc trở lại lối sống nông nghiệp thuần túy.
Chú
thích:
1. Các chỉ số niên đại sớm nhất ở Gò Tháp:
2480±40BP (GT84-MS); 2350±40BP (GT84-TS2-M2-01); 2250±40BP (GT84-TS2-M2-02);
tương ứng với 530, 400 và 300 năm TCN (Lê Xuân Diệm và nnk 1995: 432). Tại đây
cũng đã phát hiện các lớp cư trú bên dưới các lớp kiến trúc. Ở một số địa điểm,
có hiện tượng các lớp văn hóa sớm, ngăn cách với lớp muộn bằng một lớp cát thuần
dày khoảng 20cm (Lê Thị Liên 2006; quan sát cá nhân trong các cuộc khai quật,
thám sát năm 2001, 2002, 2011. Di tích Gò Hàng theo người dân cho biết có hai lớp
chứa di vật, sâu cách bề mặt ruộng 50cm và gần 2m.
TÀI LIỆU DẪN
BÉRÉNICE BELLINAA, AUDE
FAVEREAUB, LAURE DUSSUBIEUXC 2019. Southeast Asian early Maritime Silk Road trading polities’
hinterland and the sea-nomads of the Isthmus of Kra. Journal of Anthropological Archaeology: 102-120, www.elsevier.com/locate/jaa
BISHOP P, PENNY D, STARK
M AND SCOTT M 2003. A 3.5
ka record of paleoenvironments and human occupation at Angkor Borei, Mekong
Delta, southern Cambodia. Geoarchaeology,
18(3): 359-393.
LÊ THỊ LIÊN, NGUYỄN THỊ
MAI HƯƠNG, NGUYỄN THỊ HÀ 2013a.
Khảo sát khu vực Cần Giờ (Thành phố Hồ Chí Minh) năm 2012. Trong Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 2012,
Hà Nội. Nxb. KHXH: 755-756.
BISHOP P, SANDERSON, DCW
AND STARK MT 2004. OSL
and radiocarbon dating of a pre-Angkorian canal in the Mekong delta, southern
Cambodia. Journal of Archaeological
Science, 31(3): 319-336.
BOURDONNEAU, E. 2003. The ancient canal
system of the Mekong Delta: A preliminary report. In A. Karlström and A.
Källén, (eds.), Fishbones and Glittering
Emblems: Southeast Asian Archaeology 2002, pp. 257-270. Stockholm: Museum
of the Far Eastern Antiquities.
BÙI CHÍ HOÀNG, BÙI PHÁT DIỆM, VƯƠNG THU HỒNG 2015. Khảo cổ học Long An thời tiền sử. Nxb.
KHXH.
BÙI CHÍ HOÀNG, NGUYỄN VĂN QUỐC, NGUYỄN KHÁNH TRUNG KIÊN 2010. Khảo cổ học Bình Dương từ Tiền sử đến sơ sử.
Nxb. KHXH.
BÙI CHÍ HOÀNG, NGUYỄN CHÍ THÂN, NGUYỄN KHÁNH TRUNG KIÊN 2012. Khảo cổ học Bà Rịa - Vũng Tàu, từ tiền sử đến
sơ sử. Nxb. KHXH.
ĐÀO LINH CÔN 2011. Khảo sát và kiểm chứng hiện trường các di
tích Óc Eo, Long An. Một số vấn đề khảo cổ học ở miền Nam Việt
Nam, T 4. Hà Nội. Nxb. KHXH: 306-317.
ĐÀO LINH CÔN, NGUYỄN MỸ HỒNG 2004. Di tích Gò Giồng Xoài
(Xã Mỹ Hiệp Sơn, Huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang). Một số vấn đề khảo cổ học ở
Miền Nam Việt Nam. Nxb.
KHXH, chi nhánh TP Hồ Chí Minh: 271-303.
ĐẶNG VĂN THẮNG, VŨ QUỐC HIỀN, NGUYỄN THỊ HẬU, NGÔ THẾ PHONG, NGUYỄN
KIM DUNG, NGUYỄN LÂN CƯỜNG 1998. Khảo cổ
học Tiền sử và Sơ sử Thành phố Hồ Chí Minh. TP Hồ Chí Minh. Nxb. Trẻ.
HIRANO, Y 2005. Betonamu nambu Mekon Deruta no doki shiryō-Gotōuchamu
iseki no tsugikuchitsuki tsubo to kawara wo chūshin ni (Earthenware in Mekong
Delta, South Vietnam: mainly in spouted vessels and roof tiles). Jōchi Ajiagaku, 23: 161-178.
Kỷ yếu Hội thảo khoa học Khu di tích Óc Eo - Ba Thê, Nền
Chùa: Khai quật, nghiên cứu, bảo tồn và phát huy giá trị. Long Xuyên, tháng 11
năm 2019.
HÀ VĂN TẤN (Cb) 1999. Khảo cổ học Việt Nam, T.II, Thời đại Kim khí Việt Nam. Hà Nội. Nxb.
KHXH.
LÊ HOÀNG PHONG, LÂM KIÊM LỢI 2019. Di tích kênh cổ
Lung Lớn (Óc Eo - Ba Thê). Trong Kỷ yếu Hội
thảo khoa học Khu di tích Óc Eo - Ba Thê, Nền Chùa: Khai quật, nghiên cứ, bảo tồn
và phát huy giá trị. Long Xuyên, tháng 11 năm 2019: 161-176.
LÊ THỊ LIÊN 2006a. Nghệ
thuật Phật giáo và Hindu giáo ở Đồng bằng sông Cửu Long trước thể kỷ 10 [Buddhist & Hindu Art in the Cuu Long
River Delta Prior to 10th Century A.D.]. Hanoi, Social Sciences Publishing
House.
LE THI LIEN 2006b. Excavations at Minh Su Mound, Go
Thap site, Dong Thap Province, South Vietnam, In: I Glover, VC Pigott and EA
Bacus (eds.) Uncovering Southeast Asia’s Past: Selected Papers from the 10th
International Conference of the European Association of Southeast Asian
Archaeologists. Singapore. NUS Press,
232-244.175
LE THI LIEN 2011.Metal
ornaments and traces of their manufacturing in Oc Eo culture (Southern
Vietnam). In S. Chia and B. Watson Andya (eds) Bujang Valley and Early Civilizations in Southeast Asia. Malaysia,
Department of National Heritage, Ministry of Information, Communication and
Culture: 299-309.
LE THI LIEN 2014.
Hindu-Buddhist Sculpture in Southern Vietnam: Evolution of icon and style
to the Eighth Century, in Lost Kingdoms -
Hindu-Buddhist Sculpture of Early Southeast Asia, John Guy (ed), The
Metropolitant of Art, New York, 118-121.
LE THI LIEN 2015a. History of maritime contacts
between Vietnam and India: Archaeological evidence from Oc Eo culture in
Southern Vietnam. In S. Tripati (ed.) Maritime
Contacts of the Past: Deciphering Connections Amongst Communities. New
Delhi: Delta Book World, 95-123.
LE THI LIEN 2015b. The Oc Eo culture and its cultural
interaction. In A Reinecke (ed.) Perspectives
on the Archaeology of Vietnam. Bonn, German Archaeological Institute:
211-236.
LÊ THỊ LIÊN, NGUYỄN THỊ MAI HƯƠNG, PHAN THANH TOÀN, BÙI THANH HỢI,
NGUYỄN HỮU THIẾT, DOÃN ĐÌNH LÂM, TRƯƠNG ĐẮC CHIẾN 2013. Khảo sát các di tích Óc
Eo ở miền Tây Nam bộ năm 2012). Trong NPHM về KCH năm 2012. Nxb. KHXH, Hà Nội:
761-763.
LÊ THỊ LIÊN, NISHIMURA MASANARI, NGUYỄN THỊ MAI HƯƠNG 2014. Di tích Gò Tháp
- Những hiểu biết mới qua các cuộc khảo sát nghiên cứu gần đây. Khảo cổ
học, Số 2: 64-83.
LÊ THỊ LIÊN, NGUYỄN THỊ MAI HƯƠNG, NGUYỄN THỊ HÀ
2013a. Khảo sát khu vực Cần Giờ (Thành phố Hồ Chí Minh) năm 2012. Trong NPHMVKCH năm 2012. Nxb. KHXH, Hà
Nội: 755-756.
LE THI LIEN, NGUYEN QUOC MANH, NGUYEN THI MAI HUONG
2018. Context of the Port Cities Establishment in the Coast of Southern
Vietnam: Understanding from Recent Surveys, in Noel Hidalgo Tan (ed.) Advancing Southeast Asian Archaeology
2016, pp. 160-177.
LÊ XUÂN THUYÊN 2005. Áp dụng các phân tích địa chất
môi trường để xác định lòng kênh cổ thuộc văn hóa Óc Eo. Trong Khảo cổ học, số 4: 76-82.
LÊ XUÂN THUYÊN 2019. Môi trường cổ địa lý khu vực đồng bằng sông Cửu Long trong giai đoạn
Holocene muộn và nền văn hóa Óc Eo. Trong Kỷ yếu Hội
thảo khoa học Khu di tích Óc Eo – Ba Thê, Nền Chùa: Khai quật, nghiên cứu, bảo
tồn và phát huy giá trị. Long Xuyên, tháng 11 năm 2019: 169-215.
LIÊU KIM SANH 1984. Hải xâm, hải thoái xưa ảnh hưởng
đến vùng đồng bằng Nam bộ Trong Văn hóa
Óc Eo và các văn hóa cổ ở đồng bằng Cửu Long. Long Xuyên: 74-85.
MANGUIN P-Y 2004.The Archaeology of the early maritime polities of
Southeast Asia. In P. Bellwood and I. Glover (eds) Southeast Asia: From prehistory to history. London, Routledge
Curzon: 282-313.
MANGUIN, PIERRE - YVES 2009. The archaeology of Funan in the
Mekong River Delta: The Oc Eo culture of Viet Nam. In Nancy Tingley (ed.) Arts of ancient Viet Nam, from river plain
to open sea. 100–18. New Haven, Yale University Press.
MISSION ARCHAEOLOGIE DU DELTA DU MEKONG 2002. Rapport
Presliminaire, Campagne 2002. EFEO.
NGUYỄN HOÀNG BÁCH LINH, LÊ HOÀNG PHONG 2019. Di tích Giồng Nổi (Bến
Tre) trong bối cảnh khảo cổ học Nam Bộ thời Tiền - Sơ sử. Trong Khoa học Xã hội, số 9 (253): 65-76.
NGUYỄN KIM DUNG 1993. Báo cáo khai quật Giồng Phệt. Hà Nội, Tư liệu
Viện Khảo cổ học.
NGUYỄN QUANG BẮC, NGUYỄN HỮU TUẤN, NGUYỄN QUANG MIÊN, TRÌNH NĂNG
CHUNG, LÊ NGỌC THANH, NGUYỄN QUANG DŨNG,
NGUYỄN SIÊU NHÂN, VÕ HỒNG SƠN, NGUYỄN THỊ HÀ, NGUYỄN HỮU GIỀNG 2019.
Góp phần nhận diện đô thị cổ Óc Eo từ kết quả nghiên cứu liên ngành: Viễn thám,
công nghệ thông tin, địa vật lý - địa chất và khảo cổ học. Trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học Khu di tích Óc Eo -
Ba Thê, Nền Chùa: Khai quật, nghiên cứ, bảo tồn và phát huy giá trị. Long
Xuyên, tháng 11 năm 2019: 274-322.
NGUYEN THI MAI HUONG, LE THI LIEN AND NISHIMUARA M.
2015. Initial Investigation of the Mekong River Delta Environment during the Oc
Eo period. In NH Tan (ed.) Advancing
Southeast Asian Archaeology 2013. Bangkok: SEAMEO SPAFA: 354-361, 394-398.
NGUYỄN THỊ MAI HƯƠNG, LÊ THỊ LIÊN, NISHIMURA
MASANARI 2012. Về những dấu vết thóc gạo cháy ở di chỉ Gò Tháp, Đồng Tháp.
Trong NPHMVKCH năm 2011. Hà Nội. Nxb. KHXH: 780-782.
NGUYỄN THỊ MAI HƯƠNG 2020. Môi trường đồng bằng sông Cửu
Long giai đoạn văn hóa Óc Eo qua phân tích bào tử phấn hoa. Trong Khảo cổ học, số 2: 14-28.
NGUYỄN THỊ MAI HƯƠNG, NGUYỄN ANH TUẤN, PHẠM VĂN HẢI
2021a. Kết quả phân tích phấn hoa Gò Óc Eo, An Giang (chưa xuất bản).
NGUYỄN THỊ MAI HƯƠNG, TRƯƠNG HỮU NGHĨA, PHẠM VĂN HẢI
2021b. Kết quả phân tích phấn hoa Gò Giồng Trôm - OE18.GGT.H02 (chưa xuất bản).
NISHIMURA, M 2005. Chronology of the Metal Age in the
southern Vietnam. Journal of Southeast
Asian Archaeology (25): 105-147.
PHAN THANH TOÀN 2013. Báo cáo kết quả điều tra khảo cổ
học ở tỉnh Kiên Giang. Tư liệu Viện Khảo cổ học.
THI KIM OANH TA. VAN LAP
NGUYEN, MASAAKI TATEISHI, IWAO KOBAYASHI, SUSUMU TANABE, YOSHIKI SAITO 2002. Holocene delta evolution and
sediment discharge of the Mekong River, southern Vietnam. Quaternary Science Reviews, 21 (2002): 1807-1819.
TRẦN KIM THẠCH 1996. Đặc điểm tự nhiên của Đồng Tháp Mười. Trong
Trần Bạch Đằng (cb.). Địa chí Đồng Tháp
Mười. Nxb. Chính trị Quốc gia: 11-38.
TRƯƠNG ĐẮC CHIẾN 2018. Di tích Giồng Lớn (Bà Rịa - Vũng Tàu) với vấn
đề nghiên cứu quá trình hình thành văn hóa Óc Eo ở vùng ven biển Đông Nam Bộ.
Trong Khảo cổ học, số 6 (216): 21-44.
VŨ QUỐC HIỀN, LÊ VĂN CHIẾN 2006. Khai quật di tích Giồng Lớn (Long
Sơn, Vũng Tàu) năm 2003. Trong Thông báo
khoa học, Hà Nội, BTLSQG: 21-41.
VŨ QUỐC HIỀN, TRƯƠNG ĐẮC CHIẾN, LÊ VĂN CHIẾN 2007. Khai quật di
tích Giồng Lớn lần thứ 2 (năm 2005). Trong Thông
báo khoa học. Hà Nội, BTLSQG; 19-43.
ÓC EO-CULTURE
POPULATION: DEVELOPMENT IN THE CONTXT OF THE SEA LEVEL FLUCTUATIONS IN SOME
CENTURIES BETWEEN BC AND AD
LÊ THỊ LIÊN, NGUYỄN THỊ MAI
HƯƠNG
Through nearly 80 years of discovery and
research, the Oc Eo civilization has been known for hundreds of relics that
have developed widely across the topography of Southern Vietnam. The period of
formation, development and decline of this culture is found to be very
different among the monuments in different geographical sub-regions. They raise
many questions about the conditions, causes and factors affecting the history
of this civilization. In this article, the authors rely on the results of multidisciplinary studies, mainly of
archaeology, paleoenvironmental and paleomorphological, which are mainly
affected by sea level fluctuations in the past centuries, century BC and AD to
contribute to answering the questions posed. From the results of the study of
the ancient coastline and sea level fluctuations, it is shown that from the
second half of the first millennium BC, the Southern Delta has been gradually
opened to the south-southwest, making the Tien population groups - The first
history went down to explore new lands. They are the ones who create the
agricultural foundation and have contact with the maritime trade system through
the seaports of Can Gio and Oc Eo. It is a favorable environment for the
development of a series of economic and cultural centers - the basis for
forming the state of Funan - one of the first countries of Southeast Asia. It
was also the sea level rise that contributed to the strong impact on the
population centers, causing this civilization to die out at the end of the
first millennium AD.