1. Tổng quan
Vùng đất Ninh Bình sở hữu kho tư liệu về
lịch sử địa chất, địa mạo của trái đất; là phần kéo dài và phân tán về phía
đông của dãy núi đá vôi đồ sộ phía tây bắc của tổ quốc, hay trong không gian
rộng hơn nó là những phần chân của dãy Himalaya vươn ra biển Thái Bình Dương vì
vậy Ninh Bình có nhiều dãy núi chạy theo hướng tây bắc-đông nam như các dãy núi
đá vôi trải dài trên các huyện Nho Quan, Hoa Lư, Gia Viễn, Yên Mô và thị xã Tam
Điệp. Thời điểm hình thành những dãy đá vôi này dao động trong khoảng từ 250
triệu đến 300 triệu năm cách ngày nay (Nguyễn Cao Tấn 2013).
Qua nhiều thời kỳ biến đổi địa chất bị nâng
lên, hạ xuống, bị uốn nếp, bào mòn dẫn đến những dãy đá vôi ở đây có dạng địa
hình hết sức đa dạng với hàng loạt các hệ thống thung lũng, hố sụt, hang động
cạn và hang động nước nối thông giữa các hố sụt, thung lũng ngập nước hay chạy
dài theo những dãy núi đá vôi sắc mảnh.
Và đặc biệt hơn nữa hầu hết những dãy núi
đá vôi ở Ninh Bình đều chịu sự xâm lấn và biến cải nhiều lần bởi biển trong giai
đoạn Pleistocene sang giai đoạn Holocene. Ninh Bình còn sở hữu địa hình đồng
bằng phù sa cổ, địa hình cồn cát xuất hiện trong quá trình hình thành đồng bằng
sông Hồng; địa hình đồng bằng phù sa mới sen kẽ với những đầm nước gắn liền với
không gian vùng ven biển thuộc huyện Yên Khánh và huyện Kim Sơn.
Trải qua thời gian từ khoảng 1 vạn năm
đến 3 vạn năm những thế hệ người tiền sử mở rộng dần vùng sinh sống ra nhiều
nơi. Người tiền sử đã rời những thung lũng khép kín hướng về vùng biển để khai
thác hải sản, do đó những di tích mới phát hiện thuộc dãy đá vôi Tam Điệp, Nho
Quan, Hoa Lư, Yên Mô có xuất lộ vỏ nhuyễn thể biển: ốc nhảy, ngao dầu, cua, sò
huyết, hầu... Với một số dãy núi đá vôi ven biển ở Ninh Bình trong bối cảnh
thời tiền sử cư dân cổ ở đây gần như sống và khai thác cả hai hệ sinh thái là
nước ngọt (sông suối) và nước mặn (biển cả) đã làm nên một sắc thái văn hóa
riêng của người dân cổ trên đất Ninh Bình. Nguồn thức ăn chính của người nguyên
thủy là các loài nhuyễn thể như ốc suối và ốc núi. Bên cạnh đó cư dân cổ ở đây
còn biết tận dụng những điều kiện tự nhiên, bổ sung cho nguồn dinh dưỡng lấy từ
các loại củ, quả, hạt, săn bắt chim thú nhỏ. Giai đoạn sau họ đã biết làm đồ
gốm, làm nông nghiệp để bước sang giai đoạn kim khí sự có mặt của người tiền sử
rộng khắp trên đất Ninh Bình góp phần vào việc xây dựng nền Văn minh Đông Sơn
rực rỡ.
Với địa hình tự nhiên nhiều đồi núi,
hang động, lại có cả đồng bằng ven biển, ven sông, Ninh Bình là mảnh đất có bề
dày lịch sử, là nơi xuất hiện dấu tích của con người từ rất sớm. Không những
thế, vị trí địa lý giáp Thanh Hóa - nơi được coi là trung tâm của nền văn hóa
Đông Sơn, Ninh Bình có nhiều điều kiện thuận lợi để cư dân Đông Sơn sinh sống
và phát triển. Hiện nay, tại bảo tàng Ninh Bình có lưu giữ bộ sưu tập hiện vật
văn hóa Đông Sơn khá phong phú về loại hình. Trong đó, bộ sưu tập thạp đồng có
13 chiếc. Về cơ bản bộ sưu tập thạp đồng Đông Sơn tại bảo tàng Ninh Bình hiện
vẫn chưa được nghiên cứu, so sánh với các địa điểm đồng đại và lịch đại. Việc
nghiên cứu kỹ hơn bộ sưu tập thạp đồng Đông Sơn tại Ninh Bình sẽ góp thêm nguồn
tư liệu để nghiên cứu thạp đồng nói riêng cũng như nghiên cứu văn hóa Đông Sơn
nói chung.
2. Thạp đồng Đông Sơn ở Ninh Bình
2.1. Về mặt loại hình
Bộ sưu tập thạp đồng Đông Sơn tại Bảo tàng Ninh Bình chủ
yếu là thạp không có nắp. Thạp có hình trụ tròn, được trang trí cá c băng hoa văn chạy quanh thân. Phần miệng thạp có trang trí hai
quai hình chữ U lộn ngược. Các nhóm hoa văn chính vẫn
là các băng hoa văn dạng hình học, bên cạnh đó là hoa văn hình thuyền, tả cảnh
đời sống của con người như giã gạo. Trong số 13 chiếc thạp, 12 chiếc là thạp
không có nắp và 1 chiếc thạp minh khí.
Bảng 1. Bộ sưu tập thạp
đồng Đông Sơn tại Bảo tàng Ninh Bình
|
TT
|
Tên hiện vật
|
Cao (cm)
|
Đường kính miệng (cm)
|
Đường kính đáy (cm)
|
Quai, hoa văn
|
|
1
|
Thạp Ninh Bình I
|
27
|
25
|
24
|
Quai
hình chữ U lộn ngược, hoa văn hình học kết hợp hoa văn tả cảnh giã gạo
|
|
2
|
Thạp Ninh Bình II
|
22
|
22,5
|
19,9
|
Quai
hình chữ U lộn ngược, hoa văn hình học
|
|
3
|
Thạp Ninh Bình III
|
20,8
|
18
|
15,5
|
Quai
hình chữ U lộn ngược, hoa văn hình học
|
|
4
|
Thạp Ninh Bình IV
|
22,8
|
20,8
|
18,5
|
Quai
hình chữ U lộn ngược, hoa văn hình học
|
|
5
|
Thạp Ninh Bình V
|
20,9
|
18,5
|
15,4
|
Quai
hình chữ U lộn ngược, hoa văn hình học
|
|
6
|
Thạp Ninh Bình VI
|
20,5
|
18,4
|
16,1
|
Quai
hình chữ U lộn ngược, hoa văn hình học
|
|
7
|
Thạp Ninh Bình VII
|
21,9
|
20
|
17
|
Quai
hình chữ U lộn ngược, hoa văn hình học
|
|
8
|
Thạp Ninh Bình VIII
|
20,3
|
19,5
|
16,9
|
Quai
hình chữ U lộn ngược, hoa văn hình học
|
|
9
|
Thạp Ninh Bình IX
|
20,9
|
20
|
16,4
|
Quai
hình chữ U lộn ngược, hoa văn hình học
|
|
10
|
Thạp Ninh Bình X
|
23
|
20,7
|
19,4
|
Quai
hình chữ U lộn ngược, hoa văn hình học
|
|
11
|
Thạp Ninh Bình XI
|
22
|
21,5
|
18,5
|
Quai
hình chữ U lộn ngược, hoa văn hình học
|
|
12
|
Thạp Ninh Bình XII
|
21,5
|
21
|
17
|
Quai
hình chữ U lộn ngược, hoa văn hình học
|
|
13
|
Thạp Ninh Bình XIII (thạp
minh khí)
|
9
|
9
|
6
|
|
2.2. Chất liệu và kỹ thuật chế tác
Thạp đồng như tên gọi định hình và định chất của loại
hình hiện vật này. Thạp được chế tác từ nguồn nguyên liệu chủ yếu là đồng. Với
số lượng thạp tìm được thấy, để chế tác được số lượng nhiều như vậy thì phải có
nguồn nguyên liệu đồng khá dồi dào, phong phú; chủ nhân chế tác chúng phải là
cư dân biết khai thác, nấu luyện kim ở trình độ rất cao, làm chủ được kỹ thuật
chế tác tạo ra những sản phẩm có chất lượng cả về kỹ thuật và mỹ thuật.
Tại Bảo tàng Ninh Bình, chúng tôi đã tiến hành phân tích
thành phần hợp kim trên thân của một số mẫu thạp. Kết quả thu được như sau:
a. Mẫu thứ nhất:
Thạp không có nắp, phần
thân có bị gỉ và vỡ một vài chỗ. Ký hiệu KL 1364
Bảng 2. Kết quả phân tích thành phần hợp kim mẫu
1
|
1
|
Al 2 O 3
|
(%)
|
0,01
|
|
2
|
CaO
|
0,22
|
|
3
|
Fe 2 O 3
|
0,43
|
|
4
|
K 2 O
|
< 0,01
|
|
5
|
MgO
|
0,04
|
|
6
|
MnO
|
< 0,01
|
|
7
|
P 2 O 5
|
< 0,01
|
|
8
|
TiO 2
|
0,01
|
|
9
|
Ag
|
(ppm)
|
1.935,5
|
|
10
|
As
|
15.411,7
|
|
11
|
B
|
< 10
|
|
12
|
Ba
|
< 10
|
|
13
|
Be
|
< 5
|
|
14
|
Bi
|
9.816,7
|
|
15
|
Cd
|
< 2
|
|
16
|
Ce
|
< 5
|
|
17
|
Co
|
< 2
|
|
18
|
Cr
|
< 5
|
|
19
|
Cu
|
636.863,9
|
|
20
|
Ga
|
< 10
|
|
21
|
Ge
|
< 20
|
|
22
|
La
|
< 5
|
|
23
|
Li
|
< 5
|
|
24
|
Mo
|
< 5
|
|
25
|
Nb
|
< 5
|
|
26
|
Ni
|
370,7
|
|
27
|
Pb
|
70.042,8
|
|
28
|
Sb
|
< 10
|
|
29
|
Sc
|
9,9
|
|
30
|
Sn
|
121.133,2
|
|
31
|
Sr
|
< 5
|
|
32
|
Ta
|
< 10
|
|
33
|
V
|
128,8
|
|
34
|
W
|
168,2
|
|
35
|
Y
|
8,1
|
|
36
|
Zn
|
2.227,1
|
Kết quả phân tích cho
thấy ở mẫu thạp đồng này có chứa một lượng tương đối Fe 2 O 3 (sắt bị ô xi hóa). Đây cũng có thể là nguyên
nhân khiến cho hiện vật dễ bị gỉ và vỡ, nát.
Tỷ lệ Đồng (Cu) - Chì
(Pb) - Thiếc (Sn) lần lượt là 63,68% - 7,0% - 12.11%. Kết quả phân tích cho
thấy trong mẫu hợp kim để chế tác ra chiếc thạp này gồm 36 thành phần kim loại
nhưng thành phần chính vẫn là hợp kim Đồng - Chì - Thiếc. Việc có lẫn một tỷ lệ
sắt ô xít có thể là do nguồn nguyên liệu ban đầu. Trong hợp kim đồng - chì
- thiếc của chiếc thạp này đồng chiếm tỷ lệ rất cao (63,68%) .
b.
Mẫu thứ hai: Thạp
đồng có ký hiệu KL 1386
Bảng 3. Kết quả phân tích thành phần hợp kim mẫu
2
|
1
|
Al 2 O 3
|
(%)
|
0,01
|
|
2
|
CaO
|
3,65
|
|
3
|
Fe 2 O 3
|
0,32
|
|
4
|
K 2 O
|
< 0,01
|
|
5
|
MgO
|
0,33
|
|
6
|
MnO
|
0,01
|
|
7
|
P 2 O 5
|
< 0,01
|
|
8
|
TiO 2
|
0,04
|
|
9
|
Ag
|
(ppm)
|
705,7
|
|
10
|
As
|
12.094,7
|
|
11
|
B
|
< 10
|
|
12
|
Ba
|
< 10
|
|
13
|
Be
|
< 5
|
|
14
|
Bi
|
3.987,9
|
|
15
|
Cd
|
< 2
|
|
16
|
Ce
|
< 5
|
|
17
|
Co
|
< 2
|
|
18
|
Cr
|
92,6
|
|
19
|
Cu
|
485.889,8
|
|
20
|
Ga
|
< 10
|
|
21
|
Ge
|
< 20
|
|
22
|
La
|
79,6
|
|
23
|
Li
|
< 5
|
|
24
|
Mo
|
< 5
|
|
25
|
Nb
|
< 5
|
|
26
|
Ni
|
316,3
|
|
27
|
Pb
|
273.490,4
|
|
28
|
Sb
|
992,9
|
|
29
|
Sc
|
8,0
|
|
30
|
Sn
|
107.487,5
|
|
31
|
Sr
|
< 5
|
|
32
|
Ta
|
< 10
|
|
33
|
V
|
4,5
|
|
34
|
W
|
1.246,8
|
|
35
|
Y
|
< 5
|
|
36
|
Zn
|
3.503,6
|
Kết quả phân tích cho
thấy ở mẫu thạp đồng này có chứa một lượng rất ít Fe 2 O 3 (sắt bị ô xi hóa) so
với mẫu 1.
Tỷ lệ Đồng (Cu) - Chì
(Pb) - Thiếc (Sn) lần lượt là 48,58% - 27,34% - 10,74%. Kết quả phân tích cho
thấy trong mẫu hợp kim để chế tác ra chiếc thạp này gồm 36 thành phần kim loại
nhưng thành phần chính vẫn là hợp kim Đồng - Chì - Thiếc.
c. Mẫu thứ 3
Chiếc thạp đồng có ký
hiệu KL 1387. Thạp khá nguyên vẹn.
Bảng 4. Kết quả phân tích thành phần hợp kim mẫu
3
|
1
|
Al 2 O 3
|
(%)
|
3,47
|
|
2
|
CaO
|
8,94
|
|
3
|
Fe 2 O 3
|
2,88
|
|
4
|
K 2 O
|
< 0,01
|
|
5
|
MgO
|
0,23
|
|
6
|
MnO
|
0,03
|
|
7
|
P 2 O 5
|
< 0,01
|
|
8
|
TiO 2
|
0,36
|
|
9
|
Ag
|
(ppm)
|
1.988,1
|
|
10
|
As
|
8.321,5
|
|
11
|
B
|
< 10
|
|
12
|
Ba
|
< 10
|
|
13
|
Be
|
29,1
|
|
14
|
Bi
|
1.493,2
|
|
15
|
Cd
|
< 2
|
|
16
|
Ce
|
< 5
|
|
17
|
Co
|
< 2
|
|
18
|
Cr
|
120,4
|
|
19
|
Cu
|
67.617,6
|
|
20
|
Ga
|
2.721,7
|
|
21
|
Ge
|
< 20
|
|
22
|
La
|
45,5
|
|
23
|
Li
|
< 5
|
|
24
|
Mo
|
< 5
|
|
25
|
Nb
|
< 5
|
|
26
|
Ni
|
336,8
|
|
27
|
Pb
|
41.686,8
|
|
28
|
Sb
|
1.062,6
|
|
29
|
Sc
|
< 5
|
|
30
|
Sn
|
26.219,1
|
|
31
|
Sr
|
26,2
|
|
32
|
Ta
|
< 10
|
|
33
|
V
|
145,6
|
|
34
|
W
|
686,7
|
|
35
|
Y
|
30,5
|
|
36
|
Zn
|
2.101,5
|
Kết quả phân tích cho
thấy ở mẫu thạp đồng này có chứa một lượng Fe 2 O 3 (sắt bị ô xi hóa)
nhiều hơn so với mẫu 1 và mẫu 2.
Tỷ lệ Đồng (Cu) - Chì
(Pb) - Thiếc (Sn) lần lượt là 67,61% - 4,17% - 2,62%. Kết quả phân tích cho
thấy trong mẫu hợp kim để chế tác ra chiếc thạp này gồm 36 thành phần kim loại
nhưng thành phần chính vẫn là hợp kim Đồng - Chì - Thiếc. Trong hợp kim Đồng -
Chì - Thiếc của chiếc thạp này đồng chiếm tỷ lệ khá cao (67,61%) .
d.
Mẫu thứ 4
Chiếc thạp đồng có ký
hiệu KL 1392
Bảng 5. Kết quả phân tích thành phần hợp kim mẫu
4
|
1
|
Al 2 O 3
|
(%)
|
8,71
|
|
2
|
CaO
|
1,79
|
|
3
|
Fe 2 O 3
|
2,57
|
|
4
|
K 2 O
|
< 0,01
|
|
5
|
MgO
|
0,21
|
|
6
|
MnO
|
0,02
|
|
7
|
P 2 O 5
|
< 0,01
|
|
8
|
TiO 2
|
0,46
|
|
9
|
Ag
|
(ppm)
|
286,1
|
|
10
|
As
|
< 20
|
|
11
|
B
|
< 10
|
|
12
|
Ba
|
159,5
|
|
13
|
Be
|
< 5
|
|
14
|
Bi
|
646,0
|
|
15
|
Cd
|
< 2
|
|
16
|
Ce
|
< 5
|
|
17
|
Co
|
< 2
|
|
18
|
Cr
|
103,8
|
|
19
|
Cu
|
80.221,7
|
|
20
|
Ga
|
916,4
|
|
21
|
Ge
|
< 20
|
|
22
|
La
|
21,2
|
|
23
|
Li
|
11,8
|
|
24
|
Mo
|
< 5
|
|
25
|
Nb
|
< 5
|
|
26
|
Ni
|
123,7
|
|
27
|
Pb
|
29.199,0
|
|
28
|
Sb
|
99,1
|
|
29
|
Sc
|
< 5
|
|
30
|
Sn
|
787,4
|
|
31
|
Sr
|
12,6
|
|
32
|
Ta
|
131,3
|
|
33
|
V
|
43,8
|
|
34
|
W
|
387,2
|
|
35
|
Y
|
16,6
|
|
36
|
Zn
|
545,4
|
Kết quả phân tích cho
thấy ở mẫu thạp đồng này có chứa một lượng lớn gỉ đồng và thành phần
giống với keo xi măng (???)
Tỷ lệ Đồng (Cu) - Chì
(Pb) - Thiếc (Sn) lần lượt là 8,02% - 2,9% - 0,87%. Kết quả phân tích cho thấy
trong mẫu hợp kim để chế tác ra chiếc thạp này gồm 36 thành phần kim loại nhưng
thành phần chính vẫn là hợp kim Đồng - Chì - Thiếc. Trong hợp kim Đồng - Chì -
Thiếc của chiếc thạp này đồng chiếm tỷ lệ rất thấp. Có thể chiếc thạp này được
đúc (phục chế) lại.
Dù thạp
đồng đ ược sử dụng vào các mục đ ích khác nhau, nhưng về cơ
bản, đ ây là sản phẩm dân dụng, có tính thực tế trong đ ời
sống thường nhật. Chính vì thế, việc pha luyện kim loại không đ òi
hỏi trình đ ộ cao như pha luyện kim loại đ úc
trống đ ồng. Thành phần chính của chúng là đ ồng, thiếc,
chì, sắt và một số kim loại khác. Kỹ thuật đ úc thạp đ ồng
có phần đ ơn giản hơn kỹ thuật đ úc trống đ ồng,
bởi hình dáng thạp đ ơn giản chỉ là một khối gần hình trụ
tròn đ ều, không có nhiều đ ường gấp như
trống đ ồng, nhưng thông thường trống đ ồng chỉ
dùng đ ến ba mang khuôn: Hai mang tạo thân và một mang tạo mặt; nhưng
thạp đ ồng có khi phải dùng tới bốn mang khuôn. Đ ối với
loại thạp không có nắp thì dùng ba mang khuôn đ ể tạo thân
và đ áy; đ ối với loại có nắp rõ ràng người thợ phải sử
dụng ba mang khuôn tạo thân và đ áy, riêng phần nắp là một khuôn
riêng.
Kỹ thuật đúc thạp đồng
nói chung, đặc biệt là loại thạp đồng có nắp, trang trí hoa văn như ta đã thấy
không kém sự phức tạp, khó khăn như đúc trống đồng. Đối với thạp đồng không đòi
hỏi pha chế kim loại thích hợp bảo đảm độ vang của âm thanh như trống đồng,
chuông đồng, song những họa tiết phức tạp, tinh xảo, sắc nét với những chủ đề
đa dạng đòi hỏi tư duy thẩm mỹ cao không kém như khi đúc trống đồng. Hoa văn
trang trí trên thân thạp bao gồm: hoa văn hình muông thú (chim, hươu, nai); hoa
văn tả cảnh người nhảy múa hay cảnh sinh hoạt của con người (giã gạo); hoa văn
hình thuyền. Hầu hết những hình ảnh đó đều được sắp xếp ngược chiều kim đồng
hồ, không khác những hình khắc trên trống đồng Đông Sơn, gần như trở thành quy
luật. Xưa nay có nhiều ý kiến khác nhau về hiện tượng ngược chiều này. Qua
những hình khắc trên thân trống và thạp cũng như qua thực nghiệm và quan sát
cách làm khuôn ở những cơ sở đúc đồng hiện nay, ta thấy sở dĩ có hiện tượng đó
là do người nghệ nhân thời bấy giờ thường thuận tay phải, cũng giống như hiện
nay các nghệ nhân thường dùng tay phải khắc họa những hình ảnh từ trái sang
phải lên mặt trong khuôn đúc. Những hình ảnh đó khi in vào mặt ngoài thân hiện
vật sẽ trở thành những hình ảnh xếp sắp ngược chiều với hình ảnh khắc trên
khuôn, tức sẽ từ phải qua trái, ngược chiều kim đồng hồ như ta thấy (Trịnh Sinh
2017: 189).
2.3.
Hoa văn trang trí
Người nghệ nhân Đông
Sơn đã vận dụng trí tưởng tượng, khiếu thẩm mỹ và sự khéo léo của đôi bàn tay
trong trang trí đồ đồng. Những đồ đồng Đông Sơn được tạo tác rất tỷ mỷ, đẹp mắt
cả về hình dáng và hoa văn trang trí. Trong số hiện vật đồng, trống đồng là
loại hiện vật đã đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật tạo hình và trang trí của văn
hóa Đông Sơn. Bên cạnh đó, người nghệ nhân Đông Sơn cổ cũng dành nhiều thời
gian và tâm huyết cho việc tạo hình và trang trí các loại hiện vật khác, trong
đó có thạp đồng. Mặc dù, đây là một loại hiện vật mang tính thực dụng cao, chủ
yếu phục vụ cho sinh hoạt nhưng người nghệ nhân Đông Sơn cũng đã dùng bàn tay
và khối óc của mình để trang trí, tạo nên các đồ án hoa văn đẹp mắt. Hoa văn
trên các thạp đồng Đông Sơn ở Ninh Bình gồm các nhóm hoa văn chính: hoa văn
hình kỷ hà, hoa văn đề tài động vật, hoa văn tả cảnh đời sống sinh hoạt của con
người (cảnh giã gạo đôi). Những chiếc thạp được lưu giữ tại Bảo tàng Ninh Bình
với đủ các loại hình và kiểu trang trí hoa văn khác nhau đã cho chúng ta thấy
vai trò của thạp đồng trong đời sống của cư dân cổ cũng như bàn tay tài
hoa của các nghệ nhân Đông Sơn cổ tại nơi đây. Về hoa văn trang trí trên
thạp đồng Ninh Bình, chúng tôi tổng hợp thành những nhóm hoa văn như sau:
* Hoa văn hình kỷ hà
hay hình học đã xuất hiện trên đồ gốm thời Tiền sử. Ban đầu, hoa văn dạng hình
học được sử dụng nhằm mục đích gia tăng độ cứng và độ bền của đồ gốm. Khi kỹ
nghệ luyện kim và đúc đồng phát triển, cư dân cổ đã sử dụng các loại hoa văn
hình học trên đồ đồng. Chúng không chỉ mang tính kỹ thuật mà còn mang tính mỹ
thuật cao. Đặc biệt là sang giai đoạn văn hóa Đông Sơn, khi kỹ nghệ luyện kim
và đúc đồng đã đạt đến đỉnh cao, họ sử dụng nhiều đồ án hoa văn hình học khác
nhau để trang trí cho đồ đồng đẹp mắt hơn. Hoa văn hình kỷ hà trên thạp đồng
Đông Sơn bao gồm các nhóm:
+ Hoa văn đường chỉ
dài: Đây là loại hoa văn đơn giản nhất, nó là một đường chỉ dài được khắc chìm
hay đục nổi, trở thành một đường viền bao quanh phần thân của thạp đồng. Nó bao
quanh các băng hoa văn vòng quanh thân thạp. Có khi là một hoặc nhiều đường chỉ
chạy song song. Loại hoa văn này được trang trí phổ biến trên cả loại thạp có
nắp và không có nắp.
+ Hoa văn đường thẳng
ngắn song song: Thường tập hợp thành một băng dài gồm những đoạn thẳng ngắn
song song bố cục chạy vuông góc với các hoa văn đường chỉ dài là biên giới của
các băng hoa văn. Hoa văn dạng này tập trung ở phần miệng và thân phần gần đáy
thạp. Kiểu hoa văn này xuất hiện trên tất cả các thạp đồng trong sưu tập tại
Bảo tàng Ninh Bình.
+ Hoa văn đường dích
dắc (hay gấp khúc): Loại hoa văn này cũng không đứng riêng rẽ một mình mà nó
thường kết hợp với các hoa văn khác như đường kẻ ngắn để tạo thành các đồ án
hoa văn ở phần thân gần đáy thạp. Dạng hoa văn này gồm nhiều đoạn thẳng gấp
khúc đan vào nhau tạo thành những hình thoi.
+ Hoa văn vòng tròn
tiếp tuyến: Đây cũng là một loại hoa văn đơn giản, với nhiều kiểu dạng khác
nhau. Hoa văn gồm những vòng tròn tiếp tuyến có chấm tròn ở giữa. Loại hoa văn
này thấy rõ nhất trên phần thân thạp.
* Hoa văn
đề tài cảnh sinh hoạt của con người
Trong các loại hình đề
tài trang trí hiện thực, người nghệ nhân Đông Sơn còn dùng nhiều dạng hoa văn
miêu tả cảnh sinh hoạt của con người đương thời để trang trí trên đồ đồng,
trong đó có thạp đồng. Đó là những ngôi nhà cộng đồng, những cảnh đua thuyền,
những trò chơi dân gian, những điệu múa tập thể, cảnh giã gạo. Tất cả những
hoạt động trong đời sống sinh hoạt của cư dân Đông Sơn đã được người nghệ nhân
khéo léo khắc họa và bố cục tạo nên một bức tranh sống động, giúp cho chúng ta
phần nào hiểu được đời sống của cư dân cổ Đông Sơn.
2.4.
Niên đại
Bộ sưu tập thạp đồng
Đông Sơn tại Bảo tàng Ninh Bình là một trong số những loại hình di vật tiêu
biểu của thời kỳ văn hóa Đông Sơn có niên đại từ 2000 - 2500 BP.
3. Thạp đồng Đông Sơn ở Ninh Bình và các
mối quan hệ văn hóa
*
Thạp đồng Đông Sơn tại Ninh Bình với thạp đồng Đông Sơn tại Thanh Hóa
Thanh Hóa là nơi phát hiện ra di tích văn hoá Đông Sơn đầu
tiên . Cho đến nay số
lượng di tích và di vật thuộc văn hóa Đông Sơn được phát hiện tại Thanh Hóa
luôn chiếm số lượng lớn nhất. Tại Thanh Hoá, nơi phát hiện được nhiều nhất gần 100
di tích Đông Sơn và được phân bố trên khắp cả bốn miền của tỉnh từ đồng bằng,
trung du, miền núi đến miền biển. Văn hóa Đông Sơn là một sự hòa nhập, hội tụ
của các văn hóa tiền Đông Sơn mang đậm tính địa phương. Đông Sơn đã như “một
biển lớn đón nhận những dòng sông văn hóa tiền Đông Sơn khác nhau và Thanh Hóa
đã có một dòng sông văn hóa riêng đổ vào biển Đông Sơn”... Văn hoá Đông Sơn đã
đạt tính thống nhất văn hoá trên địa bàn rộng lớn, chứng tỏ sự hoà hợp các bộ
lạc để hình thành một Nhà nước sơ khai. Đó là Nhà nước Văn Lang thuở các vua
Hùng dựng nước mà Thanh Hoá bấy giờ thuộc bộ Cửu Chân. Vào thời kỳ này đã có
những làng xóm định cư lâu dài như Đông Sơn, Thiệu Dương...
Trong bộ sưu tập di vật đồng đồ sộ của văn hóa
Đông Sơn thì thạp đồng là một trong những loại hình di vật đặc biệt. Vùng đồng bằng và trung du Thanh Hóa, thạp
đồng tìm thấy chủ yếu trong các di tích văn hóa Đông Sơn, đặc biệt ở ngã ba
sông Mã - sông Chu như: Đông Sơn, Thiệu Dương, Đông Tiến. Ngoài ra ở ven biển
như Đa Bút (Vĩnh Lộc) hay vùng cao như Xuân Lập (Thọ Xuân), Làng Chác (Vĩnh
Lộc)…, cũng thấy những thạp đồng khá đẹp bên cạnh trống và những đồ đồng Đông
Sơn. Cho đến nay có thể nói, vùng sông Mã là khu vực tìm thấy nhiều thạp đồng nhất.
Theo thống kê chưa đầy
đủ, trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa đã phát hiện được gần 200 chiếc thạp đồng Đông
Sơn (riêng Bảo tàng Thanh Hóa lưu giữ hơn 60 chiếc). Diện phân bố nhiều nhất và
tập trung nhất ở các huyện vùng đồng bằng và trung du, thuộc lưu vực của hai
con sông lớn là sông Mã và sông Chu như: Đông Sơn, Thiệu Hóa, Yên Định, Vĩnh
Lộc, Thọ Xuân, Triệu Sơn, Nông Cống… (riêng huyện Thọ Xuân có tới 30 chiếc), ở
một số huyện miền núi như Thạch Thành, Bá Thước… cũng đã phát hiện được thạp
đồng Đông Sơn (Thân Thị Hằng 2023: 20).
So với bộ sưu tập thạp
đồng tại Thanh Hóa, bộ sưu tập thạp đồng tại Ninh Bình khiêm tốn hơn về số
lượng và kích thước. Thạp đồng ở Ninh Bình có kích thước nhỏ hơn, chủ yếu là
thạp không có nắp. Theo như nguồn gốc, xuất xứ của sưu tập thạp đồng này thì có
nhiều khả năng nhóm thạp đồng tại Ninh Bình có nguồn gốc từ Thanh Hóa.
* Thạp đồng Đông Sơn tại Ninh Bình với thạp Đông Sơn khu vực
đồng bằng Bắc Bộ
Thạp đồng văn hóa Đông Sơn được
phát hiện tại các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ tập trung vào khu vực hạ
lưu sông Hồng gồm các tỉnh như: Hà Nội (thạp Trung Mầu, Đa Tốn, Cổ
Loa 1, 2, 3; thạp Hà Nội, Châu Can 1, 2; Phú Xuyên 1, 2; Cộng Hòa, Thọ
Vực, Chợ Trầm, Phú Lương, Xuân La 1, 2, 3), tỉnh Hưng Yên (thạp Động
Xá, Trần Văn Mai 1, 2, 3), tỉnh Hải Dương (thạp Thượng Vũ, Kiệt
Thượng, Hoàng Lại), Hải Phòng (thạp Việt Khê 1, 2, 3; Thủy Đường),
tỉnh Hà Nam (thạp Ngọc Lũ 1, 2; Duy Tiên, Yên Bắc, Yên Từ 1, 2; Châu Sơn
1, 2 ), Nam Định (thạp đồng của gia đình Lê Quang Chức), Ninh Bình 1, 2,
3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10. Nhìn chung, thạp đồng phát hiện ở các tỉnh
đồng bằng Bắc bộ chủ yếu được phát hiện tình cờ, có một số được
phát hiện trong các đợt khai quật như thạp đồng Việt Khê 1, 2, 3; thạp
đồng Châu Can. Về loại hình thạp được phát hiện chủ yếu là loại
thạp đồng không nắp với hoa văn trang trí đơn giản gồm các đường tròn
kép có chấm ở giữa và vạch thẳng song song, thạp đồng thuộc loại
hình có nắp chiếm số lượng ít, hoa văn tinh xảo như thạp Trần
Văn Mai 1 (Hưng Yên), thạp đồng Hà Nội.
Bộ sưu tập thạp đồng Đông Sơn tại Ninh
Bình phát hiện với số lượng ít hơn. Tất cả đều là loại thạp không có nắp, trang
trí hoa văn và loại hình đơn giản hơn.
* Thạp đồng Đông Sơn tại Ninh
Bình với thạp đồng Yên Bái
Yên Bái nằm trên một địa bàn rộng lớn,
có thể nhận thấy các di chỉ khảo cổ học liên quan tới việc phát hiện những thạp
đồng ở Yên Bái. Thạp đồng Đông Sơn ở Yên Bái chủ yếu được phát hiện dọc hai con
sông Hồng và sông Chảy. Thạp đồng được phát hiện nhiều nhất ở lưu vực sông
Hồng.
Số lượng thạp đồng Đông Sơn phát hiện
được tuy nhiều nhưng kiểu dáng cũng như hoa văn trang trí tương đối đơn giản,
ít thay đổi nên việc phân loại có phần đơn giản, không phức tạp như phân loại
trống đồng. Căn cứ vào toàn bộ cấu trúc của thạp theo đó thạp được phân làm hai
loại: Thạp có nắp và không có nắp. Hiện nay trong kho cơ sở
Bảo tàng tỉnh Yên Bái hiện có tổng số 29 chiếc thạp, căn cứ vào cấu trúc thạp
và gờ miệng thạp, có 4 chiếc (và một chiếc hiện đang lưu giữ tại Bảo tàng Lịch
sử Quốc gia) thạp đồng thuộc loại có nắp; 25 chiếc còn lại thuộc loại không
nắp. Hầu hết những thạp có nắp tại kho cơ sở Bảo tàng tỉnh Yên Bái đều được
trang trí hoa văn mang tính nghệ thuật cao, không chỉ trên thân mà còn cả trên
nắp thạp. Một số thạp, trên nắp còn được gắn tượng người, động vật hay chim
muông như thạp Hợp Minh, nghệ thuật trang trí trên loại thạp này cũng cầu kỳ,
tỷ mỷ và tả cảnh sinh hoạt hết sức sinh động. Các thạp đồng không nắp tại kho
cơ sở bảo tàng tỉnh hầu hết có hình trụ tròn, hoa văn trang trí trên thân thạp
đơn giản như: băng răng lược, đường tròn đơn có chấm giữa, một số thạp có hoa
văn ô trám lồng, trang trí trên thân thạp tương đối giống nhau, đều là hoa văn
hình học đơn giản, quai hình chữ “U” ngược hoặc hình mui thuyền.
Với số lượng 29 chiếc, với đầy đủ loại
hình, hoa văn đặc trưng của nền văn hóa Đông Sơn. Thạp đồng đã chứng minh nó là
sản phẩm không thể thiếu trong đời sống tinh thần và thực tại của người Đông
Sơn ở Yên Bái. Người Đông Sơn đã rất chú trọng đến hoa văn trang trí trong khi
chế tác, thạp đồng như một sản phẩm nghệ thuật. Điển hình nhất là hai chiếc
thạp đã được Nhà nước công nhận bảo vật Quốc gia là thạp đồng Đào Thịnh 1 và
thạp đồng Hợp Minh. Cho đến ngày nay, thạp đồng vẫn còn sự ảnh hưởng, có giá
trị to lớn đối với đời sống những tầng lớp con cháu cư dân Đông Sơn ở Yên Bái (Nguyễn Hòa 2016: 51).
Bộ sưu tập thạp đồng tại Ninh Bình ít hơn
về số lượng. Hầu hết là thạp có kích thước vừa phải. Hoa văn trang trí trên
thân thạp đơn giản hơn. Không có nhiều đồ án hoa văn trang trí cầu kỳ như thạp
đồng Yên Bái .
* Thạp đồng Đông Sơn tại Ninh
Bình với thạp đồng khu vực sông Cả
Đối với khu vực sông Cả, thạp đồng tập
trung phát hiện được ở Nghệ An. Đó là địa điểm Làng Vạc, bên dòng sông Hiếu
(một chi của sông Cả) thuộc về xã Nghĩa Hòa, huyện Nghĩa Đàn và khu di tích
Đồng Mồ thuộc xã Hưng Thắng, huyện Hưng Nguyên bên dòng sông Cả. Qua nhiều lần
điều tra, thám sát và khai quật cũng như phát hiện ngẫu nhiên từ 1972 đến 2005,
các nhà khảo cổ học đã tìm thấy ở Làng Vạc 17 chiếc thạp trong các mộ táng
thuộc văn hoá Đông Sơn. Cho đến trước năm 2002, anh Lê Tài Bá đã tìm thấy 3
chiếc thạp cùng với nhiều di vật văn hoá Đông Sơn tại khu di tích Đồng Mồ. Vượt
qua tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Bình, nơi đây chưa tìm thấy thạp đồng, song ở Phong
Mỹ, huyện Phong Điền, Thừa Thiên Huế, năm 1998, nhân dân đã phát hiện một thạp
đồng còn khá nguyên vẹn bên cạnh trống đồng Đông Sơn loại I Hêgơ. Đây có lẽ là chiếc
thạp đồng duy nhất phát hiện được ở khu vực phía Nam của văn hoá Đông Sơn tính
đến thời điểm năm 2005. (Hà Văn Phùng 2008: 100).
* Thạp đồng Đông Sơn ở Ninh
Bình trong mối quan hệ với thạp đồng Đông
Sơn ở Nam Trung Quốc
Thạp đồng Đông Sơn ở Ninh Bình có
mối quan hệ chặt chẽ với văn hóa Đông Sơn, là một bộ phận không thể
tách rời của văn hóa Đông Sơn ở Việt Nam. Ngoài ra thạp đồng Đông Sơn ở
Ninh Bình nói riêng - Văn hóa Đông Sơn nói chung có mối quan hệ khá gần
gũi với văn hóa Điền ở các tỉnh phía Nam Trung Quốc thông qua sự trao
đổi thông thương về hàng hóa trong thời đại đồ sắt sớm.
Thạp đồng phát hiện ở Nam Trung Quốc không
nhiều. Theo tư liệu đã công bố, cho đến nay miền Nam Trung Quốc đã phát hiện
được khoảng 19 thạp đồng trong mộ Nam Việt Vương, mộ Bắc Lĩnh Tùng ở Quảng
Đông, mộ La Bạc Loan, mộ Cao Trại, địa điểm Ung Giang ở Quảng Tây và mộ Thiên
Tử Miếu ở Vân Nam. Đáng chú ý là, cho đến nay chưa phát hiện được thạp đồng
minh khí trên đất Nam Trung Quốc.
Cho đến nay, số lượng thạp đồng ở Nam
Trung Quốc phát hiện được không nhiều, chỉ khoảng 19 chiếc, phân bố khá rải rác
trên một phạm vi lớn gồm 3 tỉnh: Vân Nam, Quảng Đông, Quảng Tây. Trong khi đó
thạp đồng Đông Sơn phát hiện được với số lượng rất lớn (khoảng 280 chiếc),
trong đó có nhiều thạp to và đẹp, ngoài ra chưa kể đến nhiều thạp minh khí được
tìm thấy trong khu vực phân bố của văn hóa Đông Sơn. Điều này minh chứng hiển
nhiên rằng, Bắc Việt Nam là quê hương xuất xứ của loại thạp đồng Đông Sơn. Điều
này cũng phản bác quan điểm của các học giả Tưởng Đình Du và Lam Nhật Dũng cho
rằng, thạp đồng xuất hiện đầu tiên ở Vân Nam - Trung Quốc, sau đó lan tỏa sang
phía Đông đến vùng Lưỡng Quảng và xuống phía Nam tới miền Bắc Việt Nam. Có thể
nói, cư dân Nam Trung Quốc không có truyền thống chế tác và sử dụng thạp đồng
kiểu Đông Sơn. Đây là điểm khác biệt lớn và cũng là bằng chứng rất quan trọng
cho thấy văn hóa Đông Sơn có nguồn gốc phát triển tại chỗ, và có bản sắc văn
hóa riêng không pha trộn được. Cùng với trống đồng Đông Sơn, thạp đồng được coi
là một loại di vật tiêu biểu của văn hóa Đông Sơn của người Việt cổ (Trình Năng
Chung 2015 :
35 - 46 ).
Những chiếc thạp tìm thấy trong mộ Nam
Việt Vương, mộ La Bạc Loan, mộ Bắc Tùng Lĩnh, mộ Cao Trại và Thiên Từ Miếu có
rất nhiều điểm tương đồng với thạp Đông Sơn. Về kiểu dáng những chiếc thạp này
phần lớn là loại có miệng dày hơi bóp vào, thân nở, có quai hình chữ “U” ngược
hay quai hình mui thuyền rất giống với thạp Đông Sơn. Hoa văn trang trí trên
những chiếc thạp này chủ yếu là văn răng cưa, văn răng lược, văn vòng tròn tiếp
tuyến, văn vòng tròn đồng tâm, hồi văn gấp khúc hình quả trám, văn người hóa
trang nhảy múa, văn thuyền người hóa trang, văn hình kích (kích: một loại vũ
khí). Đó cũng là những hoa văn chủ yếu trang trí trên thạp đồng Đông Sơncác
thạp tìm thấy trong mộ Nam Việt Vương, mộ La Bạc Loan, mộ Bắc Tùng Lĩnh, mộ Cao
Trại và Thiên Từ Miếu có rất nhiều điểm tương đồng với thạp Đông Sơn. (Trình
Năng Chung 2015 :
35 - 46 ).
4. Kết luận
Trong số 13 chiếc thạp
đồng tại Bảo tàng Ninh Bình có 10 chiếc là do bên công an thu giữ của những
người buôn bán cổ vật trái phép, 2 chiếc do người dân hiến tặng cho Bảo tàng.
Chỉ có một chiếc thạp minh khí được phát hiện tại vùng Gia Viễn. Với địa hình
tiếp giáp với Thanh Hóa - cái nôi của văn hóa Đông Sơn. Cùng với những mô típ
trang trí trên thân thạp cho thấy: thạp đồng Ninh Bình có mối quan hệ mật thiết
với thạp đồng tại Thanh Hóa. Có nhiều khả năng nhóm thạp đồng do công an thu
giữ và bàn giao cho bảo tàng đều có nguồn gốc từ Thanh Hóa.
Về hình dáng: Thạp đều
có dáng hình trụ tròn, không có nắp. Hoa văn trang trí trên thân thạp chủ yếu
là hoa văn dạng hình học như: đường chỉ, khắc vạch, đường tròn tiếp tuyến. Chỉ
duy nhất có một chiếc thạp có trang trí hoa văn về đề tài cảnh sinh hoạt của
con người (cảnh giã gạo). Thành
phần hợp kim chính của thạp là đ ồng, thiếc, chì, sắt và một số kim
loại khác. Thạp được đúc bằng khuôn ba mang.
Bộ sưu tập thạp đồng tại
Ninh Bình tuy rất khiêm tốn về số lượng so với Thanh Hóa, Yên Bái và các khu
vực khác. Nhưng chúng cũng góp phần bổ sung rất lớn vào nguồn tư liệu về đồ
đồng nói chung và thạp đồng nói riêng của văn hóa Đông Sơn. Đồng thời góp phần
khẳng định về sự tồn tại và phát triển của văn hóa Đông Sơn tại vùng đất Ninh
Bình.
TÀI LIỆU DẪN
HÀ VĂN PHÙNG 2008. Thạp đồng Đông Sơn . Nxb. KHXH: 75,76,100.
NGUYỄN HÒA 2016. Thạp Đông Sơn ở Yên Bái . Luận văn cao học chuyên ngành Khảo cổ học: 51.
NGUYỄN CAO TẤN 2013. Phác họa bức tranh thời tiền sử trên đất Ninh
Bình. https://baoninhbinh.org.vn/phac-hoa-buc-tranh-thoi-tien-su-tren-dat-ninh-binh/d20130527045816771.htm
TRÌNH NĂNG CHUNG
2015. Thạp đồng Đông Sơn trong mối quan hệ với thạp đồng Nam Trung Quốc . Trong Khảo cổ học , số 2: 35 - 46.
TRỊNH SINH 2017 . Kỹ thuật đúc 2 chiếc thạp
đồng Thanh Hóa. Trong NPHMVKCH năm 2016 . Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội: 189.
THE COLLECTION OF ĐÔNG SƠN BRONZE JAR IN THE NINH BÌNH
MUSEUM
THÂN THỊ HẰNG
The collection of Đông
Sơn bronze jars in the Ninh Bình Museum includes 13 pieces. Of these, 10 were
handed over to the museum by the police, 3 were donated including 1 burial
bronze jar. The Đông Sơn bronze jars in Ninh Bình Museum are all lidless jars
with upside-down U-shaped handles. The decorative motifs on the jars' bodies
are mainly irregular patterns: long lines, tangent circles, double diamonds,
short lines and one depicting human labor scenes. The alloy components are
mainly: copper, lead, tin. Bronze jars in Ninh Bình Museum also have a very
close cultural relationship with the ones in Thanh Hóa, Yên Bái and other
neighboring regions. Although the collection of Đông Sơn bronze jars in Ninh
Bình Museum is quite modest in quantity compared to Thanh Hóa and Yên Bái, it
is quite rich in types. Further research on Đông Sơn bronze jars in Ninh Bình
Museum will contribute to clarify the Đông Sơn cultural period in Ninh Bình as
well as provide more datas on research of bronze jar in Vietnam.