Phòng, chống tham nhũng thời Lê sơ và kinh nghiệm cho công cuộc phòng, chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước trong giai đoạn hiện nay
Lịch sử đã chứng minh, để ngăn chặn và phòng, chống tham nhũng thì biện pháp phòng ngừa vẫn là quan trọng, nhưng khi những biện pháp đó không phát huy hiệu quả ở một bộ phận quan lại thì thông qua hệ thống pháp luật với các biện pháp của triều đình lại có vai trò quan trọng. Để làm rõ vấn đề này, bài viết trình bày về thực trạng và các biện pháp phòng, chống tham nhũng dưới triều Lê sơ, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho công tác phòng, chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước trong giai đoạn hiện nay.
1. Tệ nạn tham nhũng dưới triều Lê sơ
Dưới triều Lê sơ (1428 - 1527), qua các nguồn sử liệu cho thấy, tình hình tham nhũng diễn ra thường xuyên, liên tục, ở trong cả triều đình và địa phương. Qua thống kê từ các bộ chính sử ghi chép cho thấy, tham nhũng dưới triều Lê sơ diễn ra khá phổ biến, với nhiều hình thức nhận hối lộ khác nhau trong quá trình thực hiện công vụ, nhằm chuộc lợi. Dưới triều vua Lê Thái Tông, năm Giáp Dần (1434), sách Đại Viêt sử toàn thư cho biết: Bấy giờ trong nước có nhiều tai dị, triều đình điều động thợ ở các cục bách tác làm chùa Báo Thiên. Công việc thổ mộc rất nặng nề, Sư Đãng phải làm lụng vất vả nói vụng rằng: “Thiên tử không có đức, để đến nỗi hạn hán. Đại thần ăn của đút, cử dùng kẻ vô công, có gì là thiện đâu mà phải làm chùa to thế”(1). Năm Ất Mão (1435), vua Lê Thái Tổ bí mật sai đi dò hỏi về thực trạng thanh liêm hay tham nhũng, làm trái phép nước, từ Tuyên úy, tướng hiệu đến Tuyên phủ, Chuyển vận và Tuần sát 53 người bắt giao cho quan pháp ti xét hỏi (2), đồng thời triều đình cũng lệnh cho chém Chuyển vận sứ Nguyễn Liêm vì nhận hối lộ của người 2 tấm lụa. Lê Sát căn cứ vào lệnh chỉ thời vua Lê Thái Tổ ghi nhận một quan tiền hối lộ thì tâu lên xử trảm. Con Nguyễn Liêm xin chịu chết thay cho cha, cũng không được (3). Điều này cho thấy pháp luật dưới thời vua Lê Thái Tổ rất nghiêm minh, thẳng tay trừng trị những người tham nhũng.
Năm Đinh Tỵ (1437), chính sử ghi chép trường hợp Đào Mạnh Cung, Nguyễn Doãn Cung vì đã nhận quan tước của người Minh, thời vua Lê Thái Tổ lại làm quan xử kiện thời gian dài, nay Trịnh Khắc Phục, Bùi Quốc Hưng xin cho đổi sang chức khác. Vua Lê Thái Tổ giận vì Trịnh Khắc Phục, Bùi Quốc Hưng tiến cử người không đúng, lại che giấu tội tham ô cho chúng, xin cho đổi sang chức khác, nên cho biếm chức (4). Đến tháng 9 cùng năm, Lê Cảnh Xước, Nội mật viện sứ, phạm tội ăn hối lộ 20 lạng bạc, bị bãi chức, nhưng sau đó lại được triều đình cho khôi phục chức, dùng làm Hàn Lâm viện thị giảng, Ngự tiền học sinh cục phó (5).
Chính sử còn ghi chép việc quan lại lợi dụng chức vụ để sách nhiễu dân, mặt khác 1 bộ phận thì xu nịnh quan trên để mưu lợi, như: Năm Mậu Thìn (1448) “Gả Vệ quốc trưởng công chúa cho Lê Quát, con Thái úy Lê Thụ. Nhà vua hạ chiếu cho Tư khấu Lê Khắc Phục đứng chủ trương về việc hôn nhân. Bấy giờ Lê Thụ lo liệu việc sắm sính lễ. Những kẻ bon chen xu phụ đua nhau đem lễ đến dâng. Lê Thụ lại nhờ các trấn, các lộ lo kiếm trâu dê để dùng vào việc cưới. Các trấn, các lộ nhân đó bắt dân đóng góp cung ứng để mua lòng Lê Thụ. Ngự sử Đồng Hanh Phát có đàn hặc về việc này. Lê Thụ bỏ mũ, tạ tội với nhà vua; nhưng, những đồ người ta đưa biếu, Thụ vẫn đều nhận cả, không từ chối” (6).
Ngoài những sự kiện trên, chính sử còn nhiều lần ghi chép về các vụ tham nhũng diễn ra ở các năm, như: năm Kỷ Tỵ (1449), Thái úy Lê Khả nói “Phép nước không thể tha được”, lại nói “Ăn trộm của một nhà còn không thể tha được thứ, huống hồ Ký lại ăn trộm cả một huyện. Lại giao xuống cho xét, vẫn xử tội chết” (7). Năm Bính Tý (1456), chính sử lại ghi chép việc quan Ngự sử trung thừa Phạm Du hặc tội Kim ngô vệ đồng tổng tri Lê Quát về tội lợi dụng việc công để tư lợi (8). Năm Quý Mùi (1463), Nguyễn Sư Hồi cùng cha là Nguyễn Xí nhận của đút lót của người ta 80 lạng bạc (9). Năm Giáp Thân (1464), triều đình sắc cho Binh bộ Thượng thư Nguyễn Vĩnh Tích năm xưa có đem 34 lạng bạc đến đút lót cho Dương Quốc Minh (10). Cùng năm này, Đô cấp sự trung Trịnh Thiết Trường hặc tội Hình bộ Đỗ Tông Nam làm quan ăn hối lộ, Lại bộ Nguyễn Như Đổ tiến cử người xấu, cả hai đều xin giao cho pháp ty theo luật trị tội. Năm Đinh Hợi (1467), triều đình tổ chức thi khoa Hoành từ, tất cả là 30 người. Bấy giờ, Khâm hình viện Lang trung Vũ Hữu, Viên ngoại lang Nguyễn Đình Khoa 5 người đều cáo ốm không vào thi. Vua lấy làm lạ, hỏi ra mới biết họ chỉ thích hối lộ (11)…
2. Biện pháp phòng, chống tệ nạn tham nhũng dưới triều Lê sơ
Trước tình trạng tham ô, tham nhũng diễn ra ngày càng nhiều ở trong cả quan lại triều đình và các địa phương, triều Lê sơ đã có nhiều biện pháp nhằm ngăn ngừa và trừng trị các quan lại tha hóa. Các biện pháp ngăn ngừa, phòng, chống tham nhũng là một trong những vấn đề quan trọng, có ý nghĩa quyết định, nhằm duy trì, xây dựng và phát triển một bộ máy nhà nước quân chủ trong sạch được áp dụng dưới triều Lê sơ, cụ thể như:
Một là, Vua tự răn mình và thường xuyên giáo hóa quan lại theo tư tưởng Nho giáo để giữ mình thanh liêm.
Để phòng ngừa tham nhũng, biện pháp đầu tiên là giáo dục về đức tính thanh liêm. Đây là biện pháp phòng ngừa từ xa, quan trọng, bởi nếu được tuyên truyền, giáo dục hiệu quả thì bản thân các quan lại sẽ có sự hiểu biết và giác ngộ cao, từ đó hạn chế lòng tham và sự nhũng nhiễu khi thực thi công vụ. Muốn phòng ngừa nạn tham nhũng đạt được kết quả thì đội ngũ quan lại phải có phẩm chất đạo đức, ý thức, chuẩn mực, có tinh thần trách nhiệm cao, hết lòng phụng sự đất nước, phụng sự muôn dân, không màng đến lợi ích cá nhân, phải luôn giữ được đức tính thanh liêm, trong sạch.
Dưới triều Lê sơ, bắt đầu từ vua Lê Thái Tổ đã rất quan tâm đến việc lựa chọn người có đức, có tài, liêm chính để tuyển chọn làm quan ở triều đình bằng các hình thức khác nhau như thông qua chế độ khoa cử Nho học, tiến cử hay khảo công (khảo xét, đánh giá năng lực của quan lại). Tháng 2 năm Kỷ Dậu (1429), vua Lê Thái Tổ lại ban lệnh chỉ cho các quan rằng: “Nếu thấy trẫm có chính lệnh hà khắc, thuế má nặng nề, ngược hại lương dân, thưởng công phạt tội không đúng, không theo đúng phép xưa, hay các đại thần, quan lại, tướng hiệu, quan chức trong ngoài không giữ phép, nhận hối lộ, nhiễu hại lương dân, thiên hư phi pháp, thì phải lập tức dâng sớ đàn hặc ngay. Kẻ nào cứ ngồi nhìn mà dung túng, chỉ giỏi trò vặt, cùng là nói hão không đâu, thì phải chiếu luật trị tội,…(12).
Năm Ất Mão (1435), triều đình lại chỉ dụ cho các quan văn võ trong ngoài phải giữ mình liêm chính, không được vụ lợi riêng, làm việc công mà nhận hối lộ. Cố giữ liêm khiết thì thân mình vẻ vang, nhà mình vinh hiển, phúc đến con cháu sau này. Nếu ai không theo sẽ bị trừng phạt (13). Không chỉ khuyên răn các quan lại mà các vị vua dưới triều Lê sơ khi thấy trong nước xảy ra nhiều tai dị, thiên tai, hạn hạn, nạn hối lộ cũng tự dăn mình, sửa đức được chính sử ghi chép như: Năm Mậu Ngọ (1438), vua Lê Thái Tông chỉ dụ “mấy năm nay, hạn hán, sâu bệnh liên tiếp xảy ra,… Hay là dùng người không đúng, để người tốt kẻ xấu lẫn lộn? Hay là hối lộ công khai mà việc hình ngục có nhiều oan trái?... Trẫm tự trách tội mình, đại xá cho thiên hạ” (14). Năm Quý Hợi (1443), vua Lê Nhân Tông thấy trong nước lại có nhiều điềm tai biến, động đất, mới răn mình rằng: “Hay là việc ngục tụng không công bằng, hối lộ công khai, xử án còn nhiều oan uổng mà đến nỗi thế chăng?” (15). Năm Mậu Thìn (1448), triều đình xuống chiếu cấm viên quan và quân dân không được chiếm ruộng công để đào ao, làm vườn tược nhà cửa (16). Cùng năm này thái phó Lê Văn Linh chết, ông vốn là bậc khai quốc công thần của triều Lê, có mưu trí, có nhiều công lao, nhưng vướng vào tội tham nhũng nên khi chết cũng vì những điều đó, người ta đánh giá ông kém đi (17).
Năm Kỷ Tỵ (1449), đất nước xảy ra nhiều tai dị, đại hạn, mất mùa, tệ tham ô, hối lộ ngày càng nhiều. Năm Bính Tý (1456), vua Lê Nhân Tông lại ra lệnh chỉ, dăn dạy cho các đại thần và các quan văn võ trong ngoài, là người bề tôi, phải làm hết chức trách của mình, chăm sóc dân chúng trong hạt, xét kiện tụng, thu thuế khóa, sai dịch vụ phải giữ liêm khiết, công bằng, không được đem tiền của biếu xén, nịnh hót quan trên để hòng được thăng quan tiến chức. Quan các cục không được bỏ việc công lao chạy riêng, bớt xén đục khoét (18).
Hai là, chính sách đãi ngộ, ban thưởng cho các quan lại hoàn thành tốt chức trách
Để có được các vị quan làm việc có trách nhiệm, thanh liêm, tận tụy với triều đình, phục vụ nhân dân, một trong những biện pháp triều Lê sơ sử dụng, đó là chính sách tuyển dụng, đồng thời có các biện pháp đãi ngộ, thưởng bổng lộc với người hoàn thành tốt chức trách. Đối với quan lại hoàn thành tốt nhiệm vụ thì được xét để cất nhắc lên các vị trí cao hơn, hoặc có các hình thức ban thưởng, từ đó khuyến khích được họ làm việc và có trách nhiệm, tránh xa các tệ tham nhũng, hối lộ. Chính sử ghi chép: Năm Ất Mão (1435), triều đình cho dò hỏi để biết được tình trạng làm việc của các quan, từ đó xét ban thưởng đối với quan thanh liêm, hoàn thành tốt nhiệm vụ, người làm việc lâu năm mà siêng năng chịu khó, được ban thưởng chia làm hai bậc: Bậc nhất, thưởng tước 1 tư tiền 5 quan; Bậc nhì, thưởng tước 1 tư (19).
Năm Mậu Thìn (1448), vua Lê Nhân Tông xuống chiếu răn dạy các quan lại: Nhà nước đã cấp bổng lộc theo thường lệ để gây nuôi đức tính thanh liêm, lại có pháp luật chung để cho mọi người tuân giữ. Thế mà ngày nay còn có những kẻ không giữ phép nước, ăn hối lộ, làm việc riêng. Cấp trên không biết răn dạy cấp dưới, bạn đồng liêu không biết khuyên bảo lẫn nhau, sẽ đều bị tội đúng như pháp luật đã định (20). Đối với các quan lại khi phạm tội nhưng sau đó có ý thức sửa sai, phấn đấu thì cũng được triều đình cất nhắc, cho phục chức, như năm Đinh Hợi (1467), khôi phục chức quan cho Lê Thiệt. Trước đây, ông giữ chức Tây quân tả đô đốc, can tội tham tang, bị bãi (21).
Nhận thức được việc xây dựng bộ máy quan lại liêm chính tất phải thiết lập chế độ bổng lộc, đó cũng là chế độ chính sách nhằm hạn chế quan lại tham ô, phạm pháp, do vậy, năm Đinh Dậu (1477), vua Lê Thánh Tông chính thức cho ban hành chế độ bổng lộc cho quý tộc, quan lại bao gồm nhiều loại như lộc điền, tuế lộc (còn gọi là quan lộc) và thực hộ. Chế độ lộc điền được áp dụng để ban cấp cho quý tộc và quan lại cao cấp, Thân vương, Tự thân vương, Quốc công đến quan Tòng tứ phẩm tùy theo mức khác nhau.
Ba là, xây dựng và hoàn thiện các quy định luật pháp
Một trong những bộ luật ra đời sớm và còn lưu giữ được đến ngày nay là bộ Quốc triều hình luật (Luật Hồng Đức) được vua Lê Thánh Tông ban hành vào năm 1483 . Thống kê trong số 722 điều của bộ luật này, có hơn một nửa số điều liên quan đến đấu tranh, ngăn ngừa và trừng phạt các quan lại tham ô, tham nhũng. Triều Lê sơ rất coi trọng việc phòng, chống tham nhũng và xem nó là mối đe dọa nghiêm trọng đến uy tín, địa vị của nhà vua và sự ổn định của xã hội. Do vậy, những ai phạm vào tội tham nhũng đều bị trừng trị một cách nghiêm khắc ở các mức độ khác nhau, như: biếm (giáng chức), đồ (giam cầm), lưu (đày đi xa), trảm (giết). Những điều luật trên được quy định khá rõ ràng, mức độ vi phạm và hình phạt, do đó yêu cầu bề tôi phải trung thành tuyệt đối với vua và phải thi hành đường lối “thân dân” nói riêng. Việc xây dựng hệ thống pháp luật với nhiều định chế về phòng chống tham ô, hối lộ như trên chứng tỏ quyết tâm cao của nhà nước thời Lê Thánh Tông trong việc sử dụng pháp luật làm công cụ đẩy lùi tệ tham quan ô lại trong xã hội (22).
Ngoài việc ban hành bộ Quốc triều hình luật, các vua triều Lê sơ còn ban bố nhiều chỉ, dụ, chiếu, biểu… đề cập đến các tội tham ô, hối lộ để răn dạy quan lại cũng như xử lý những quan lại phạm tội, điều đó cho thấy triều đình rất nghiêm khắc trong xử lý tội phạm, đồng thời thể hiện được sự công bằng, nghiêm minh của pháp luật. Sự ra đời của các bộ luật, với các điều khoản rõ ràng, quy định mức phạt đối với những quan lại khi vi phạm, đó cũng là để các quan lại biết giữ mình khi thực thi công vụ, không vụ lợi.
Bốn là, biện pháp thanh tra, giám sát
Dưới triều vua Lê Thánh Tông, cơ quan thực hiện thanh tra, giám sát ở cấp Trung ương là Ngự sử đài với chức trách “chấn chỉnh mọi sai phạm của bách quan, làm rõ mọi ẩn tình của bách tính” (23). Về chức năng và quyền hạn của Ngự sử đài được quy định rõ, đó là “đàn hặc các quan, nói bàn về chính sự hiện thời. Phàm các quan làm trái phép, chính sự hiện thời có thiếu xót, đều được xét hoặc trình bày” (24). Để cho cơ quan Ngự sử đài thuận lợi trong giải quyết các công việc, năm 1481 vua Lê Thánh Tông ban chỉ dụ, giao quyền cụ thể cho cơ quan này trong việc phát hiện và tố giác các trường hợp tham ô: năm Giáp Thìn (1484), triều đình lại xuống chỉ cho các quan ở các địa phương phải kê khai rõ sự thực người nào thanh liêm, tham nhũng để Ngự sử đài xét và thi hành thưởng, phạt (25).
Ngoài Ngự sử đài dưới triều Lê, vua Lê Thánh Tông còn thiết lập Lục khoa để “thẩm xét bách ty”, giám sát quan lại ở Lục bộ. Các quan ở Lục khoa dưới thời Lê sơ có quyền hạn rất lớn, phàm quan lại ở bách ty phạm lỗi lầm, hối lộ, nhũng nhiều,… lục khoa đều có quyền dâng tấu hạch tội. Thông qua hình thức giám sát này, “lấy chức nhỏ, giám sát chức lớn”, “lấy trật thấp khống chế chức cao” nhằm “khiến chỗ lớn nhỏ dựa vào nhau, khinh trọng khống chế nhau”. Vua Lê Thánh Tông cho rằng cơ chế thanh tra, giám sát như vậy mới có thể kịp thời phát hiện và xử lý các vụ việc tham ô của quan lại (26). Cùng đó, ở ngoài mỗi đạo, triều đình cho lập một viên Giám sát ngự sử, có nhiệm vụ thực hiện nhiệm vụ giám sát quan lại tại địa phương, cùng phối hợp với Lục khoa và Ngự sử đài, tạo thành một hệ thống thanh tra, giám sát hoàn chỉnh từ trong ra ngoài, từ trên xuống dưới.
Năm là, xử phạt hành chính, kỷ luật
Biện pháp này bao gồm các hình thức, như: phạt bổng, biếm chức, bãi chức hoặc cách chức, tịch thu tài sản bồi thường tang vật. Tùy theo mức độ vi phạm mà triều đình xử phạt, nhẹ thì phạt bổng, đó là cắt trừ bổng lộc trong thời hạn nhất định, nặng hơn là biếm chức bằng cách giáng chức phẩm xuống hạng thấp hơn. Còn bãi chức là biện pháp cách chức buộc người đang giữ một chức vụ nhất định phải thôi đảm nhiệm công việc. Có hai hình thức là cách lưu và cách nhiệm. Cách lưu là bị mất chức quan nhưng cho ở lại làm việc để thử thách. Cách nhiệm là bị cách chức và phải rời nơi làm quan đến một nơi khác để làm việc.
Tịch thu tài sản và bồi thường tang vật là biện pháp khắc phục hậu quả bằng vật chất của quan lại có hành vi tham ô, hối lộ. Trên thực tế, hậu quả của tệ nạn tham ô, hối lộ đối với xã hội là hết sức to lớn. Đối với hậu quả có thể khắc phục được, chủ yếu là thiệt hại về vật chất, triều đình quy định, bên cạnh việc áp dụng các hình phạt trừng trị còn buộc quan lại có hành vi tham ô, hối lộ phải có trách nhiệm khắc phục hậu quả bằng cách hoàn trả và bồi thường. Bộ luật Hồng Đức quy định nguyên tắc xử lý tài sản tham ô, hối lộ… cụ thể ở một số trường hợp được triều đình xử lý như: Năm Đinh Tỵ (1437), dưới triều Lê sơ, chính sử lại ghi chép trường hợp quan lại vì phạm tội tham nhũng, không hoàn thành chức trách lại lấy cớ để chuyển sang chức khác, nhằm trốn tội thì bị triều đình cho bãi chức. Tháng 4, Đô cấp sự trung Trịnh Thiết Trường lại hặc tội Hình bộ Đỗ Tông Nam làm quan ăn hối lộ, Lại bộ Nguyễn Như Đổ tiến cử người xấu, cả hai đều xin giao cho pháp ty theo luật trị tội (27). Tiếp đến tháng 6, triều đình cho Binh bộ thượng thư Nguyễn Vĩnh Tích chơi không vì Vĩnh Tích năm trước đi nhận bạc đút lót của người, nay thu lại thẻ bài vẫn đeo (28). Sách Đại Việt thông sử cho biết, viên Chuyển vận Phó sứ huyện Văn Bàn là Trương Tông Ký ăn hối lộ, việc phát giác, án làm xong sắp đem chém thì tả hữu xin tha. Để kẻ bị tội tâm phục khẩu phục, Trịnh Khả lại cho tra xét lại và cuối cùng vẫn xử tội chết, điều đó khiến các quan vừa nể vừa sợ (29).
Sáu là, xử lý nghiêm minh theo luật hình.
Mặc dù triều đình đã có nhiều chính sách từ khuyên dăn, khuyến khích quan lại làm việc tốt được cất nhắc, xét ban thưởng,… Tuy nhiên, đối với các quan lại xem thường luật pháp, nhận hối lộ, tham ô, bỏ bê công việc thì cũng bị triều đình xử phạt một cách nghiêm khắc tùy theo mức độ vi phạm khác nhau, gây đau đớn về thể xác hoặc tinh thần, bao gồm các hình phạt ngũ hình và ngoại ngũ hình. Hình phạt ngũ hình gồm xuy, trượng, đồ, lưu, tử. Hình phạt ngoài ngũ hình gồm xâm chữ, mang gông xiềng, sung vợ con làm nô tì và một số hình phạt tàn khốc như chặt tay, chặt chân người phạm tội... Ngoài ra, chính sử còn ghi chép nhiều trường hợp tham nhũng, xét mức độ nặng và phải dùng án tử hình để răn đe, ngăn chặn hữu hiệu tình trạng phạm tội.
3. Bài học kinh nghiệm cho công cuộc phòng, chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước hiện nay
Nghiên cứu về tham nhũng dưới triều Lê sơ, chúng ta rút ra được một số bài học kinh nghiệm cho công tác phòng, chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước hiên nay, cụ thể là:
Trước hết, đối với phòng, chống tham nhũng phải lấy phòng làm chính, muốn làm được điều đó thì việc cần thiết phải xây dựng được đội ngũ cán bộ nhà nước có trình độ chuyên môn cao, có phẩm chất đạo đức tốt, am hiểu về pháp luật, cũng như những quy định về phòng chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước. Để làm được những việc trên, Đảng và Nhà nước cần chú trọng đến công tác đào tào nguồn nhân lực chất lượng cao, thực hiện công tác tuyển dụng cán bộ một cách chặt chẽ, không để những người có trình độ thấp, yếu kém về năng lực, phẩm chất đạo đức vào trong bộ máy quản lý nhà nước.
Thứ hai, đối với cán bộ, công chức, viên chức làm việc trong các cơ quan nhà nước cần được thường xuyên bồi dưỡng, giáo dục, tuyên truyền về phẩm chất đạo đức trong thi hành công vụ, tránh xa tệ nạn xã hội nói chung, tham nhũng nói riêng, nêu cao tinh thần vì nhân dân phụng sự, giữ cho mình liêm chính, tiếng thơm cho gia đình và dòng họ. Bên cạnh đó, Đảng và Nhà nước cũng cần có chính sách thu hút người tài, người có phẩm chất đạo đức tốt phục vụ trong bộ máy chính quyền, có chính sách đãi ngộ hợp lí, có mức lương thỏa đáng đảm bảo cán bộ, viên chức có cuộc sống tốt, để họ có thể yên tâm công tác, đồng thời hạn chế tình trạngnhũng nhiễu, cửa quyền.
Thứ ba, Nhà nước cần phải hoàn thiện hệ thống văn bản luật pháp về phòng, chống tham nhũng, đồng thời đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến cho cán bộ, nhân dân hiểu biết về luật phòng chống tham nhũng. Có hình thức xử phạt đối tượng tham nhũng, hối lộ một cách nghiêm minh, không có vùng cấm, đảm bảo mọi người phải công bằng trước pháp luật, từ đó mới có tính răn đe, tạo niềm tin cho nhân dân vào hệ thống pháp luật của Nhà nước.
Thứ tư, cần phải tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực thi công vụ của cán bộ công chức, viên chức, xem đó là nhiệm vụ thường xuyên. Thông qua việc kiểm tra, giám sát để sớm phát hiện các hiện tượng tham nhũng, tiêu cực từ đó để ngăn chặn cũng như có chế tài xử lý kịp thời, góp phần hạn chế những sai phạm lớn, gây thất thoát cho Nhà nước.
Thứ năm, phải luôn xác định công cuộc phòng chống tham nhũng tiêu cực là một việc làm thường xuyên, việc phát giác, tố cáo các hiện tượng, vụ việc tham nhũng là trách nhiệm không chỉ của Nhà nước mà là của toàn xã hội, do vậy cần phải huy động các tổ chức chính trị xã hội và nhân dân cùng tham gia vào công cuộc cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng. Bên cạnh đó cũng cần có các biện pháp biểu dương khen thưởng đối với những cán bộ liêm chính, hoàn thành tốt nhiệm vụ, và có hình thức khen thưởng đối với cán bộ, nhân dân có tinh thần, trách nhiệm tham gia vào công tác phòng, chống tham nhũng.
Chú thích:
(1), (3), (4), (7), (8), (9), (10), (11), (12), (13), (14), (15), (16), (18), (25), (27), (28). Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê (1993). Đại Việt sử ký toàn thư. Tập 2. H. Nxb. Khoa học xã hội, tr. 316, 333, 342, 376 - 377, 380, 400, 403, 432, 299 - 300, 330, 330, 347 - 348, 359, 382, 490, 420, 423.
(2), (5), (6), (17), (19), (20), (21). Quốc sử quán triều Nguyễn (2007). Khâm định Việt sử thông giám cương mục. Tập 1. H. Nxb. Giáo dục, tr. 871, 887, 921, 912, 871, 913, 1.027.
(22). Phan Ngọc Huyền (2017). Quan chế và phòng chống quan lại tham nhũng thời hậu Lê - Một số vấn đề nghiên cứu. H. Nxb. Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 129.
(23). Nguyễn Ngọc Nhuận (2006). Một số văn bản điển chế pháp luật Việt Nam. Tập 1. H. Nxb. Khoa học xã hội, 2009, tr. 367.
(24). Phan Huy Chú (2006). Lịch triều hiến chương loại chí. Tập 1. H. Nxb. Giáo dục, tr. 585.
(26). Phan Ngọc Huyền (2013). Phòng chống tham nhũng quan lại thời Lê Thánh Tông: Biện pháp và bài học lich sử, Tạp chí Khoa học xã hội, số 7 (68), tr. 70.
(29). Lê Quý Đôn (2007). Đại Việt thông sử. H. Nxb. Văn hóa - Thông tin, tr. 423.