Đổi mới sáng tạo trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo - động lực mới cho phát triển tại Việt Nam
Hưởng ứng tinh thần “Đổi mới sáng tạo - Động lực phát triển của toàn xã hội”, trí tuệ nhân tạo (AI) đang mở thêm cách thức để con người tạo ra tri thức, sản phẩm và dịch vụ mới. Với Việt Nam, AI có thể giúp tăng năng suất, cải thiện chất lượng quản lý và giải quyết những vấn đề gần gũi trong sản xuất, kinh doanh, giáo dục, y tế và đời sống. Tuy nhiên, công nghệ chỉ trở thành động lực phát triển khi được ứng dụng vào nhu cầu thật, có con người làm chủ và lợi ích được chia sẻ rộng rãi.
Anh-tin-bai
Mô hình nông nghiệp thông minh tại Việt Nam. Nguồn: FAO (2025).

1. Trí tuệ nhân tạo mở rộng không gian đổi mới sáng tạo

Đổi mới sáng tạo là quá trình biến ý tưởng và tri thức thành sản phẩm, dịch vụ, cách làm hoặc mô hình hoạt động đem lại giá trị. AI góp phần thúc đẩy quá trình ấy nhanh hơn, linh hoạt hơn. Công nghệ có thể hỗ trợ phân tích lượng dữ liệu lớn, nhận diện xu hướng, tự động hóa công việc lặp lại, gợi ý phương án và rút ngắn thời gian thử nghiệm. Nhờ vậy, tổ chức có thêm cơ sở để hiểu nhu cầu, dự báo thay đổi và điều chỉnh hoạt động kịp thời.

Giá trị của AI không chỉ nằm ở việc thay thế một thao tác thủ công. Khi được dùng đúng cách, AI giúp người lao động tập trung hơn vào phán đoán, giao tiếp và sáng tạo; giúp doanh nghiệp thử nghiệm dịch vụ mới với chi phí phù hợp; giúp cơ quan nghiên cứu xử lý dữ liệu nhanh hơn. Đổi mới vì thế có thể xuất hiện từ phòng thí nghiệm, doanh nghiệp lớn, hợp tác xã, cơ quan công quyền đến những cải tiến nhỏ tại nơi làm việc. AI là công cụ tăng cường năng lực con người, còn mục tiêu và trách nhiệm cuối cùng vẫn thuộc về con người.

2. Cơ hội phát triển của Việt Nam

Việt Nam có thể ứng dụng AI vào các lĩnh vực gắn trực tiếp với năng suất và chất lượng cuộc sống. Trong nông nghiệp, công cụ phân tích hình ảnh và dữ liệu thời tiết có thể hỗ trợ nhận biết sâu bệnh, dự báo mùa vụ và sử dụng nước hợp lý. Trong sản xuất, AI có thể giúp phát hiện lỗi, dự báo bảo trì thiết bị và tiết kiệm năng lượng. Trong logistics, thương mại và dịch vụ, công nghệ có thể hỗ trợ dự báo nhu cầu, tối ưu tuyến vận chuyển và phản hồi khách hàng nhanh hơn. Ở giáo dục, y tế và hành chính công, AI có thể góp phần cá nhân hóa hỗ trợ, giảm thời gian xử lý, giúp người dân tiếp cận thông tin thuận tiện hơn.

Anh-tin-bai
Hình 2. Hệ thống AI hỗ trợ kiểm tra chất lượng sản xuất (ảnh minh họa). Nguồn: Bộ Khoa học và Công nghệ (2026)

Cơ hội còn nằm ở khả năng doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận các công cụ có chi phí thấp, thay vì chỉ dành lợi ích cho doanh nghiệp công nghệ lớn. Một cơ sở kinh doanh có thể dùng AI để sắp xếp dữ liệu, hỗ trợ chăm sóc khách hàng hoặc lập dự báo tồn kho; nhóm nghiên cứu có thể dùng công cụ để rà soát tài liệu và hình thành giả thuyết mới. Khi người sử dụng trực tiếp tham gia thiết kế và đánh giá, các giải pháp sẽ sát điều kiện tiếng Việt, ngành nghề và địa phương hơn. Đây là hướng đi giúp Việt Nam vừa tiếp thu công nghệ, vừa tạo ra sản phẩm và cách làm phù hợp với nhu cầu trong nước.

3. Nền tảng chính sách và yêu cầu đặt ra

Nghị quyết số 57-NQ/TW xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực quan trọng để phát triển đất nước; đồng thời đặt người dân và doanh nghiệp ở vị trí trung tâm, còn Nhà nước giữ vai trò dẫn dắt, tạo điều kiện. Nghị quyết cũng nhấn mạnh thể chế, nhân lực, hạ tầng, dữ liệu và công nghệ chiến lược là những nền tảng cần được quan tâm đồng bộ (Bộ Chính trị, 2024). Định hướng này cho thấy AI nên được đặt trong một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo rộng hơn, thay vì triển khai như những dự án công nghệ riêng lẻ.

Luật Trí tuệ Nhân tạo số 134/2025/QH15, có hiệu lực từ ngày 1/3/2026, xác định AI phải lấy con người làm trung tâm, bảo đảm quyền riêng tư, công bằng, minh bạch và trách nhiệm giải trình; việc quản lý hệ thống được phân theo mức độ rủi ro (Quốc hội, 2025). Đến tháng 8/2026, Chiến lược Quốc gia về Trí tuệ Nhân tạo đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 được phê duyệt. Chiến lược định hướng chuyển từ việc đưa AI vào một số sản phẩm, quy trình sang phát triển năng lực chuyển đổi toàn diện bằng AI, lấy nhân lực, hạ tầng và dữ liệu làm nền tảng, lấy thể chế và quản trị AI làm khâu đột phá (Thủ tướng Chính phủ, 2026b; Cục Thông tin, Thống kê, 2026).

Dù vậy, tiềm năng không tự chuyển thành kết quả. Nhiều tổ chức còn thiếu dữ liệu có chất lượng, nhân lực phù hợp và kinh nghiệm xác định bài toán ưu tiên. Doanh nghiệp nhỏ có thể gặp khó về chi phí, kỹ năng và khả năng đánh giá công cụ. AI tạo sinh cũng có thể đưa ra thông tin sai, làm lộ dữ liệu, tạo thiên lệch hoặc xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Nếu quyết định quan trọng được giao hoàn toàn cho hệ thống, người dân và người lao động có thể khó biết ai chịu trách nhiệm khi xảy ra sai sót. Những rủi ro này đòi hỏi ứng dụng AI đi kèm cơ chế giám sát, bảo vệ dữ liệu và giải trình rõ ràng (Quốc hội, 2025; OECD, 2024).

4. Phát huy AI bằng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo bao trùm

Thứ nhất, Mỗi chương trình ứng dụng nên bắt đầu từ một vấn đề cụ thể. Ví dụ đánh giá khâu nào đang tốn thời gian, gây lãng phí, làm giảm chất lượng hoặc hạn chế khả năng tiếp cận dịch vụ. Từ đó có thể đưa ra giải pháp thử nghiệm ở phạm vi phù hợp, có người chịu trách nhiệm và có chỉ số đánh giá như thời gian xử lý, chi phí, tỷ lệ sai sót, mức độ hài lòng, khả năng tiếp cận. Cách làm này giúp cơ quan, doanh nghiệp biết AI tạo ra giá trị thực ở đâu, đồng thời tránh mua sắm công nghệ chỉ vì xu hướng.

Thứ hai, Chính phủ phát triển dữ liệu và hạ tầng dùng chung theo nguyên tắc an toàn, có chuẩn kết nối và tôn trọng quyền của chủ thể dữ liệu. Các trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp và cơ quan nhà nước có thể cùng giải quyết bài toán ngành, chia sẻ kinh nghiệm thử nghiệm và đưa kết quả nghiên cứu vào ứng dụng. Nhà nước có thể tạo không gian thử nghiệm có kiểm soát, tổ chức đặt hàng và kết nối cung - cầu công nghệ để những giải pháp hữu ích được kiểm chứng, hoàn thiện và mở rộng. Sự liên kết này cũng phù hợp với tinh thần thúc đẩy hệ sinh thái, kết nối tri thức và phối hợp đa dạng được thể hiện trong kế hoạch hưởng ứng Ngày hội Đổi mới sáng tạo Quốc gia năm 2026.

Thứ ba, Nhà nước xác định việc phát triển con người là điều kiện quyết định. Người lao động cần được trang bị kỹ năng sử dụng AI, kiểm chứng đầu ra, bảo vệ dữ liệu và phối hợp hiệu quả với công cụ. Nhà nghiên cứu, kỹ sư và chuyên gia ngành cần có cơ hội tiếp cận chương trình đào tạo chuyên sâu, phòng thí nghiệm và môi trường hợp tác với doanh nghiệp. Chương trình quốc gia phát triển nhân lực AI đến năm 2030, định hướng đến năm 2035 đã tạo căn cứ để phát triển năng lực theo nhiều trình độ và gắn đào tạo với nhu cầu ứng dụng (Thủ tướng Chính phủ, 2026a). Cùng với đó, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ, hợp tác xã, người khuyết tật và nhóm ở vùng khó khăn sẽ giúp cơ hội từ AI được lan tỏa rộng hơn.

Thứ tư, việc đổi mới cần song hành cùng niềm tin. Người dùng nên được bảo vệ thông tin khi tương tác với AI; dữ liệu cá nhân và thông tin kinh doanh phải được bảo mật; hệ thống có ảnh hưởng lớn đến quyền lợi con người cần được kiểm tra kỹ và duy trì khả năng can thiệp của con người. Cơ quan, doanh nghiệp cần có quy trình tiếp nhận phản ánh, xử lý sự cố và rà soát định kỳ. Những nguyên tắc về an toàn, minh bạch, trách nhiệm và giám sát của con người cũng phù hợp với khuyến nghị của OECD về AI đáng tin cậy (OECD, 2024).

Kết luận

Trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo, đổi mới sáng tạo có thể trở thành động lực mới cho Việt Nam nếu công nghệ được gắn với bài toán thực tế và năng lực của con người. Lợi thế không chỉ đến từ việc sở hữu mô hình AI, mà còn từ khả năng dùng dữ liệu có trách nhiệm, đào tạo lực lượng lao động, kết nối nghiên cứu với sản xuất và tạo điều kiện để nhiều nhóm cùng tham gia. Hướng đi này phù hợp với chủ trương coi đổi mới sáng tạo là động lực phát triển của toàn xã hội.

AI không tự bảo đảm tăng trưởng bao trùm hay bền vững. Kết quả phụ thuộc vào cách chúng ta lựa chọn vấn đề, tổ chức nguồn lực, bảo vệ quyền lợi và đo lường hiệu quả. Khi Nhà nước, doanh nghiệp, nhà khoa học và người dân cùng tham gia, AI có thể giúp Việt Nam tăng năng suất, hình thành sản phẩm mới và nâng cao chất lượng dịch vụ, đồng thời giữ con người ở vị trí chủ thể của phát triển.

Tài liệu tham khảo

1. Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/toan-van-nghi-quyet-ve-dot-pha-phat-trien-khoa-hoc-cong-nghe-doi-moi-sang-tao-va-chuyen-doi-so-quoc-gia-119241224180048642.htm

2. Quốc hội (2025). Luật Trí tuệ nhân tạo số 134/2025/QH15, ban hành ngày 10/12/2025, có hiệu lực từ ngày 01/03/2026. https://chinhphu.vn/?classid=1&docid=216334&pageid=27160&typegroupid=3

3. Thủ tướng Chính phủ (2026a). Quyết định số 1528/QĐ-TTg ngày 11/08/2026 phê duyệt Chương trình quốc gia phát triển nhân lực trí tuệ nhân tạo đến năm 2030, định hướng đến năm 2035. https://vanban.chinhphu.vn/?classid=0&docid=219163&pageid=27160

4. Thủ tướng Chính phủ (2026b). Quyết định số 1671/QĐ-TTg ngày 28/08/2026 phê duyệt Chiến lược quốc gia về trí tuệ nhân tạo đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. https://vanban.chinhphu.vn/?classid=0&docid=219354&pageid=27160

5. Cục Thông tin, Thống kê (2026). Chiến lược quốc gia về trí tuệ nhân tạo đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. https://vista.gov.vn/vi/news/chien-luoc-chinh-sach-kh-cn-dmst/chien-luoc-quoc-gia-ve-tri-tue-nhan-tao-den-nam-2030-tam-nhin-den-nam-2045-13328.html

6. OECD (2024). Recommendation of the Council on Artificial Intelligence (OECD/LEGAL/0449), revised 3 May 2024. https://legalinstruments.oecd.org/en/instruments/OECD-LEGAL-0449

ThS. Nguyễn Thị Ngọc Mai
Nguồn bài viết: Trang Thông tin điện tử Viện Nghiên cứu Nam Á, Tây Á và Châu Phi
Ý kiến bạn đọc
Họ tên no image
Nội dung no image
Mã kiểm tra no image
Tin xem nhiều
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1