Định vị dấu mốc năm 1941 trong tiến trình hoạt động cách mạng cứu nước, cứu dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh và gợi mở cho phát triển đất nước hiện nay
Bài viết làm rõ bước chuyển từ khát vọng tìm đường, nhận đường, trải nghiệm đến hiện thực hóa con đường cứu nước đã lựa chọn của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Từ những giá trị và bài học lịch sử ấy, bài viết gợi mở một số định hướng phát huy tinh thần tự lực, tự cường, khơi dậy nội lực, đổi mới tư duy, phương thức quản trị và củng cố tự chủ chiến lược, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Cổng Thông tin điện tử Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam trân trọng giới thiệu toàn văn bài viết tới bạn đọc!
1.Đặt vấn đề
Trong
di sản để tạo ra thời đại Hồ Chí Minh, tiến trình hoạt động cách mạng cứu nước,
cứu dân của Người có một giá trị đặc biệt. Tiến trình đó đã cho thấy quá trình
chuyển biến từ người thanh niên yêu nước nhiệt thành trở thành lãnh tụ của dân
tộc; đồng thời cũng là quá trình kiên trì, chủ động, sáng tạo, vững chí, có
trách nhiệm và tầm nhìn thời đại để tìm ra con đường cứu nước, cứu dân và đã
khai sáng con đường độc lập, tự do cho dân tộc Việt Nam. Đặc biệt, trong tiến
trình đó, có thể đúc kết một triết lý về tiến trình cứu nước, cứu dân của Hồ
Chí Minh mà ở đó đã có sự kết hợp giữa lòng yêu nước sâu sắc, khát vọng
mãnh liệt, trí tuệ uyên bác, chiến lược cách mạng mang tầm thời đại và hoài bão
lớn vì nước, vì dân. Triết lý về tiến trình cứu nước, cứu dân của Hồ Chí Minh
được minh chứng và thể hiện thông qua khát vọng “kép”: khát vọng tìm đường,
nhận đường, trải nghiệm đường và khát vọng hiện thực hóa con đường đã
chọn để tạo dựng quốc gia độc lập, tự do, tự lực, tự cường. Hai khát vọng
này được đánh dấu và định hình bởi hai dấu mốc: dấu mốc năm 1911 và
dấu mốc năm 1941.
2. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
Nghiên
cứu về tiến trình cứu nước, cứu dân của Hồ Chí Minh, nhất là muốn tiếp cận sâu
hơn để tìm hiểu, xem xét tính quy luật (triết lý) của tiến trình này, đòi hỏi
phải có cái nhìn toàn diện, kết hợp giữa tư duy lý luận và thực tiễn lịch sử.
Bởi vậy, cần phải có cách tiếp cận đa chiều, nghĩa là phải bao hàm và
tích hợp trong đó: tiếp cận từ bối cảnh lịch sử, tức là đặt hành trình
cứu nước, cứu dân của Hồ Chí Minh trong dòng chảy của lịch sử dân tộc và thế
giới đầu thế kỷ XX, từ đó để hiểu rõ sự bế tắc của các phong trào yêu nước
trước đó và thấy được tính đột phá trong sự lựa chọn của Người; tiếp cận từ
góc độ văn hóa để xem xét sự kết hợp giữa giá trị truyền thống
phương Đông (Nho giáo, Phật giáo) với tinh hoa nhân loại (tư tưởng tự do, bình
đẳng của phương Tây); đồng thời, phải dựa trên và gắn liền với cách tiếp cận
hệ thống, nghĩa là nhìn nhận con đường cứu nước, cứu dân không phải là
những sự kiện rời rạc, mà là một quá trình tiến hóa từ chủ nghĩa yêu nước đến
chủ nghĩa Mác - Lênin, từ giải phóng dân tộc đến giải phóng giai cấp và con
người.
Với
cách tiếp cận đó, phương pháp nghiên cứu chủ đạo mà bài viết sử dụng là phương
pháp lịch sử - logic: phương pháp lịch sử nhằm tái hiện chân thực các dấu
mốc (ra đi tìm đường cứu nước năm 1911, gặp luận cương của V.I.Lênin năm
1920,...); phương pháp logic giúp rút ra quy luật phát triển tư tưởng, chứng
minh tính đúng đắn và tất yếu của con đường cách mạng vô sản; phương pháp
liên ngành: sử dụng kiến thức từ chính trị học, xã hội học, tâm lý
học và quan hệ quốc tế để giải mã những quyết định chiến lược của Hồ Chí Minh
trong từng giai đoạn.
Việc
áp dụng đúng cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu không chỉ giúp làm sáng
tỏ tầm nhìn chiến lược của Hồ Chí Minh, mà còn rút ra những bài học
về sự sáng tạo, tính thích ứng và lòng kiên định của
Người trong việc giải quyết các vấn đề của thời đại.
3. Dấu mốc năm 1911 - Khát vọng tìm
đường, nhận đường và trải nghiệm đường cứu nước, cứu dân
Giai
đoạn từ giữa thế kỷ XVIII cho đến đầu thế kỷ XX, Việt Nam bị thực dân Pháp xâm
chiếm và đô hộ; dân tộc ta rơi vào cảnh mất nước, trở thành một xứ thuộc địa.
Trong bối cảnh đó, hiển nhiên rằng, người dân sẽ mất đi quyền tự do. Bởi vậy,
mong muốn giành lại độc lập cho dân tộc, đem lại tự do thực sự cho người dân là
khát vọng cháy bỏng của người dân Việt Nam lúc bấy giờ. Hơn thế nữa, đây không
chỉ là khát vọng, mà còn được hiện hữu bằng hành động thông qua những phong
trào phản kháng, cuộc khởi nghĩa, cuộc đấu tranh bạo động của các tầng lớp nhân
dân, nhất là của tầng lớp nhân sĩ, trí thức Việt Nam giai đoạn này. Hòa trong
xu thế chung đó, Hồ Chí Minh cũng có khát vọng lớn lao và ý thức được trách
nhiệm của mình trong việc giành lại độc lập cho dân tộc, đem lại tự do cho nhân
dân. Song, với nhãn quan chính trị siêu việt, Hồ Chí Minh nhận thấy, tất cả các
phong trào phản kháng, những cuộc khởi nghĩa, những cuộc đấu tranh bạo động đã
diễn ra trước đó đều không thành công vì có chung một điểm là, đều được tiến
hành dựa trên hệ tư tưởng cũ (hoặc mang bản chất phong kiến, hoặc mang bản chất
tư sản); từ đó chủ trương, để thực hiện khát vọng cứu nước, cứu dân thành công,
cần phải lựa chọn con đường khác mới hơn và dựa trên hệ tư tưởng thích hợp hơn,
văn minh hơn, tiến bộ hơn. Và, cũng từ đây, Hồ Chí Minh bắt đầu tiến trình hoạt
động cách mạng đầy trách nhiệm để cứu nước, cứu dân.
Mở
đầu cho tiến trình này chính là giai đoạn tìm đường cứu nước, cứu dân
được đánh dấu bằng sự kiện Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước diễn ra vào
ngày 5/6/1911. Hồ Chí Minh quyết định sang phương Tây để tìm hiểu những gì
ẩn giấu đằng sau những từ “Tự do”, “Bình đẳng”, “Bác ái”; để xem nước Pháp và
các nước khác làm như thế nào rồi sẽ trở về giúp đồng bào. Đây chính là sự tìm
đường để cứu nước, cứu dân: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi,
đấy là tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu” (Hồ Chí
Minh, 2006, tập 1: 111-112). Trong thời gian sinh sống tại Pháp, Hồ Chí Minh
tham gia hoạt động trong Đảng Xã hội Pháp, trở thành một trong những người sáng
lập viên của Đảng Cộng sản Pháp, nhờ đó nhận ra con đường và bắt đầu giai
đoạn nhận đường chân chính để cứu nước, cứu dân. Việc nhận ra được con
đường cứu nước, cứu dân đã đánh dấu bước ngoặt trong tiến trình hoạt động cách
mạng của Hồ Chí Minh, vì đây là con đường mang lại độc lập, tự do và hạnh phúc
thực sự cho dân tộc và nhân dân Việt Nam. “Luận cương của Lênin làm cho tôi rất
cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc
lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng
đông đảo: Hỡi đồng bào bị đọa đầy đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta,
đây là con đường giải phóng chúng ta!” (Hồ Chí Minh, 2011, tập 12: 562).
Xuất
phát từ tiền đề tìm đường và nhận đường cứu nước, cứu dân; để có
cơ sở cũng như niềm tin bền vững vào con đường đã chọn, Hồ Chí Minh quyết định
phải dấn thân và cảm nhận thấu hiểu trên thực tế. Đây chính là giai đoạn
trải nghiệm đường được đánh dấu bằng sự kiện Hồ Chí Minh bắt đầu sang nước
Nga, đến “quê hương” của cách mạng Tháng Mười – nơi đang thực hiện con đường
cách mạng vô sản đầu tiên trên thế giới. Từ trải nghiệm đường thực tế ở nước
Nga cũng như trong quá trình hoạt động cách mạng cứu nước, cứu dân ở các nước
và châu lục khác vào cuối những năm 20 và suốt những năm 30 của thế kỷ XX, Hồ
Chí Minh đã đi đến kết luận: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con
đường nào khác con đường cách mạng vô sản” (Hồ Chí Minh, 2011, tập 12: 30) và
“chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị
áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ” (Hồ Chí Minh,
2011, tập 12: 563). Giai đoạn trải nghiệm đường này khẳng định sự chuyển biến
mang tính chất bước ngoặt trong tư duy của Hồ Chí Minh, nghĩa là, theo Người,
phải có con đường cách mạng mới dựa trên hệ tư tưởng khoa học, cách mạng, đó
mới là cứu cánh thực sự chân chính cho dân tộc và nhân dân Việt Nam.
4. Dấu mốc năm 1941 - Khát vọng tạo lập quốc
gia độc lập, phát triển, tự lực, tự cường
Với
hành trang khát vọng tìm đường, nhận đường và trải nghiệm
đường trong 30 năm bôn ba hoạt động cách mạng ở nước ngoài, Hồ Chí Minh
quyết định trở về nước. Đây chính là tiến trình tiếp nối khát vọng lúc ra đi
nhằm vận dụng, cụ thể hóa và hiện thực hóa con đường đã chọn, trực tiếp thực
hiện khát vọng tạo lập quốc gia độc lập, phát triển, tự lực, tự cường.
Nhận
thấy tình hình trong nước và thế giới có nhiều biến chuyển mau chóng: Chính phủ
Pháp đầu hàng phát xít Đức (tháng 6-1940); phong trào đấu tranh giải phóng dân
tộc ở trong nước đã phát triển mạnh mẽ và chuyển mạnh đấu tranh vũ trang, Người
nhận định: “Là thời cơ thuận lợi cho cách mạng Việt Nam. Ta phải tìm mọi cách
về nước để tranh thủ nắm thời cơ. Chậm trễ lúc này là có tội với cách mạng” (Vũ
Anh, 1986: 14-15). Bởi vậy, ngày 28/1/1941, Hồ Chí Minh quyết định trở về nước
để tiếp tục thực hiện tiến trình hoạt động cứu nước, cứu dân của mình.
Để có thể tiếp tục tiến trình đã chọn và bắt đầu cho việc hiện thực hóa khát
vọng cứu nước, cứu dân, tại Cao Bằng, hoạt động để tạo lập quốc gia độc lập,
phát triển, tự lực, tự cường của Hồ Chí Minh đã được minh chứng và hiện diện
thông qua các sự kiện:
Một
là, Hồ Chí Minh chọn “căn cứ địa cách mạng” làm điểm tựa cho việc thực hiện
khát vọng trở về của mình.
Với
tầm nhìn của lãnh tụ cách mạng, Hồ Chí Minh đã chọn Cao Bằng - nơi hội tụ đủ cả
“thiên thời, địa lợi, nhân hòa” làm căn cứ địa để lãnh đạo cách mạng Việt Nam
nhằm hiện thực hóa con đường cứu nước, cứu dân. Bởi vì: “Căn cứ địa Cao
Bằng sẽ mở ra triển vọng lớn cho cách mạng nước ta. Cao Bằng có phong trào tốt
từ trước, lại kề sát biên giới, lấy đó làm cơ sở liên lạc quốc tế rất thuận
lợi. Nhưng từ Cao Bằng còn phải phát triển về Thái Nguyên và thông xuống nữa mới
có thể tiếp xúc với toàn quốc được. Có nối phong trào được với Thái Nguyên và
toàn quốc thì khi phát động đấu tranh vũ trang, lúc thuận lợi có thể tiến công,
lúc khó khăn có thể giữ” (Võ Nguyên Giáp, 2010: 37).
Như
vậy, sự kiện trở về nước năm 1941 chính là khai mở cho tiến trình bắt đầu hiện
thực hóa khát vọng tạo lập quốc gia độc lập, phát triển, tự lực, tự cường của
Hồ Chí Minh.
Hai
là, Hồ Chí Minh hoàn chỉnh và định hình chiến lược để hiện thực hóa khát vọng
tạo lập quốc gia độc lập, phát triển, tự lực, tự cường.
Sau
khi lựa chọn và đặt “căn cứ địa cách mạng”, vấn đề tiếp theo là phải hoạch định
chiến lược cách mạng mới để không chỉ đáp ứng với bối cảnh mới, mà còn đặt nền
móng định hướng cho toàn bộ hoạt động cách mạng trong tương lai. Như vậy, chiến
lược mới này phải kế thừa, hoàn chỉnh đường lối chiến lược, sách lược cách mạng
đã có trước đó; đồng thời bổ sung, sáng tạo, hợp thời đại để đáp ứng nhiệm vụ
cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới. Nhận thức rõ điều này, Hồ Chí Minh
triệu tập Hội nghị Trung ương 8 (tháng 5/1941) tại Pác Bó, Cao Bằng, để xác định chuyển
hướng chiến lược cách mạng Việt Nam, tập trung giải quyết mâu
thuẫn dân tộc, thành lập mặt trận thống
nhất đoàn kết dân tộc, đặt nhiệm vụ giải phóng dân
tộc lên hàng đầu, và chuẩn bị lực lượng cho Tổng khởi nghĩa, mở
đường cho thắng lợi Cách mạng tháng Tám năm 1945. Điều này thể hiện tầm nhìn và
quyết sách chiến lược của Hồ Chí Minh: Nhận diện kẻ thù: nhấn mạnh
kẻ thù chính, cấp bách nhất là phát xít Pháp - Nhật; xác
định nhiệm vụ hàng đầu: Đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên
trên hết, thay cho mục tiêu “tư sản dân quyền cách mạng”; thành lập Mặt trận
Việt Minh (thay cho Mặt trận Dân tộc thống nhất phản đế Đông Dương) nhằm
thi hành chủ trương đoàn kết rộng rãi, tập hợp mọi tầng lớp yêu nước (công -
nông - trí thức, phú nông, tư sản dân tộc,...); tiếp tục củng cố và xây dựng
lực lượng cũng như căn cứ địa nhằm phát triển mạnh phong trào cách mạng ở
nông thôn, miền núi, lập các đội tự vệ cứu quốc, du kích, xây dựng căn cứ địa
Việt Bắc. Với những nội dung cực kỳ quan trọng như vậy, chiến lược cách mạng
mới đã thể hiện rõ khát vọng giành độc lập cho dân tộc, đem lại tự do cho nhân
dân mà Hồ Chí Minh theo đuổi: “cốt thực hiện hai điều mà toàn thể đồng bào đang
mong ước: 1. Làm cho nước Việt Nam được hoàn toàn độc lập; 2. Làm cho dân Việt
Nam được sung sướng, tự do” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2000, tập 7: 470).
Có
thể nói, chiến lược cách mạng được thông qua tại Hội nghị Trung ương 8, khóa I
đã thể hiện rất rõ rằng, Hồ Chí Minh đã lãnh đạo tiến hành việc hoàn chỉnh,
chuyển hướng và định hình chiến lược để bắt đầu hiện thực hóa khát vọng
tạo lập quốc gia độc lập, phát triển, tự lực, tự cường.
Ba
là, Hồ Chí Minh tiếp tục củng cố, kiện toàn, xây dựng và phát triển chủ thể
lãnh đạo chiến lược để thực hiện khát vọng.
Để
có thể lãnh đạo và thực hiện chiến lược cách mạng mới, một vấn đề cấp bách và
có ý nghĩa sống còn đối với vận mệnh dân tộc là tất yếu phải có một chủ thể đủ
sức, đủ tầm, có bản lĩnh, trí tuệ, có trách nhiệm cao trong thực hiện và hoàn
thành nhiệm vụ đầy trọng trách mới. Điều đó có nghĩa, muốn đáp ứng được yêu cầu
cách mạng mới, cần phải tiếp tục củng cố, kiện toàn, xây dựng và phát triển chủ
thể lãnh đạo chiến lược để thực hiện khát vọng cứu nước, cứu dân. Chính từ đây,
Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 8 khóa I, dưới sự chỉ đạo của Hồ
Chí Minh, đã cử ra Ban Chấp hành Trung ương Đảng và bầu đồng chí Trường Chinh
làm Tổng Bí thư nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với phong trào cách
mạng ngày càng phát triển rộng khắp, mạnh mẽ.
Có
thể nói, việc bầu Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Hội nghị Ban Chấp hành
Trung ương Đảng lần thứ 8 khóa I chính là sự kiện minh chứng cho tầm nhìn của
Hồ Chí Minh về vấn đề giao trọng trách cho một chủ thể lãnh đạo chiến lược
bản lĩnh, trí tuệ để lãnh đạo, tổ chức triển khai thực hiện khát vọng tạo lập
quốc gia độc lập, phát triển, tự lực, tự cường.
Bốn
là, dấu mốc năm 1941 còn đặt tiền đề và truyền cảm hứng cho các giai đoạn cách
mạng sau này.
Có
thể nhận thấy rõ, dấu mốc năm 1941 và đặc biệt là từ sự kiện Hội nghị Ban Chấp
hành Trung ương Đảng lần thứ 8 khóa I với chiến lược cách mạng đúng đắn, rất
sát hợp với thời cuộc đã đưa lại một ý nghĩa đặc biệt: đánh dấu sự thay đổi căn
bản nhận thức về nhiệm vụ hiện thời của cách mạng Đông Dương; hoàn chỉnh sự chuyển
hướng chiến lược của Đảng; đặt nền tảng để Đảng định ra những quyết sách lớn vì
dân tộc, vì nhân dân nhằm đoàn kết rộng rãi mọi lực lượng yêu nước, xây dựng
lực lượng quần chúng cách mạng, xây dựng căn cứ địa cách mạng và lực lượng vũ
trang, quán triệt tư tưởng tích cực chuẩn bị mọi mặt, tiến tới khởi nghĩa vũ
trang trên phạm vi cả nước, giành chính quyền về tay nhân dân; tạo bước chuyển
quan trọng, chuẩn bị mọi mặt cho Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945.
Rõ
ràng, sự kiện trở về nước năm 1941 của Hồ Chí Minh đã thể hiện tư duy chiến
lược, sự hiểu biết sâu rộng, dự tính, đoán định được hiện tại và triển vọng
tương lai của cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam; đồng thời truyền cảm hứng
mạnh mẽ cho khát vọng tạo lập quốc gia độc lập, phát triển, tự lực, tự cường
của cách mạng Việt Nam ở các giai đoạn sau này. Điều đáng chú ý ở Hồ Chí Minh
là: mọi công việc, nhất là đấu tranh cách mạng đều phải tự lực, tự cường, phát
huy lực lượng nhân dân. “Đối với tôi, câu trả lời đã rõ ràng: trở về nước, đi
vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra
đấu tranh giành tự do độc lập” (Hồ Chí Minh, 2011, tập 1: 209).
5. Tiếp nối khát vọng của Chủ tịch Hồ Chí
Minh, đất nước tự lực, tự cường, tự chủ chiến lược để bước vào kỷ nguyên vươn
mình của dân tộc
Ý
nghĩa cực kỳ quan trọng của dấu mốc 1941 chính là sự khởi đầu khát vọng tạo lập
quốc gia độc lập, phát triển, tự lực, tự cường mà Hồ Chí Minh tạo dựng không
những vẫn còn vẹn nguyên giá trị, mà còn là mệnh lệnh thời đại cho kỷ nguyên
mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Để tiếp nối khát vọng tạo lập quốc gia
độc lập, phát triển, tự lực, tự cường của Chủ tịch Hồ Chí Minh, dưới sự lãnh
đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đất nước đang tích cực tạo dựng các điều kiện;
kích hoạt và phát huy các nguồn lực; đột phá, sáng tạo trong triển khai; thực
hiện chuyển đổi số; định hình và thể hiện một tâm thế cách mạng mới với bản
lĩnh, trí tuệ và trách nhiệm lớn lao trước vận mệnh của dân tộc. Sự tiếp nối
khát vọng của dấu mốc năm 1941 được minh chứng và hiện diện trên các phương
diện sau:
Thứ
nhất, tiếp tục thấm nhuần, quán triệt và phát huy tinh thần tự lực, tự cường
của dấu mốc năm 1941.
Thời
gian vừa qua đã và đang chứng minh, đất nước muốn bứt phá đi lên, trở thành quốc
gia phát triển, hùng cường thì phải tiếp tục đổi mới sáng tạo để tiến vào kỷ
nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Muốn vậy, Đảng phải lãnh đạo dân
tộc tiếp bước và hiện thực hóa, cụ thể hóa khát vọng tạo lập quốc gia độc lập,
phát triển, tự lực, tự cường của Hồ Chí Minh. Và, chính điều này sẽ góp phần
làm tiền đề cho dân tộc vươn mình. Dân tộc vươn mình thông qua việc kích
hoạt và phát huy các lợi thế từ dấu mốc năm 1941 để lại: lợi thế tinh thần từ
khát vọng tự lực, tự cường được Hồ Chí Minh khởi xướng và truyền lại; lợi
thế tầm nhìn từ các quyết sách chiến lược cách mạng được hình thành từ Hội
nghị Trung ương 8 khóa I; lợi thế từ việc tập hợp và huy động các lực lượng
cách mạng làm nguồn lực cho phát triển mà Người đã làm. Trong bối cảnh tình
hình thế giới, khu vực liên tục có sự biến đổi khó đoán định, tạo ra cả cơ hội
và thách thức; ở trong nước, “dịch bệnh, thiên tai, bão lũ, biến đổi khí hậu
cùng một số khó khăn về địa chính trị, địa kinh tế và một số vấn đề kinh tế -
xã hội khác dồn dập xảy ra” (Báo Điện tử Chính phủ, 2025c); bởi vậy, hơn lúc
nào hết, Việt Nam phải “tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc” để
tiếp bước dấu mốc đặc biệt năm 1941 trên con đường phát triển, mở ra kỷ nguyên
mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Đặc
biệt, trong giai đoạn cách mạng mới hiện nay, cần phải “kiên định, tự chủ, sáng
tạo với quyết tâm và nỗ lực đặc biệt lớn, ban hành nhiều chủ trương, chính
sách, quyết sách chiến lược mang tầm đương đại, đột phá để lãnh đạo Nhân dân cả
nước hoàn thành toàn bộ các mục tiêu, chỉ tiêu, yêu cầu, chương trình, kế hoạch
mà Đại hội XIII đã đề ra, tạo ra tiềm năng mới, động năng mới, không gian phát
triển mới cho đất nước trong kỷ nguyên mới. Trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng
phải giữ vững tinh thần tự chủ chiến lược, tự lực, tự cường của đất nước”
(Báo Điện tử Chính phủ, 2025c).
Thứ
hai, tìm nội động lực mới cho phát triển.
Một
bài học lớn được Chủ tịch Hồ Chí Minh đúc kết từ dấu mốc năm 1941 là, cách mạng
chỉ thực sự thắng lợi khi chúng ta biết “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”
(Hồ Chí Minh, 2011, tập 3: 596). Đó là chân lý được đúc kết trong suốt tiến
trình bôn ba tìm đường cứu nước, cứu dân và quá trình dày công trải nghiệm,
nuôi dưỡng “sức mạnh nhân dân” của Chủ tịch Hồ Chí Minh để khi thời cơ đến thì
chớp lấy, hành động mau lẹ, thực hiện bằng được nhiệm vụ giải phóng dân tộc,
mang lại tự do cho nhân dân. Đây còn là bài học có tính quy luật của cách mạng
Việt Nam, trong bất cứ hoàn cảnh và giai đoạn nào, sự nghiệp cách mạng chỉ có
thể thành công khi tìm ra, kích hoạt và phát huy được nội động lực để
phát triển đi lên.
Hiện
nay, khi đất nước đang bước vào kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình của dân
tộc, bài học chân lý này đã, đang và sẽ phải được tiếp tục, truyền trao, phát
huy, tạo xung lực mới cho nội động lực phát triển của dân tộc. Theo đó, phải
“khơi dậy mạnh mẽ truyền thống yêu nước, khát vọng phát triển, tinh thần đoàn
kết, ý chí tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc; phát huy sức mạnh
văn hóa, con người thành nguồn lực nội sinh và động lực mạnh mẽ cho sự phát
triển. Đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển nhanh, bền vững
đất nước, kiên quyết tháo gỡ kịp thời, dứt điểm các điểm nghẽn, nút thắt, khơi
thông và giải phóng sức sản xuất, mọi nguồn lực, phát huy mọi động lực. Xác lập
mô hình tăng trưởng mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, lấy khoa học
công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia là động lực chính; phát huy
vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, phát triển kinh tế tư nhân là một động
lực quan trọng nhất; hoàn thiện thể chế phát triển gắn với thực hiện đồng bộ:
Chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, chuyển đổi cơ cấu và
nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; thu hút, trọng dụng nhân tài, đẩy mạnh phát
triển lực lượng sản xuất mới” (Báo Nhân dân điện tử, 2026).
Thứ
ba, tiếp tục bài học xây dựng “căn cứ địa cách mạng”, triển khai cách mạng về
hệ thống chính trị và chuyển mạnh sang phương thức hoạt động quản trị.
Như
trên đã phân tích, với những tư tưởng đúng đắn, sáng tạo về căn cứ địa, cùng
với tầm nhìn chiến lược, Hồ Chí Minh đã phát hiện ra Cao Bằng là nơi hội tụ đủ
những điều kiện cần thiết của một căn cứ địa cách mạng, trên cơ sở đó, có thể
tạo thế để xây dựng, phát triển những căn cứ cách mạng trong cả nước. Và, cũng
từ đây, những quyết sách chiến lược cách mạng đúng đắn, sáng tạo, kịp thời được
đưa vào thực tiễn một cách nhanh chóng, linh hoạt, tạo ra làn sóng cách mạng để
tiến tới thành công.
Xuất
phát, tiếp bước và phát huy vị thế, ý nghĩa quan trọng của việc xây dựng, phát
triển “căn cứ địa cách mạng” này, Đảng ta đã và đang triển khai tiến hành trong
cả nước cuộc cách mạng về tổ chức bộ máy tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực,
hiệu quả. Đồng thời, đây cũng chính là thời điểm thực hiện tiến trình cách mạng
toàn diện, đồng bộ trong sắp xếp về tổ chức, bộ máy của hệ thống chính trị
không chỉ từ phương diện tổ chức: triển khai ở tất cả các cơ quan Đảng,
Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội; tái cấu trúc mô hình chính quyền địa
phương (sáp nhập tỉnh, chuyển từ 3 cấp: tỉnh - huyện - xã sang 2 cấp: tỉnh
– xã); mà còn cả trên phương diện cấu trúc vận hành: triển khai
trên tất cả các cấu trúc hợp thành của hệ thống chính trị, từ thể chế vận
hành (Hiến pháp, pháp luật, chính sách công, các quy định nhà nước,…), đến thiết
chế hoạt động (bộ máy, tổ chức, cơ quan, đơn vị,…), chủ thể thực thi
(đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức,…), xác định tiêu chí triển khai
(rõ người, rõ việc, rõ lộ trình, rõ trách nhiệm, rõ kết quả), phương thức
hoạt động (phân cấp, phân quyền để địa phương quyết, địa phương làm, địa
phương chịu trách nhiệm,…).
Đi
liền với đó, để đảm bảo cho cuộc cách mạng về sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ
thống chính trị thực sự phát huy hiệu quả, Đảng ta đã tiếp tục tinh thần đổi
mới tư duy, đổi mới cách làm, đổi mới phương thức quản trị quốc gia theo phương
châm kiến tạo và vì dân. Theo đó, “chúng ta phải khẳng định rõ hơn mô hình quản
trị quốc gia trong giai đoạn tới: quản trị dựa trên pháp luật minh bạch, dữ
liệu tin cậy, hạ tầng số hiện đại, bộ máy tinh gọn, cán bộ liêm chính, kỷ cương
đi đôi với phục vụ. Quản trị như vậy là quản trị kiến tạo phát triển, không
phải quản trị xin - cho” (Báo Điện tử Chính phủ, 2025a). Hơn thế nữa, ở đây,
cần phải nghiêm túc quán triệt tinh thần chỉ đạo trong Kết luận số 226-KL/TW
ngày 11/12/2025 của Ban Bí thư “về việc chấn chỉnh lề lối làm việc, nâng cao
hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị”. Theo đó, cần phải “ban hành văn bản
theo hướng đơn giản hóa và rút gọn, tích hợp các quy trình, thủ tục trong ban
hành văn bản”, “thực hiện tinh giản 10% số lượng hội nghị hằng năm, số lượng
hội nghị trực tiếp chiếm không quá 40% và số lượng hội nghị trực tuyến chiếm
không ít hơn 60% tổng số hội nghị trong năm”; “một năm cấp tỉnh tổ chức không
quá 2 hội nghị có quy mô toàn tỉnh, cấp xã tổ chức không quá 3 hội nghị có
quy mô toàn xã”; “các hội nghị quán triệt, phổ biến nghị quyết, chỉ thị, chủ
trương lớn có thời gian họp không quá ½ ngày; các hội nghị chuyên môn, nghiệp
vụ có thời gian họp không quá 1 ngày; các hội nghị quan trọng của bộ, ngành,
địa phương cần thảo luận thì có thời gian họp không quá 1,5 ngày” (Xem: Báo
Điện tử Chính phủ, 2025b).
Thứ
tư, cần phải tiếp tục đột phá tư duy và hành động quyết liệt.
Điểm
rất đặc biệt từ dấu mốc năm 1941 là đã thể hiện một sự đột phá tư duy của Chủ
tịch Hồ Chí Minh. Thông qua sự kiện chọn Cao Bằng để trở về lãnh đạo cách mạng
và triệu tập Hội nghị Trung ương lần thứ 8 khóa I cho thấy, ở Người có sự chín
muồi trong suy nghĩ, tầm nhìn và tư duy chiến lược, bản lĩnh và quyết tâm chính
trị quyết đoán, đổi mới và đột phá trong hành động, dám chịu trách nhiệm trước
lịch sử, sẵn sàng dấn thân vì nước, vì dân. Bởi vậy, trong tiến trình thực hiện
sự nghiệp cách mạng hiện nay, Đảng phải “không ngừng đổi mới tư duy, nhất là tư
duy chiến lược; tôn trọng quy luật khách quan; nhất quán, kiên định về chiến
lược, linh hoạt, mềm dẻo về sách lược; chủ động ngăn ngừa, phòng, chống bệnh
chủ quan duy ý chí, giáo điều, cơ hội, bảo thủ” (Báo Nhân dân điện tử, 2026).
Với tinh thần đột phá phát triển, cách mạng Việt Nam hiện nay tất yếu phải kế
thừa và tiếp tục bài học này theo phương châm hành động quyết liệt. Để tiếp nối
bài học này một cách thiết thực, hiệu quả và thực sự đem lại lợi ích cho nhân
dân, phục vụ nhân dân tốt hơn, việc đột phá tư duy và hành động quyết liệt này
cần phải được triển khai quyết liệt, mạnh mẽ và đồng bộ trên tất cả các lĩnh
vực hoạt động của đất nước mà Tổng Bí thư Tô Lâm đã chỉ ra: “Đột phá ở đây
không chỉ là làm một số “việc mới” mà là đổi mới tư duy để dám “chạm” vào những
điểm nghẽn thật sự: thể chế, bộ máy, chất lượng nguồn nhân lực, năng lực quản
trị, kỷ luật công vụ; để đất nước vận hành thông suốt hơn, công bằng hơn, minh
bạch hơn, hiệu quả hơn” (Báo Điện tử Chính phủ, 2025d).
Đây
chính là đột phá tư duy phát triển để kế thừa, tiếp tục phát huy và lan tỏa khát
vọng đột phá tư duy của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Thứ
năm, tiếp tục hành trình khát vọng của mùa xuân năm 1941 để thực hiện khát vọng
của mùa xuân năm 2026.
Khát
vọng của dấu mốc năm 1941 chính là khát vọng của mùa xuân tạo lập quốc gia độc
lập, phát triển, tự lực, tự cường được Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi tạo và truyền
lại cho các thế hệ cách mạng mai sau. Sự tiếp nối và hiện thực hóa khát vọng ấy
được thể hiện rõ nét, mang ý nghĩa đặc biệt, khi đất nước bước vào mùa xuân năm
2026, gắn với sự kiện chính trị trọng đại - Đại hội lần thứ XIV của Đảng. “Đại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV là một sự kiện chính trị trọng đại của Đảng
và dân tộc ta, là một dấu mốc lịch sử của đất nước trong thời đại Hồ Chí Minh,
đánh dấu sự hội tụ truyền thống ngàn năm văn hiến của dân tộc để vươn mình
trong kỷ nguyên mới” (Báo Điện tử Chính phủ, 2025c). Đây chính là sự tiếp bước,
kết nối, lan tỏa khát vọng mùa xuân năm 1941 thành khát vọng của đất nước năm
2026 thông qua sự kiện Đại hội Đảng lần thứ XIV: “Đất nước từ Đại hội XIV của
Đảng bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên phát triển, giàu mạnh, thực hiện thắng
lợi hai mục tiêu chiến lược 100 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng, 100 năm thành
lập nước, đến năm 2045, nước ta trở thành nước phát triển, có thu nhập cao, tạo
nền tảng thực hiện khát vọng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, xây dựng thành công chủ
nghĩa xã hội” (Vietnam+, 2025).
6.
Kết luận
Dấu
mốc năm 1941 là dấu mốc đặc biệt trong tiến trình hoạt động cách mạng của Hồ
Chí Minh – dấu mốc khởi đầu hiện thực hóa khát vọng tạo lập quốc gia độc lập,
phát triển, tự lực, tự cường. Chúng ta hy vọng và tin tưởng rằng, dưới ánh sáng
của Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIV, với sự lãnh đạo quyết liệt đầy trách
nhiệm thông qua những quyết sách chiến lược mang tầm thời đại của Ban Chấp hành
Trung ương và sự đồng thuận, đồng tâm, đồng sức, đồng khát vọng của nhân dân cả
nước, Việt Nam sẽ tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, phát triển và vững bước vào
kỷ nguyên mới của dân tộc./.
Tài
liệu tham khảo
1. Báo
Điện tử Chính phủ. (2025a). Phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Quốc hội về
dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng ( https://baochinhphu.vn/phat-bieu-cua-tong-bi-thu-to-lam-tai-quoc-hoi-ve-du-thao-van-kien-dai-hoi-xiv-cua-dang-102251104143831964.htm).
Truy cập ngày 04/11/2025.
2.
Báo Điện tử Chính phủ. (2025b). Toàn văn: Kết luận số 226-KL/TW chấn chỉnh
lề lối làm việc, nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị
(https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/toan-vanket-luan-so-226-kl-tw-chan-chinh-le-loi-lam-viec-nang-cao-hieu-qua-hoat-dong-cua-he-thong-chinh-tri-119251213193242841.htm).
Truy cập ngày 15/12/2025.
3. Báo
Điện tử Chính phủ. (2025c). Phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm bế mạc Hội nghị
Trung ương 15 khóa XIII (https://baochinhphu.vn/phat-bieu-cua-tong-bi-thu-to-lam-be-mac-hoi-nghi-trung-uong-15-khoa-xiii-102251223102930575.htm).
Truy cập ngày 23/12/2025.
4.
Báo Điện tử Chính phủ. (2025d). Tổng Bí thư Tô Lâm: Phát huy trí tuệ và
bản lĩnh Việt Nam vững bước tiến mạnh trong kỷ nguyên phát triển mới (https://baochinhphu.vn/tong-bi-thu-to-lamphat-huy-tri-tue-va-ban-linh-viet-nam-vung-buoc-tien-manh-trong-ky-nguyen-phat-trien-moi-102251231132355343.htm).
Truy cập ngày 31/12/2025.
5.
Báo Nhân dân điện tử. (2026a). Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung
ương Đảng khóa XIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (https://nhandan.vn/bao-cao-chinh-tri-cua-ban-chap-hanh-trung-uong-dang-khoa-xiii-tai-dai-hoi-dai-bieu-toan-quoc-lan-thu-xiv-cua-dang-post941769.html).
Truy cập ngày 06/02/2026.
6. Báo
Nhân dân điện tử. (2026b). Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương
Đảng khóa XIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (https://nhandan.vn/bao-cao-chinh-tri-cua-ban-chap-hanh-trung-uong-dang-khoa-xiii-tai-dai-hoi-dai-bieu-toan-quoc-lan-thu-xiv-cua-dang-post941769.html).
Truy cập ngày 06/02/2026.
7. Đảng
Cộng sản Việt Nam. (2000). Văn kiện Đảng toàn tập. Tập 7. Hà Nội: Nxb.
Chính trị quốc gia.
8. Hồ
Chí Minh. (2006). Biên niên tiểu sử. Tập 1. Hà Nội: Nxb. Chính trị quốc
gia.
9. Hồ
Chí Minh. (2011). Toàn tập. Tập 1. Hà Nội: Nxb. Chính trị quốc gia.
10. Hồ
Chí Minh. (2011). Toàn tập. Tập 12. Hà Nội: Nxb. Chính trị quốc gia.
11. Hồ
Chí Minh. (2011). Toàn tập. Tập 3. Hà Nội: Nxb. Chính trị quốc gia.
12. Vietnam+.
(2025). Tổng Bí thư Tô Lâm: Khơi dậy ý chí quật cường, quyết tâm học tập,
làm theo Bác (https://www.vietnamplus.vn/tong-bi-thu-to-lam-khoi-day-y-chi-quat-cuong-quyet-tam-hoc-tap-lam-theo-bac-post1085123.vnp).
Truy cập ngày 25/12/2025.
13. Võ
Nguyên Giáp. (2010). Những chặng đường lịch sử. Hà Nội: Nxb. Chính
trị quốc gia.
14.
Vũ Anh. (1986). Bác Hồ về nước. Hội Văn học nghệ thuật Cao Bằng.