Tăng cường quản lý và sử dụng bền vững vùng đất ngập nước vườn quốc gia Xuân Thủy
Tóm tắt: Vườn quốc gia Xuân Thủy là vùng đất ngập nước cửa sông ven biển tiêu biểu của đồng bằng sông Hồng, đồng thời là hạt nhân bảo tồn quan trọng trong Khu dự trữ sinh quyển châu thổ sông Hồng. Bài viết tổng hợp hiện trạng đa dạng sinh học, giá trị dịch vụ hệ sinh thái và các sức ép quản lý tại Vườn; trên cơ sở đó đề xuất khung giải pháp theo hướng quản lý thích ứng, đồng quản lý với cộng đồng và sử dụng bền vững tài nguyên. Trọng tâm là bảo vệ tính toàn vẹn sinh thái của bãi triều, rừng ngập mặn và thủy vực cửa sông; kiểm soát khai thác, ô nhiễm và biến đổi khí hậu; đồng thời tạo động lực kinh tế hợp pháp cho người dân vùng đệm thông qua sinh kế xanh, nuôi trồng thủy sản có trách nhiệm và du lịch sinh thái chất lượng. Bài viết nhấn mạnh rằng bảo tồn không phải là tách con người khỏi tự nhiên, mà là tổ chức lại cách sử dụng tài nguyên theo ngưỡng chịu tải, quy tắc minh bạch và chia sẻ lợi ích công bằng. Từ khóa: đất ngập nước; Vườn quốc gia Xuân Thủy; đa dạng sinh học; đồng quản lý; sử dụng bền vững; rừng ngập mặn.

1. Đặt vấn đề

Đất ngập nước ven biển là không gian chuyển tiếp giàu năng suất giữa sông, biển và đất liền. Ở đó, bãi triều, rừng ngập mặn, lạch triều và vùng nước cửa sông cùng vận hành như một hệ thống: tạo nơi cư trú và bãi kiếm ăn cho chim nước, nuôi dưỡng nguồn lợi thủy sản, giữ trầm tích, giảm tác động của sóng bão và cung cấp sinh kế cho cộng đồng. Vì vậy, quản lý vùng đất ngập nước không thể chỉ dựa vào bảo vệ một vài loài quý hiếm, mà phải duy trì các quá trình sinh thái tạo nên khả năng tự phục hồi của toàn hệ thống.

Xuân Thủy là khu Ramsar đầu tiên của Việt Nam (1989), được chuyển hạng thành Vườn quốc gia năm 2003 và là vùng lõi có ý nghĩa đặc biệt của Khu dự trữ sinh quyển châu thổ sông Hồng được UNESCO công nhận năm 2004. Bối cảnh này tạo cơ hội lớn cho bảo tồn, nhưng cũng đặt ra yêu cầu dung hòa giữa bảo vệ nghiêm ngặt, khai thác thủy sản, nuôi trồng, du lịch và nhu cầu phát triển của các xã vùng đệm. Mục tiêu của bài viết là đề xuất các hướng hành động khả thi nhằm tăng cường quản lý và sử dụng bền vững vùng đất ngập nước Vườn quốc gia Xuân Thủy trên nền tảng bảo tồn đa dạng sinh học.

2. Giá trị đa dạng sinh học và dịch vụ hệ sinh thái

2.1. Tính đa dạng của các kiểu hệ sinh thái đất ngập nước

Theo kết quả phân loại được tổng hợp trong tài liệu hiện trạng của Vườn, khu vực Xuân Thủy có bảy kiểu hệ sinh thái đất ngập nước chủ yếu: bãi triều có rừng ngập mặn; bãi triều không có rừng ngập mặn; dải cát và cồn cát chắn; đầm nuôi trồng thủy sản; sông nhánh và lạch triều; vùng nước cửa sông Ba Lạt; và ruộng lúa nước. Sự đan xen của các sinh cảnh này tạo ra chuỗi thức ăn phong phú, các bãi kiếm ăn, nơi trú ngụ và hành lang di chuyển cho nhiều nhóm sinh vật.

Một số số liệu điều tra cho thấy quy mô sinh cảnh đáng kể: bãi triều có rừng ngập mặn khoảng 868 ha ở vùng lõi và 793 ha ở vùng đệm; bãi triều không có rừng ngập mặn khoảng 1.472 ha ở vùng lõi và 884 ha ở vùng đệm; vùng nước cửa sông Ba Lạt được xác định khoảng 3.173 ha. Các con số này cần được cập nhật định kỳ vì vùng cửa sông có diễn biến bồi tụ, xói lở và thay đổi đường bờ nhanh, làm dịch chuyển ranh giới sinh cảnh và các chức năng sinh thái.

2.2. Thành phần loài và ý nghĩa bảo tồn

Tài liệu hiện trạng ghi nhận 202 loài thực vật bậc cao có mạch, 112 loài thực vật nổi, 110 loài động vật nổi, 386 loài động vật đáy cỡ lớn, 161 loài cá, 427 loài côn trùng, khoảng 37 loài lưỡng cư - bò sát, 222 loài chim và khoảng 17 loài thú. Tổng hợp các nhóm đã được khảo sát cho thấy ít nhất 1.647 loài. Đặc biệt, hệ chim nước và chim di cư là giá trị nhận diện nổi bật: vào mùa di cư, Vườn là điểm dừng chân, kiếm ăn và tích lũy năng lượng của hàng chục nghìn cá thể; các loài có tình trạng bảo tồn cao như rẽ mỏ thìa, vịt đầu đen, cò thìa và bồ nông chân xám đã được ghi nhận.

Giá trị bảo tồn của Xuân Thủy vì thế nằm ở cả hai phương diện: bảo vệ loài và duy trì nơi cư trú. Khi bãi triều bị xáo trộn, chất lượng nước suy giảm hoặc rừng ngập mặn bị phân mảnh, những tác động đó có thể lan truyền qua mạng lưới thức ăn, làm giảm nguồn thức ăn cho chim nước, cá và động vật đáy. Quản lý hiệu quả cần coi các chỉ số về diện tích, chất lượng và kết nối sinh cảnh là thước đo cốt lõi, không chỉ là số vụ vi phạm đã xử lý.

2.3. Dịch vụ hệ sinh thái và sinh kế địa phương

Bên cạnh các giá trị sinh thái và sinh kế truyền thống, định hướng phát triển du lịch sinh thái giai đoạn 2026–2030 cho thấy cần khai thác có chọn lọc các giá trị đặc trưng của hệ sinh thái rừng ngập mặn, bãi triều, khu vực chim di cư và giá trị Ramsar để hình thành chuỗi sản phẩm có khả năng tạo thu nhập nhưng không làm gia tăng áp lực lên tài nguyên. Các sản phẩm ưu tiên có thể bao gồm quan sát chim, trải nghiệm rừng ngập mặn, giáo dục môi trường, du lịch cộng đồng và các chương trình nghiên cứu, học tập thực địa. Cách tiếp cận này phù hợp với yêu cầu đa dạng hóa sinh kế, giảm phụ thuộc vào khai thác tài nguyên tự nhiên và tăng phần lợi ích quay trở lại cho hoạt động bảo tồn.

Đất ngập nước Xuân Thủy cung cấp trực tiếp thủy sản, không gian nuôi trồng, cảnh quan du lịch và các dịch vụ điều tiết quan trọng. Tài liệu của Vườn ước tính khoảng 600 người tham gia khai thác thủy sản tự nhiên; sản lượng khai thác của các xã vùng đệm đạt 6.800 tấn, trong đó sản lượng trong vùng lõi là 1.459 tấn với thu nhập hằng năm khoảng 12,42 tỷ đồng. Nuôi ngao, nuôi tôm quảng canh và du lịch sinh thái cũng tạo nguồn thu đáng kể. Mỗi năm Vườn đón khoảng 20.000 - 25.000 lượt khách, với doanh thu ước 4 - 5 tỷ đồng cho Vườn và cộng đồng địa phương.

Bên cạnh giá trị thị trường, rừng ngập mặn có vai trò phòng hộ: hệ rễ giữ bùn, thúc đẩy lắng đọng trầm tích, giảm năng lượng sóng và góp phần bảo vệ bờ biển. Đây là “hạ tầng tự nhiên” cần được ghi nhận trong quy hoạch thích ứng khí hậu và đầu tư công. Nếu chỉ đánh giá ngắn hạn bằng sản lượng khai thác, xã hội có thể đánh đổi những giá trị phòng hộ và phục hồi rất lớn nhưng ít được định giá.

3. Những thách thức quản lý chủ yếu

3.1. Áp lực khai thác và chuyển đổi sử dụng tài nguyên

Khai thác thủy sản bằng một số ngư cụ có tính hủy diệt như kích điện, chất độc, lờ bát quái hoặc đăng đáy tuy đã giảm nhưng vẫn là rủi ro đối với quần thể thủy sinh và nguồn thức ăn của chim nước. Cùng với đó, nuôi ngao mật độ cao, cải tạo đầm nuôi và hoạt động đào, san lấp bãi có thể làm xáo trộn nền đáy, thay đổi dòng chảy cục bộ và gia tăng cạnh tranh không gian. Mâu thuẫn cốt lõi không đơn thuần là “bảo tồn hay phát triển”, mà là việc thiếu ranh giới vận hành rõ ràng, thiếu ngưỡng khai thác và cơ chế giám sát được đồng thuận.

3.2. Ô nhiễm và suy giảm chất lượng môi trường

Chất thải hữu cơ từ đầm nuôi tôm và bãi nuôi ngao là nguồn áp lực đáng lưu ý. Tài liệu phân tích ban đầu tại sông Trà cho thấy có đoạn có ôxy hòa tan thấp, trong khi BOD, COD cao hơn mức cho phép; tại đầm tôm, các chỉ số BOD, COD, nitơ tổng và phốt pho tổng cao hơn khu vực bên ngoài. Dầu, bùn cát phát tán từ phương tiện cơ giới và hoạt động bơm cát cũng làm tăng nguy cơ ô nhiễm nước và trầm tích. Không kiểm soát tốt các nguồn thải này sẽ làm suy giảm động vật đáy, mắt xích quan trọng của lưới thức ăn.

3.3. Biến đổi khí hậu, diễn biến địa mạo và loài ngoại lai

Nước biển dâng, bão mạnh, rét đậm rét hại và biến động bồi tụ - xói lở làm gia tăng tính bất định của hệ sinh thái. Đã có hiện tượng một phần rừng phi lao ngoài Cồn Lu bị ngập và chết; một số loài ngập mặn suy thoái sau các đợt rét kéo dài. Xuân Thủy cần được quản lý theo tư duy thích ứng: chấp nhận sinh cảnh có thể dịch chuyển, đồng thời bảo vệ các hành lang bồi tụ và không gian để rừng ngập mặn tái sinh tự nhiên. Các loài ngoại lai cũng cần được theo dõi sớm; tài liệu hiện trạng ghi nhận 11 loài ở vùng lõi và 14 loài ở vùng đệm.

3.4. Hạn chế thể chế, nguồn lực và phối hợp liên ngành

Đối với hoạt động du lịch, một hạn chế đáng lưu ý là tính mùa vụ tương đối cao, đặc biệt đối với sản phẩm quan sát chim do phụ thuộc vào mùa chim di cư, thường tập trung từ tháng 10 đến tháng 4. Trong mùa mưa bão, khả năng tổ chức các hoạt động ngoài trời và đường thủy bị hạn chế. Vì vậy, nếu chỉ dựa vào một nhóm sản phẩm quan sát chim, nguồn khách và doanh thu sẽ thiếu ổn định. Việc đa dạng hóa sản phẩm theo hướng trải nghiệm hệ sinh thái, giáo dục môi trường, du lịch cộng đồng, nghỉ dưỡng sinh thái và trải nghiệm sáng tạo sẽ góp phần phân bổ khách theo thời gian và nâng cao giá trị trải nghiệm mà vẫn phải tuân thủ sức chịu tải của từng khu vực.

Ban quản lý Vườn phải thực hiện đồng thời nhiều nhiệm vụ: bảo vệ rừng, bảo tồn nguồn lợi thủy sản, giám sát môi trường, nghiên cứu, giáo dục và phát triển du lịch sinh thái. Trong khi đó, quyền hạn thực thi, nhân lực chuyên môn, tài chính và công cụ giám sát còn có khoảng trống. Các thách thức tương tự cũng được nhận diện rộng rãi tại các khu bảo tồn biển: hoạt động phát triển xâm lấn, khai thác trái phép, ô nhiễm ven biển, xung đột giữa du lịch - nuôi trồng - bảo tồn và hạn chế về công cụ, nhân lực. Điều này cho thấy giải pháp tại Xuân Thủy cần gắn với cơ chế phối hợp thực chất giữa quản lý khu bảo tồn, chính quyền địa phương, kiểm lâm, biên phòng, thủy sản, môi trường, doanh nghiệp và cộng đồng.

4. Định hướng và giải pháp tăng cường quản lý, sử dụng bền vững

Mục tiêu tổng quát là duy trì tính toàn vẹn, khả năng phục hồi và kết nối của các hệ sinh thái đất ngập nước; bảo đảm mọi hoạt động sử dụng tài nguyên trong vùng lõi, vùng phục hồi sinh thái và vùng đệm tuân theo sức chịu tải; đồng thời nâng cao sinh kế hợp pháp và năng lực làm chủ của cộng đồng. Các giải pháp đề xuất được tóm tắt như sau:

Nhóm giải pháp

Nội dung trọng tâm

Kết quả/kỳ vọng theo dõi

Quản lý không gian thích ứng

Cập nhật bản đồ sinh cảnh, bồi tụ - xói lở và ranh giới sử dụng theo chu kỳ; phân vùng rõ khu bảo vệ nghiêm ngặt, khu phục hồi, khu sử dụng hợp lý và vùng đệm; công khai quy tắc hoạt động theo từng vùng.

Giảm chồng lấn không gian; diện tích sinh cảnh trọng yếu và khu phục hồi được bảo đảm; quy định dễ kiểm tra.

Bảo vệ và phục hồi sinh thái

Ưu tiên phục hồi tự nhiên rừng ngập mặn, bảo vệ bãi triều và lạch triều; kiểm soát xáo trộn nền đáy; thiết lập khu vực yên tĩnh cho chim di cư trong mùa cao điểm.

Tăng chất lượng sinh cảnh, nguồn thức ăn và chỉ số xuất hiện của chim nước; giảm suy thoái rừng ngập mặn.

Khai thác và nuôi trồng có trách nhiệm

Quy định ngư cụ, mùa vụ, kích cỡ, mật độ nuôi và vùng cấm; thí điểm chứng nhận/nhãn sinh thái; áp dụng quy trình giảm thức ăn dư, chất thải và hóa chất.

Giảm ngư cụ hủy diệt; cải thiện chất lượng nước; giá trị sản phẩm tăng thay vì chỉ tăng sản lượng.

Đồng quản lý và chia sẻ lợi ích

Tổ chức tổ/nhóm cộng đồng theo địa bàn và nghề; đồng xây dựng quy ước, giám sát và cơ chế phản hồi; gắn quyền hưởng lợi với tuân thủ quy định.

Cộng đồng trở thành đối tác bảo tồn; giảm chi phí giám sát; tăng mức độ chấp hành.

Giám sát - thực thi - dữ liệu

Xây dựng bộ chỉ số đa dạng sinh học, nguồn lợi, chất lượng nước và tuân thủ; tuần tra liên ngành theo rủi ro; số hóa dữ liệu hiện trường, đường dây phản ánh vi phạm.

Quyết định dựa trên bằng chứng; phát hiện sớm ô nhiễm và vi phạm; báo cáo minh bạch.

Sinh kế xanh và du lịch sinh thái

Phát triển du lịch quan sát chim, trải nghiệm rừng ngập mặn, giáo dục môi trường với quy mô phù hợp; hỗ trợ các mô hình sinh kế ít gây áp lực; đào tạo kỹ năng và liên kết thị trường.

Thu nhập đa dạng hơn; giảm phụ thuộc vào khai thác tự nhiên; lợi ích quay trở lại bảo tồn.

4.1. Hoàn thiện phân vùng và quản lý theo sức chịu tải

Phân vùng cần được xem là công cụ điều phối hoạt động, không chỉ là đường ranh trên bản đồ. Với từng phân khu phải có danh mục hoạt động được phép, có điều kiện và bị cấm; kèm chỉ tiêu cụ thể về thời gian, số lượng phương tiện, mật độ nuôi, mùa vụ, tuyến du lịch và mức độ xáo trộn chấp nhận được. Đối với các bãi kiếm ăn của chim di cư và nơi rừng ngập mặn tái sinh, cần áp dụng biện pháp bảo vệ theo mùa và theo khu vực, chủ động điều chỉnh khi điều kiện thủy văn - địa mạo thay đổi.

4.2. Đặt cộng đồng vào vị trí đồng quản lý

Bài học từ mô hình bảo tồn cua đá Cù Lao Chàm cho thấy quy tắc khai thác theo kích thước, số lượng, mùa vụ và vùng, cùng với tổ cộng đồng và nhãn sinh thái, có thể vừa hỗ trợ phục hồi nguồn lợi vừa tạo động lực sinh kế. Tại Tam Hải, sự tham gia của chính quyền, lực lượng chức năng, doanh nghiệp, nhà khoa học và người dân đã tạo nền tảng cho bảo vệ rạn san hô cấp cộng đồng. Xuân Thủy có thể vận dụng nguyên tắc này để xây dựng các tổ đồng quản lý theo nghề và theo địa bàn, với cam kết rõ ràng về giám sát, báo cáo vi phạm, tuân thủ mùa vụ và hưởng lợi từ du lịch/sản phẩm xanh.

Đồng quản lý chỉ bền vững khi cộng đồng có tiếng nói thực chất trong xác lập quy tắc, có tiếp cận công bằng với thông tin và nhìn thấy lợi ích rõ ràng. Cần có cơ chế chia sẻ một phần nguồn thu du lịch, phí dịch vụ hoặc hỗ trợ dự án cho các hoạt động phục hồi sinh cảnh, quỹ cộng đồng và nhóm tuân thủ tốt. Đồng thời, các nhóm dễ bị tổn thương cần được ưu tiên tiếp cận sinh kế thay thế và đào tạo.

4.3. Kiểm soát ô nhiễm và chuyển đổi nuôi trồng theo hướng sinh thái

Cần thiết lập chương trình giám sát chất lượng nước và trầm tích tại các điểm nhạy cảm, đặc biệt sông Trà, khu đầm nuôi và bãi nuôi ngao; công bố định kỳ các thông số cơ bản như DO, BOD, COD, nitơ, phốt pho và dầu mỡ. Kết quả giám sát phải được liên kết trực tiếp với phương án điều chỉnh mật độ nuôi, lịch xả thải, nạo vét và hoạt động cơ giới. Khuyến khích mô hình nuôi quảng canh cải tiến, sử dụng thức ăn hợp lý, ao lắng/lọc sinh học và thu gom chất thải; không mở rộng nuôi trồng vào sinh cảnh trọng yếu khi chưa có đánh giá sức chịu tải.

4.4. Tăng cường năng lực thực thi và đầu tư cho quản lý dựa trên bằng chứng

Cần củng cố thẩm quyền phối hợp và quy chế liên ngành, phân định đầu mối xử lý từng nhóm vi phạm. Tuần tra nên được thiết kế theo rủi ro, tập trung vào thời điểm, địa bàn và hành vi có khả năng gây tác động cao; duy trì cơ chế phối hợp với kiểm lâm, biên phòng, công an địa phương, cơ quan thủy sản và môi trường. Đầu tư cần ưu tiên cho nhân lực chuyên môn, thiết bị ghi nhận hiện trường, cơ sở dữ liệu không gian và chương trình theo dõi dài hạn chim nước, động vật đáy, rừng ngập mặn, chất lượng nước.

4.5. Phát triển du lịch sinh thái có trách nhiệm và giáo dục môi trường

Một hướng phát triển khác là mở rộng các sản phẩm có giá trị gia tăng cao như trải nghiệm nghỉ dưỡng sinh thái, camping/glamping, hoạt động chăm sóc sức khỏe gắn với thiên nhiên và các chương trình trải nghiệm sáng tạo. Các hoạt động như cà phê chim, triển lãm ảnh, tour đêm quan sát động vật hoang dã, festival về chim di cư, nghệ thuật môi trường hoặc ứng dụng AR/VR có thể góp phần tăng sức hấp dẫn đối với nhóm khách trẻ, khách chuyên đề và khách quốc tế. Tuy nhiên, các hoạt động này chỉ nên được triển khai ở những khu vực và thời điểm phù hợp, có kiểm soát tiếng ồn, ánh sáng, rác thải, phương tiện và mức độ xáo trộn đối với sinh cảnh.

Phát triển du lịch sinh thái có trách nhiệm cần đồng thời chú trọng tổ chức không gian và chất lượng trải nghiệm. Định hướng đến năm 2030 có thể hình thành mạng lưới điểm trải nghiệm liên hoàn gồm Trung tâm dịch vụ hành chính, Vườn thực vật và khu vực Cồn Ngạn, kết nối bằng các tuyến thủy trên sông Trà và sông Vọp. Trong đó, tuyến xem chim có thể kết hợp trải nghiệm bãi triều, vườn thực vật và giáo dục môi trường. Việc tổ chức các tuyến này cần ưu tiên nâng cấp hạ tầng phục vụ quan sát, bến thuyền và diễn giải môi trường thay vì mở rộng công trình xây dựng trong các sinh cảnh nhạy cảm.

Du lịch sinh thái cần lấy giá trị bảo tồn làm nền tảng, không chạy theo tăng nhanh số lượng khách. Cần xác định sức chứa cho từng tuyến, quy định khoảng cách quan sát chim, kiểm soát tiếng ồn, rác thải, phương tiện thủy và thời điểm khai thác. Một phần doanh thu cần được minh bạch sử dụng cho bảo tồn và cộng đồng. Hoạt động giáo dục môi trường nên gắn với trải nghiệm thực địa, diễn giải về chuỗi thức ăn bãi triều, vai trò rừng ngập mặn và trách nhiệm của người sử dụng tài nguyên.

5. Kết luận

Vườn quốc gia Xuân Thủy có giá trị đặc biệt về đa dạng sinh học, an ninh sinh thái ven biển và sinh kế địa phương. Tuy nhiên, giá trị đó đang chịu tác động đồng thời của khai thác quá mức, ô nhiễm, biến đổi khí hậu, diễn biến địa mạo và những hạn chế về nguồn lực quản lý. Hướng đi phù hợp là quản lý thích ứng dựa trên hệ sinh thái: bảo vệ các sinh cảnh then chốt, kiểm soát sử dụng theo sức chịu tải, nâng cao năng lực thực thi và tạo lập quan hệ đối tác thực chất với cộng đồng. Khi bảo tồn trở thành một phần của sinh kế, quy hoạch và lựa chọn đầu tư, đất ngập nước Xuân Thủy mới có thể tiếp tục phát huy vai trò là “lá chắn xanh”, nơi dừng chân của chim di cư và nguồn vốn tự nhiên cho phát triển bền vững của địa phương.

Tài liệu tham khảo:

1.      Công ước Ramsar. Khái niệm đất ngập nước và định hướng sử dụng khôn khéo đất ngập nước

2.      Vườn quốc gia Xuân Thủy (2026). Đề án phát triển du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí tại Vườn quốc gia Xuân Thủy giai đoạn 2026–2030.

3.      Vườn quốc gia Xuân Thủy (2025) . Hiện trạng đa dạng sinh học Vườn quốc gia Xuân Thủy.

4.      Vườn quốc gia Xuân Thủy (2023). Phương án quản lý rừng bền vững Vườn quốc gia Xuân Thủy giai đoạn 2024-2023

ThS. Lê Thu Quỳnh
Nguồn bài viết: Trang Thông tin điện tử Viện Địa lý nhân văn và Phát triển bền vững
Tin xem nhiều
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1