Kết hợp giữa kinh tế biển với bảo vệ chủ quyền biển đảo tây nam Việt Nam thế kỷ XVII-XIX
1. Mở đầu
Là một vùng biển giàu tiềm năng cũng như có một vị thế đặc biệt về địa chính
trị và địa kinh tế, vùng biển đảo Tây Nam có vai trò đặc biệt quan trọng
đối với kinh tế và an ninh quốc phòng. Từ khi trở thành một bộ phận cấu thành
Đàng Trong dưới thời các chúa Nguyễn, vùng biển đảo Tây Nam đã trở thành một
thành tố không tách rời của quốc gia Đại Việt, đặc biệt từ khi triều Nguyễn
được thành lập và thống nhất quản lý toàn bộ lãnh thổ quốc gia từ Bắc vào
Nam.
Trong các thế kỉ XVII-XVIII, cùng với việc củng cố quyền lực chính trị và sức
mạnh quân sự, chính quyền chúa Nguyễn ở Đàng Trong đã thực thi nhiều biện pháp
nhằm thúc đẩy ngoại thương (nhất là hải thương) và đa phương hóa các mối quan
hệ quốc tế, vươn tới tầm mức và vị thế của một “thể chế biển” ở khu vực. Cùng
với Ayutthaya, Đàng Trong đã vươn tới tầm mức của một “Thể chế biển” (Maritime
polities) ở khu vực (1). “Chúa Đàng Trong không đóng cửa trước một quốc gia
nào, ngài để cho tự do và mở cửa cho tất cả người ngoại quốc, người Hà Lan cũng
tới như những người khác, cùng với tàu chở rất nhiều hàng hóa của họ” (2). Cũng
theo Cristoforo Borri, “phương châm của người Đàng Trong là không bao giờ sợ
một nước nào trên thế giới” (3). Những đối tác quan trọng của Đàng Trong như
Nhật Bản, Trung Quốc, Bồ Đào Nha, Hà Lan… đều được tạo điều kiện thuận lợi từ
chính sách ưu đãi của các chúa Nguyễn.
Dưới tác động của nền kinh tế hải thương, trong các thế kỷ XVII-XVIII, một số
cảng thị ở Đàng Trong trong đó có thương cảng Hà Tiên đã có sự phát triển mạnh
và trở thành những mô hình cảng thị mới trên cơ sở những hoạt động và mối liên
hệ kinh tế với thị trường khu vực và quốc tế. Nằm ở phía nam của Đàng Trong,
một bến đỗ quan trọng trên tuyến hải trình từ trung tâm kinh tế vùng hạ lưu
Chao Phraya đến các cảng phía đông, Hà Tiên trở thành một tâm điểm trong quan
hệ giữa Đàng Trong với Xiêm và các nước trong khu vực với “đường sá xuyên suốt,
phố xá nối liền, người Kinh, người Tàu… người Chà Và tụ tập cư trú. Thuyền
biển, thuyền sông qua lại như mắc cửi, là chốn đô hội ở nơi góc biển” (4).
Trong phạm vi lớn hơn, Hà Tiên trở thành một trong những điểm đến quan trọng
của các thương thuyền phương Tây (Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hà Lan…), Trung Quốc
và Đông Nam Á (5).
Khi mô tả về các chợ Mỹ Đức, Sái Phu, Hoàng Giang, Sân Chim…, trong đó, chợ Mỹ
Đức với phố xá nối liền…; chợ Sái Phu thì phố xá san sát, thuyền buôn đến đậu
đông đảo; chợ Hoàng Giang quán xá đông đúc, thuyền buôn tụ tập… Những chính
sách cởi mở với người nước ngoài đã giúp khơi thông, phát huy sức lực, tài năng
cho công cuộc phát triển Đàng Trong (6).
Nhận thức được tầm quan trọng của vùng biển đảo Tây Nam, trong thế kỷ XVII
-XIX, chúa Nguyễn-triều Nguyễn đã thực thi nhiều biện pháp nhằm phát huy và bảo
vệ chủ quyền lãnh thổ, lãnh hải. Một trong những hoạt động đó là sự kết hợp
phát triển kinh tế (nhất là kinh tế biển) gắn liền với việc khẳng định, thực
thi và bảo vệ chủ quyền biển đảo Tây Nam của Tổ quốc.
2. Kết hợp giữa kinh tế biển với bảo vệ chủ quyền biển đảo Tây Nam Việt Nam
thế kỷ XVII-XIX
2.1. Khai thác, quản lý tài nguyên, bảo đảm an ninh quốc phòng, huy động
ngư dân trong bảo vệ chủ quyền biển đảo
Vùng biển đảo Tây Nam, về điều kiện tự nhiên, nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới
gió mùa với đới gió mùa cận nhiệt đới nóng quanh năm (7). Khu vực này “đất đai
ẩm ướt, khí trời nóng nực, bốn mùa khí nóng quá nửa năm… Lại thường có gió núi
hay gió biển lạnh buốt xương, khi khí ẩm bốc mạnh, hay sinh bệnh chướng lệ
phong bại. Nước triều gặp gió Đông Bắc mạnh thì ngập tràn bờ bến, còn không thì
lên xuống như thường” (8). Về vị trí địa lý, theo ghi chép từ các sử liệu dưới
triều Nguyễn, khu vực này được xem là “một nơi có hình thế đẹp”
(9).
Trong tác phẩm Gia Định thành thông chí, vùng biển Tây Nam được Trịnh Hoài Đức
mô tả: “Các hòn đảo làm án gần trước mặt, hòn ra hòn vào xen nhau hoặc như cái
đai ngọc, cái cung nằm, như cái đài vuông, cái đàn nằm ngang, phục dưới thấp mà
vòng quanh hợp lại. Đảo Phú Quốc ở đằng xa chầu lại, cao vót đẹp đẽ. Nay lại
được sông Vĩnh Tế khơi thông, thuyền buồm ở sông ở biển tụ họp, đường thủy
đường bộ tiện lợi” (10). Đại Nam nhất thống chí mô tả nơi đây “cửa biển có pháo
đài Đảo Vàng, để khống chế nơi xung yếu… ngoài biển có đảo Phú Quốc làm bình
phong chắn trước mặt, thực là cửa ngõ hệ trọng của cả xứ Nam Kỳ” (11). Phú Quốc
nằm ở “phía Tây Nam của huyện Hà Châu, giữa biển, hành trình từ đất liền ra đảo
mất một ngày một đêm là tới” (12).
“Muốn ăn ngon thì đến Rạch Giá, Muốn ăn cá thì đến An Biên, Muốn kiếm tiền thì
đi Phú Quốc, Muốn dưỡng sức thì đến Hà Tiên”, vùng biển Tây Nam còn cung cấp yến
sào, một loại đặc sản quý cho triều đình, được khai thác từ các hòn đảo nhỏ như
hòn Tre, hòn Đá Lửa, hòn Nghệ (Uất Kim dự), hòn Son, hòn Dầu Rái, đảo Thổ Châu…
(13). Theo Đại Nam nhất thống chí thì nơi đây “không có hùm beo, nhiều heo
rừng, có nai, hươu, yến sào, mây, gỗ tốt, đồi mồi, hải sâm, quế, mắm. Thổ sản
có thứ lúa sớm, các thứ đậu, bắp đỏ, dưa, rất ít lúa nếp. Trong núi sản xuất
thứ huyền phách sáng ngời như đánh bóng, có thể làm chuỗi hạt đeo, thứ lớn có
thể chạm trổ hộp đựng trầu cau, hoặc làm chén đĩa, giá rất đắt, còn long diên
hương thỉnh thoảng cũng có”(14). Ở phía Tây Nam của Phú Quốc có “cửa Dương làm
chỗ ghe thuyền đến đậu yên ổn. Dân miền biển đến ở, lập thành làng xóm. Gần đó
về phía Nam có hòn Long Trấn, phía Đông Nam có hòn Dừa, phía Tây Bắc có hòn
Năng Nội và hòn Năng Ngoại. Lúc đầu Trung hưng, Thế tổ Cao Hoàng đế từng dừng
chân ở đây, nhân dân đều giúp sức hết lòng, thám báo địch tình, cung cấp vật
dụng, nên sau khi nước nhà đại định, được miễn sưu thuế giao dịch, cho đến ghe
thuyền buôn bán hay đánh cá cũng được miễn thuế. Duy ở xa khơi giữa biển phải
phòng bị quân cướp biển Chà Và, nên có đặt đồn thủ ngự, dùng dân làm lính, sắm
đủ khí giới, để giữ cho nhau bảo vệ đảo” (15).
Chính sử cũng cho biết năm Minh Mệnh thứ 17 (1836), triều đình bắt đầu “định lệ
hàng năm thu mua sản vật từ Quảng Nam trở vào nam đến Hà Tiên. Nhiều sản vật từ
Hà Tiên và vùng biển đảo Tây Nam đã được nhà nước thu mua như các loại sản vật
quý: “mai đồi mồi, hải sâm, vây cá, bong bóng cá, yến sào, tôm khô đã bóc vỏ
10.000 cân, cá thiết linh khô 10.000 cân, hồ tiêu 10.000 cân, các hạng ván gỗ
táu, gỗ tử thuận. Phàm gỗ trầm thị và gỗ mun đều hạn dài 3, 4 thước, đường kính
trên dưới 3, 4 tấc; các hạng ván gỗ táu, gỗ tử thuận đều hạn dài 15 thước trở
lên, bề mặt 5 tấc trở lên, dày 8 phân đến 1 tấc 2 phân)” (16).
Đại Nam nhất thống chí cũng ghi chép về vùng biển Tây Nam: “Biển: đất Hà Tiên ở
phía Tây tỉnh An Giang, long mạch, trục đất chạy ra giữa biển, tích tụ dần, qua
hướng nam có đảo Tiểu Thủ đứng ngoài biển, ngăn che sóng lớn mà bồi thành doi
cát, có các đảo nhỏ đứng giăng la liệt, từ phía Tây lên phía Bắc, qua phía Nam
của biển Tiêm La. Giữa khoảng ấy có vũng rộng làm hào nóng hiểm yếu cho tỉnh Hà
Tiên. Lại có cồn cạn vực sâu khác nhau, có nhiều cá lớn, hải sâm, đồi mồi, hàu,
sò, cá cơm, ốc tai voi… Thuyền đánh cá người Quỳnh Châu, tỉnh Quảng Đông thường
đến đậu ở các đảo để đánh cá phơi khô và bắt hải sâm, cùng ghe thuyền của dân
ta xen nhau trên mặt biển” (17).
“Đất Hà Tiên ở phía tây thành Gia Định… Nhiều cá to, hải sâm…, đồi mồi, trai,
sò, con điệp, ốc tai voi, gió nam bắc là gió ngược. Người đánh cá cứ tháng 3
xuống biển làm nghề…. Giặc biển Chà Và cũng bất thần ngầm nấp ở các đảo để cướp
của bắt người, cho nên xứ ấy đều sắm khí giới để phòng bị, mà thuyền tuần của
lính trấn thì cứ đến mùa gió nam là tuần phòng càng cẩn thận, hơi sơ phòng một
chút là có cướp bóc ngay”(18). Sử sách triều Nguyễn còn ghi chép về các cửa
biển ở vùng biển này như cửa biển Kim Dữ, cửa biển Kiên Giang, Đại Môn, Hoàng
Giang, Hiệp Phố, Tam Giang, Bồ Đề, Ghềnh Hàu, Thủ Bình Giang…
Nhìn chung, những số liệu thống kê ngày nay cho thấy vùng biển đảo Tây Nam sở
hữu các nguồn tài nguyên biển dồi dào và được xem là một trong những trung tâm
của thế giới về đa dạng sinh học. Biển Đông, khu vực bao trùm cả vùng biển Tây
Nam, là một trong 64 hệ sinh thái biển lớn (large marine ecosystem), nơi được
xếp hạng thứ tư trong số 19 khu vực đánh cá tốt nhất thế giới về tổng sản lượng
đánh bắt hải sản hàng năm (19). Những con số thống kê cũng cho thấy các nguồn
tài nguyên sinh vật (living resources) ở vùng biển Tây Nam rất phong phú và đa
dạng. Theo đó, trữ lượng cá nổi trung bình ở vùng biển Tây Nam là 945.000 tấn
và khả năng khai thác là 472.000 tấn. Tỷ lệ cá nổi ở vùng biển Tây Nam cũng
chiếm tới 62% tổng trữ lượng cá ở vùng biển Việt Nam (20). Bên cạnh đó, các
nguồn tài nguyên đặc biệt bao gồm địa hình bờ và đảo và không gian mặt biển của
vùng biển đảo Tây Nam cũng được đánh giá cao. Cũng giống như các vùng biển khác
ở Đông Nam Á, không gian mặt biển của vùng biển Tây Nam quanh năm nước không
đóng băng, là điều kiện thuận lợi để các hoạt động giao thương và hàng hải phát
triển. Địa hình bờ biển đa dạng nơi đây cũng được xem là “sân khấu” để cho thế
giới sinh vật, trong đó có con người “trình diễn” cuộc sống của mình. Khảo về
vùng biển đảo, không thể không nói về các hòn đảo ở đây. Ngoài các đảo lớn là
Phú Quốc và Thổ Châu, nơi đây còn có các hòn đảo nhỏ khác như: Đại Kim, Tiểu
Kim, Tre Nội, Tre Ngoại (21)…
Ở vùng biển Tây Nam chứa đựng hầu hết các hệ sinh thái biển và ven biển điển
hình như rừng ngập mặn, rạn san hô, thảm cỏ biển, bãi bồi và vùng triều, là nơi
cư trú và sinh sản của nhiều loài sinh vật biển. Đây là một trong những ngư
trường trọng điểm của cả nước, có trữ lượng lớn, nhiều loài có giá trị kinh tế
cao. Hệ thống quần đảo và đảo trên biển cùng các khu rừng ven biển rất thuận
lợi để xây dựng căn cứ, thế trận quân sự - an ninh để bảo vệ vững chắc chủ
quyền và phát triển kinh tế biển, đảo trên một hướng chiến lược của Tổ quốc
(22).
Để khai thác có hiệu quả nguồn lợi biển, các chúa Nguyễn cũng chú ý đến các vị
trí tiền tiêu hướng ra biển. Chính quyền thường xuyên cho tuyển mộ dân đinh để
cử ra các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, đảo Côn Lôn cũng như các đảo trên vùng
biển Tây Nam để khái thác tài nguyên biển. Việc cho thành lập các đội thương
thuyền không chỉ thúc đẩy phát triển kinh tế biển mà còn bổ sung thêm các nguồn
lực phục vụ cho công cuộc bảo vệ an ninh, chủ quyền trên các vùng biển
đảo.
Chính sử đã ghi nhận nhiều trường hợp khai phá, mở mang, đưa người dân đến sinh
sống, lập nghiệp “Đồn ấy [đồn Châu Đốc] là chỗ địa đầu quan yếu, đã từng sai
chiêu tập dân chúng và nhà buôn, cho vay tiền thóc, để họ khẩn ruộng, lập ấp,
họp nhau cư trú, làm ăn sinh sống nơi biên thuỳ của ta cho được bền vững”(23).
“Dinh trấn Hà Tiên có các thuyền… Có đội Thuỷ thắng, thuộc về đấy 3 thuyền. Có
đội Hùng bộ 3 thuyền và các đội Tả thuỷ, Hữu thuỷ. Các cơ đội trên đây, trừ thổ
binh được miễn tiền gạo sưa suất không cấp lương ra, còn đều lĩnh lương ở kho
bạc nhà nước” (24).
Sang đến thập niên 30 thế kỷ XIX, dưới thời vua Minh Mệnh “Côn Lôn thủ và Hà
Tiên Phú Quốc thủ đều là những nơi xung yếu, dân ở đông đúc, thế mà thường có
giặc biển ẩn hiện. Liền truyền dụ cho quan thành chọn đất 2 chỗ thủ ấy, xây đặt
pháo đài, liệu cấp súng đạn, khí giới, thuyền bè, phái quân đóng giữ. Những cư
dân cũng cấp cho khí giới để cùng phòng giữ. Lại chuyển sức cho 5 trấn trong
thành hạt, ra lệnh cho các làng sở tại ven biển đều sẵn sàng thuyền bè khí
giới, nếu thấy thuyền giặc đến gần bờ, tức thì cùng nhau tiếp ứng góp sức đánh
bắt…” (25).
2.2. Các hoạt động kinh tế biển gắn liền với việc khẳng định, thực thi,
xác lập và bảo vệ chủ quyền biển đảo Tây Nam
Như đã trình bày ở trên, vùng biển Tây Nam vốn nổi tiếng với các cửa biển,
trong đó có các cửa biển như: Kim Dữ, Kiên Giang, Đại Môn, Hoàng Giang, Hiệp
Phố, Tam Giang, Bồ Đề, Ghềnh Hàu, Thủ Bình Giang… Những cửa biển này trên thực
tế đóng vai trò quan trọng hàng đầu đối với sự phát triển kinh tế, xã hội và
quốc phòng ở vùng biên ải phía Tây Nam của đất nước. Tuy nhiên, đây cũng là địa
bàn dễ xảy ra các nguy cơ thâm nhập từ nạn giặc biển, nhất là giặc biển Chà Và.
Để chủ động phòng ngừa cũng như sẵn sàng đối phó với các nguy cơ này, trên hầu
hết các cửa biển này, chính quyền nhà Nguyễn đều cho lắp đặt các công trình
phòng thủ như pháo đài và “đặt thủ ngự trú phòng”(26). Nhiều pháo đài, bảo đài
kiên cố đã được triều đình cho xây dựng để chủ động phòng thủ, giữ vững chủ
quyền trên biển.
Đối với Hà Tiên, Tổng trấn Mạc Cửu đã xây dựng vùng đất này trở thành một trung
tâm kinh tế phồn thịnh, nhưng cũng không ít lần phải đối phó với các cuộc đánh
chiếm (chẳng hạn bị quân Xiêm tàn phá nặng nề (27). Vùng đất Hà Tiên trở thành
địa đầu của Tổ quốc, nơi thường xuyên phải đối chọi với sự xâm nhập và những
biến động của các thế lực chính trị khu vực. Trong các văn thư ngoại giao, chúa
Nguyễn vừa tỏ ra mềm dẻo, vừa kiên quyết chống lại việc xâm phạm chủ quyền của
Xiêm (28). Chân Lạp là mục tiêu trở thành “vùng đệm” trong chính sách Đông tiến
của người Thái. Do những lợi ích kinh tế, chính trị, sau thất bại quân sự năm
1785, giới cầm quyền nước này vẫn chưa chịu từ bỏ ý đồ xâm chiếm vùng đất của
Việt Nam (29).
Kênh Vĩnh Tế đóng vai trò kép trong phát triển kinh tế-xã hội và đảm bảo an
ninh quốc phòng, chủ quyền quốc gia, “phòng thủ chiến lược”. “Ngày quốc vương
nước ấy [Cao Miên] đến thành, quan Tổng trấn phải tiếp đón chu đáo và nhân tiện
bàn với Quốc vương ấy về việc khơi thông con kênh từ Châu Đốc đến địa giới trấn
Hà Tiên (tức kênh Vĩnh Tế) để Quốc vương biết những lợi ích trong việc bảo vệ
nước ấy và để họ chuẩn bị hợp tác thực hiện” (30).
Từ những trải nghiệm sâu sắc của mình, vua Gia Long rất ý thức về việc thực thi
và bảo vệ chủ quyền biển đảo phía Nam. Trong một chuyến thao diễn chiến thuyền
trên sông Hương ở Kinh thành Huế, nhân khi bàn về cơ lược dùng binh với quan
quân của mình, vua đã chỉ dụ “Côn Lôn, Phú Quốc, Thị Nại, Cù Mông, trẫm cùng
tướng sĩ các ngươi đã trăm trận đánh vất vả mới có ngày nay. Lúc yên đừng quên
lúc nguy, đó thực là đạo giữ nước yên dân” (31). Sau khi lên nối ngôi, vua Minh
Mệnh từng nhấn mạnh “biết tự trị thì mạnh, có phòng bị thì không lo…; còn đảo
Côn Lôn ở Vĩnh Long; đảo Phú Quốc ở Hà Tiên đều có đặt đồn bảo chia phái lính
thú tuần phòng, để răn ngừa sự lo bất ngờ” (32).
Tinh thần đề cao cảnh giác, chủ động phòng thủ, ý thức về chủ quyền biển đảo
đất nước cũng ghi dấu ấn đậm nét trong tư duy và nhận thức của các vị đứng đầu
vương triều Nguyễn. Những hình ảnh khắc trên bộ Cửu Đỉnh (33) đúc tại Kinh
thành Huế dưới triều vua Minh Mệnh bên cạnh những hình ảnh về sự giàu đẹp của
đất nước như núi sông, cửa ải, động thực vật, binh khí... thì hình ảnh của
biển, lãnh hải, của biển đã được chạm khắc tinh vi, thể hiện rất rõ tinh thần
hướng biển của những người đứng đầu đất nước cũng như của người dân Việt. Cụ
thể, ở Cao Đỉnh có hình ảnh Đông Hải, ở Nhân Đỉnh có biển Nam Hải, ở Chương
Đỉnh có biển Tây Hải, ở Nghị Đỉnh có Thuận An hải khẩu, ở Thuần Đỉnh có Cần Giờ
hải khẩu, ở Dụ Đỉnh có Đà Nẵng hải khẩu… Các địa danh như Núi Thiên Tôn, sông
Hương, núi Ngự, đại diện của miền Trung, đại diện cho vùng đất do tổ tiên nhà
Nguyễn mở mang bờ cõi ở phương Nam và cũng là nơi Nguyễn Ánh dấy nghiệp; các
con kênh đào, công trình thủy lợi có ý nghĩa thiết thực được thực hiện dưới
thời Nguyễn… Tất cả thể hiện nền kỹ thuật quân sự, các cửa ải quan yếu, các cửa
biển của đất nước, sự phồn thịnh của tài nguyên đất nước (34).
Năm 1834 Minh Mệnh lệnh cho đắp pháo đài Kim Dữ (35). Ngoài ra, triều đình còn
cho xây dựng Bảo đài Phù Anh, Lũy dài Thị Vạn được xây đắp năm 1842; Bảo Lư
Khê, Pháo đài nhỏ Tô Châu được đắp năm Thiệu Trị thứ nhất (1841), Bảo Giang
Thành được đắp năm Minh Mệnh thứ 15 (1834), Bảo Tiên Thái đắp năm Minh Mệnh thứ
6 (1825); Bảo Đầm Chiết, Bảo Hàm Ninh xây đắp năm Thiệu Trị thứ 2 (1842); Bảo
Phú Quốc xây đắp trên đảo Phú Quốc năm Minh Mệnh thứ 20 (1839)…
Cuối năm 1853, khi phủ thần Hà Tiên Lê Quang Nguyên và thanh tra Bùi Văn Phong
dâng việc biên phòng, vua Tự Đức đem việc này hỏi kinh lược sứ thần Nguyễn Tri
Phương và được tấu rằng “Mạc Thiên Tứ phòng giữ sơ sài, đến nỗi có việc nhiễu
loạn ở Tô Châu. Như nay, phía hữu Tô Châu có bảo Kim Dữ; phía tả con đê ngang,
lại có bảo Lư Khê, nên đặt thêm bảo Tô Châu nữa, để cùng chống đỡ lẫn nhau,
không nên đắp mới lũy dài… Ở Hà Tiên, An Giang thì nên chia ghép đất ở cho bọn
tù được tha, dồn làm đội ngũ Hướng thiện, Quy thiện, cấp vốn cho khẩn ruộng,
hạn cho 10 năm phải nộp giả đủ, mà không nên cho chúng tụ họp đông. Đến như
thuyền buôn nước Thanh ở cửa Cần Bột, nên cho phép đến buôn, nhưng hạ lệnh cho
chúng đậu hết cả ở bảo Lộc Trì và phải chia nộp súng ống, khí giới mang theo
thuyền ấy cho ta, để tiện phòng kiểm. Vua cho là phải” (36).
Khi được Nguyễn Tri Phương tâu nói “biên dân Hà Tiên ứng mộ khai khẩn, ở Tiền
Giang tất cả 500 người, ở Hậu Giang 435 người, đã dồn làm Ninh Biên nhất, nhị,
tam. Duy có sông Vĩnh Tế là nơi quan yếu hơn, mà lại xa, xin đặt chức Tuyên phủ
sứ ở An Giang, ngày thường ở đấy, đốc thúc việc cày cấy, xong vụ làm ruộng thì
dạy nghề võ… Vua cho là kế hay làm cho dân số tụ đông, lương chứa ở biên giới
được đầy đủ, lâu dài mãi” (37).
Theo Đại Nam nhất thống chí “Thuyền đánh cá người Quỳnh Châu, tỉnh Quảng Đông
vẫn thường đến đậu ở các đảo để đánh cá phơi khô và bắt hải sâm, cùng ghe
thuyến của dân ta xen nhau trên mặt biển. Bọn cướp biển Chà Và cũng thường đến
mai phục trên đảo, bắt người cướp của” (38). Thực tế này cho thấy việc thường
xuyên kiểm soát, quản lý, cấp phát khí giới để phòng thủ, bảo đảm an ninh an
toàn trên biển đảo là rất cấp bách và cần thiết: “cho nên những chỗ ấy [vùng
biển Hà Tiên, Phú Quốc… - TG] đều sắm đủ khí giới để phòng bị” (39).
Năm 1836, vua Minh Mệnh dụ “Nước ta bờ biển rất dài, việc đi tuần ngoài bể là
quan trọng và thiết yếu, nay cho Kinh đô và địa phương gần bể, hằng năm tháng 2
thời phái lính đi tuần ngoài bể đến tháng 7 hay tháng 8 thì trở về (40).
Ngoài các đội Hoàng Sa, Bắc Hải, tại vùng biển đảo Tây Nam còn có các đội Hà
Phú, Phú Cường đảm nhận hoạt động tuần tra, canh gác biển đảo. Nhà vua còn yêu
cầu Bộ Công biên soạn sách Hải trình tập nghiệm để phục vụ cho hoạt động tuần
tra trên biển (41). Theo thống kê từ Đại Nam thực lục, dưới triều vua Minh
Mệnh, thủy quân nhà Nguyễn đã liên tục đánh bại nhiều cuộc cướp bóc của cướp
biển Chà Và vào các năm 1822, 1823, 1825, 1828, 1830, 1834 ở bãi biển Hà Tiên,
đảo Hòn Rái (Lại Dữ), đảo Cổ Rồng (Long Cảnh) (42). Cụ thể như tháng 6 năm Đinh
Dậu (1837), 3 chiếc thuyền giặc biển Chà Và lại đến đảo Hòn Rái tỉnh Hà Tiên,
Quản cơ Nguyễn Văn Do và Phòng thủ úy Nguyễn Toán đem quân đuổi đánh, bắt được
đầu mục giặc là Băng Ly Ma Ô Tôn, Băng Ly Ma Cô Lý và đồng đảng 43 tên, chém
được 12 đầu giặc, số còn lại nhảy xuống biển chết, thu hết được thuyền súng và
khí giới của giặc (43).
2.3. Gắn kết kinh tế với đối ngoại, quản lý xung đột, trấn áp giặc biển;
tuần tra, kiểm soát, cứu hộ cứu nạn, xây dựng lực lượng bảo vệ biên giới biển
Chính sách cứu hộ, cứu nạn cũng được chính quyền đặt ra và thực thi một cách
thường xuyên. Chính sách này nhằm trợ giúp những ngư dân, tàu thuyền gặp nạn
trên biển từ các nguồn hỗ trợ của nhà nước. Những ngư dân, tàu thuyền của người
trong và ngoài nước sẽ được cứu trợ lương thực, thực phẩm cũng như hỗ trợ việc
sửa chữa tàu thuyền để về bờ an toàn.
Thời vua Gia Long, triều đình quy định những thuyền buôn bị bão, vỡ thuyền, của
cải mất hết thì quan sở tại căn cứ vào số nhân khẩu trong thuyền là bao nhiêu
mà cấp phát cho mỗi người một tháng lương thực của công để những người buôn bán
đó độ nhật (44). Trên thực tế, nhiều tàu thuyền của nước ngoài khi gặp nạn trên
biển đã được lực lượng thủy quân triều Nguyễn hỗ trợ. Chẳng hạn như năm 1829
“thuyền sai của nước Thanh là Hoàng Đạo Thái đi phủ Đài Loan chở thóc công, bị
gió dạt vào dương phận Hà Tiên, thành thần Gia Định tâu lên. Vua [Minh Mệnh]
sai theo lệ nạn bão mà chẩn cấp. Bánh lái, cột buồm của thuyền bị gãy, cho mua
gỗ sửa chữa mà miễn thuế. Rồi đợi thuận gió cho về” (45).
Từ thời vua Minh Mệnh, triều đình đã tiến hành ban bố các quy chế như “Tuần
dương chương trình”, “Tuần thuyền quy thức” và “Tuần dương xử phận lệ”… nhằm
mục đích chống cướp biển, trạm dương và giữ gìn an ninh cho các loại tàu thuyền
hoạt động ven biển. Việc tuần tra, kiểm soát vùng biển được giao cho quân chính
quy, song các địa phương cũng thường được triều đình giao cho quyền chủ động
huy động dân địa phương tuần thám. Vua Minh Mạng từng chỉ dụ rằng các tỉnh có
hải phận đều phải đóng hai, ba chiếc thuyền nhanh nhẹn, sai dân các đảo sửa
chữa thuyền đánh cá, liệu cấp khí giới để đi tuần thám. Quản lý, kiểm soát vùng
biển cũng chính là đảm bảo chủ quyền kinh tế biển, chủ quyền lãnh hải.
Bên cạnh việc đắp lũy, xây dựng bảo đài, xây dựng pháo đài, vua Minh Mệnh còn
cấp phát thêm khí giới cho cư dân vừa làm ăn, buôn bán, vừa chủ động phòng ngừa
giặc biển. Mặt khác, triều đình định hướng sự tham gia của người dân trong phát
triển kinh tế và bảo vệ chủ quyền biển đảo. Nhiều bằng chứng đã nêu rõ chủ
trương, chính sách và thực tiễn vai trò của người dân hoạt động đó. Trong những
mô tả về không gian biển đảo phía Nam, chính sử chép rõ “Phía tây nam có Dương
cảng làm chỗ tàu tuyền đỗ được, dân biển tụ ở đều thành thôn xóm. Biển nam
ngoài trời, hợp cửa bắc bên trời khai, phía nam có hòn Long Cảnh… nhân dân xứ
này ra sức trung thành, thám báo tình hình giặc, cung ứng vật dụng. Cho nên,
sau khi bình định, gia ơn miễn thuế thân và lao dịch cho xứ ấy, dù thuyền đánh
cá, thuyền đi buôn đều không đánh thuế. Chỉ vì là nơi biển xa hẻo lánh, phải
phòng bị gặc biển Chà Và nhân sơ hở đến ăn cướp, cho nên đặt quan thủ ngự, lấy
dân làm lính, đều đủ khí giới cùng nhau giữ gìn để giữ bản cảnh mà thôi” (46)…
Nhìn chung, với tư duy phòng ngừa từ sớm, từ xa, bên cạnh việc củng cố, xây
dựng hệ thống đồn bảo, tuyển binh, điều động binh lính, xây dựng hệ thống giao
thông, thông tin liên lạc, kiên trì bảo hộ Cao Miên, vua Gia Long tích cực tìm
hiểu thực lực binh bị của Xiêm (47). Theo Xiêm La sự tích, vua Gia Long “hết
sức cân nhắc đến tình hòa hiếu láng giềng với Xiêm La, thường sai người sang
cảm tạ và tặng quà. Đến khi chinh chiến thắng trận, báo tin cho biết. Mỗi khi
thấy sứ giả của ta đến cảm tạ, người Xiêm đều dâng sản vật địa phương”
(48).
Sau khi lên ngôi, vua Minh Mạng đã có những cải cách quan trọng nhằm phục hưng
đất nước. Quân đội thời kỳ này khá hùng mạnh, hoàn bị về tổ chức phiên binh,
trang bị vũ khí, tăng cường thuỷ quân và phòng thủ bờ biển, hải đảo (49). Vua
Minh Mạng tăng cường kiểm soát người nước ngoài, cũng như các yếu tố xâm nhập
từ bên ngoài. Từ năm 1809-1810, bản đồ nước Xiêm, lộ trình thủy, bộ đến Xiêm đã
được vua Gia Long cho điều tra, khảo sát kỹ lưỡng (50). Cuối năm 1818, vua Gia
Long cho đào kênh nối Châu Đốc với Hà Tiên “Đào con sông này công việc rất khó
nhọc. Kế sách của nhà nước, mưu hoạch việc biên thùy, đều quan hệ không nhỏ.
Các ngươi nay khó nhọc, mà thực có lợi muôn đời. Vậy nên bảo nhau đừng sợ khó
nhọc” (51). Năm 1824, con kênh đào hoàn thành, trở thành tuyến giao thương quan
trọng hàng đầu của các tỉnh miền Tây. Dưới thời trị vì của vua Minh Mạng, triều
đình thực thi chính sách đối ngoại cứng rắn hơn nhằm loại bỏ ảnh hướng của Xiêm
ở Chân Lạp, mặc dù trong quan hệ ngoại giao vẫn cử sứ thần sang Xiêm bàn việc
công, chúc mừng (1824) hay như nhận sứ tạ ơn với “nghi thức giao tiếp phải cho
hợp lẽ, thích đáng” (52).
Thực tế cho thấy, vào đến thập niên 30 thế kỷ XIX, Rama III nhận thấy nội tình
rối ren của Việt Nam là một cơ hội không chỉ giúp xác lập lại bá quyền ở Chân
Lạp mà còn mở rộng ảnh hưởng sang cả vùng hạ lưu Mê Kông. “Vua tôi nước Xiêm,
nhân Nam Kỳ có cuộc biến về giặc Lê Văn Khôi, tham gái đẹp và ngọc lụa của giặc
phỉnh gạt, bỏ giao hiếu, gây cừu thù… thừa lúc ta không phòng bị, chia quân
thủy, bộ vào cướp, chiếm cứ Chân Lạp, Hà Tiên, Châu Đốc các nơi” (53). Nguy cơ
về chủ quyền lãnh thổ, lãnh hải, nhân có việc thủy binh giặc Xiêm đến hải phận
Lam Dữ, vua Minh Mệnh [năm 1833] dụ bộ Binh: “Nếu quả thật có quân Xiêm đến đất
ta, thì phải trước phái người đưa thư đến vặn hỏi người Xiêm đem quân đến đây
là vì ý gì. Xem chúng đáp lại thế nào? Nếu chúng trả lời bằng giọng hòa hảo,
thì tuỳ nghi biện bác, khiến chúng đuối lý, phải tự rút lui, ấy là kế hay nhất.
Nếu chúng tham việc gieo tai rắc hoạ, gây hấn ra trước, thì hãy nên tuỳ cơ mà
đánh” (54).
Để chủ động phòng ngừa, vua Minh Mệnh dặn bộ Binh “Ý hướng người Xiêm, tuy chưa
thể biết, nhưng cũng không thể hoãn việc dự phòng được. Trước đây, ta cũng đã
xuống dụ các Tướng quân, Tham tán và tỉnh An Giang liệu lượng điều bát binh
thuyền, súng ống khí giới phái đi đóng giữ Hà Tiên rồi. Vả lại, việc này, ở
quân thứ đã được tin báo trước, đáng lý ra các viên Tướng quân và Tham tán phải
cần kíp đem binh đi đến trấn áp mới phải; thế mà lại chần chừ nghe ngóng; nếu
xảy ra sự biến thì há chẳng để lỡ việc ư? Vậy truyền chỉ nghiêm quở các Tướng
quân và Tham tán. Nay phải liệu rõ sự cơ, điều thêm binh dõng, thuyền bè khiến
cùng binh lính phái trước, cốt đủ trên dưới 1.000 người, kíp đến Hà Tiên, phòng
giữ nghiêm cẩn” (55).
Bên cạnh việc phải đối phó với quân Xiêm, triều Nguyễn cũng thường xuyên phải
đối phó với các lực lượng của phương Tây xâm phạm lãnh hải như tàu thuyền của
các nước Anh, Bồ Đào Nha hay nước Phật Lan (Pháp)… Đối với các thế lực này,
chính quyền nhà Nguyễn cũng đề ra các quy định linh hoạt và cương quyết. Chẳng
hạn như năm 1848, “có một chiếc tàu của Anh Cát Lợi đuổi bắt tên tù bị lưu
người nước Thanh ở ngoài biển hòn Khoai. Có 16 người Tây dương, một người dân
Kinh, ngồi thuyền tới cửa sông Nghi Giang, Hà Tiên xin cho binh phủ
đuổi bắt hộ. Tỉnh thần uỷ cho Lãnh binh là Tôn Thất Trực đem 100 quân và một
người thông dịch đi thuyền đến nơi xét hỏi xua đuổi. Việc ấy đến tai vua. Vua
nói: thuyền ấy là thuyền của người Anh, nên hỏi rõ sự trạng, làm cho ổn thoả
không nên nhất khái xua đuổi đi, chỉ tỏ ra là mình không rộng lượng thôi. Vậy
chuẩn cho xét hỏi duyên do vì sao mà đến, một mặt tuỳ nghi làm cho ổn thoả, một
mặt tâu lên ngay để rõ tình trạng. (Xưa nay thuyền các nước Anh Cát Lợi, Ma Ly
Căn, Bút Tu Kế đến đây mua sắc các thức ăn và lấy củi nước thì không cấm. Duy
thuyền nước Phật Lan Tây [nước Pháp] thì không cho vào vụng và không cho lên bờ
vì là đã từng đến sinh chuyện” (56).
3. Một số nhận xét
Biển và hải đảo Việt Nam là bộ phận cấu thành chủ quyền thiêng liêng, không
gian sinh tồn, cửa ngõ giao lưu đối ngoại, gắn bó chặt chẽ với sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ đất nước. Kết hợp kinh tế với bảo vệ chủ quyền, bảo vệ chủ quyền
với kinh tế là yêu cầu khách quan, nội dung cơ bản trong chính sách cai trị của
nhiều triều đại, chính thể cầm quyền trong lịch sử dân tộc Việt Nam.
Trong các thế kỉ XVII-XVIII, hoạt động kinh tế biển (hải thương) là nguồn lực
kinh tế chủ đạo, trọng yếu của chính quyền chúa Nguyễn ở Đàng Trong. Sự lớn
mạnh đến mức Đàng Trong được đánh giá là một “thể chế biển” ở khu vực. Chính
thực lực kinh tế đó là giúp chúa Nguyễn có thể khẳng định, thực thi và bảo vệ
chủ quyền, cương vực của mình. Trong ý nghĩa chung, đó chính là sự kết hợp sức
mạnh giữa kinh tế với an ninh, quốc phòng của chính quyền Đàng
Trong.
Các vị vua đầu triều Nguyễn như Gia Long, Minh Mệnh đã kế thừa và phát huy các
chủ trương, chính sách của các chúa Nguyễn trong việc quản lý và gây dựng vùng
biển đảo Tây Nam trở thành một không gian địa kinh tế, địa chính trị quan
trọng, có vai trò chiến lược đối với sự phát triển kinh tế - xã hội cũng như an
ninh, chủ quyền biển đảo của đất nước.
Một trong những biện pháp quan trọng của chính quyền nhà Nguyễn chính là việc
chủ động kiểm soát các nguy cơ có thể gây mất ổn định xã hội từ các hoạt động
giao thương cũng như nạn giặc biển từ bên ngoài. Hệ quả là triều Nguyễn từng
bước hạn chế ngoại thương, đồng thời đề ra những quy định chặt chẽ như việc hạn
chế và cấm một số mặt hàng trong buôn bán, giao dịch với thương nhân nước
ngoài. Chính sử chép nhiều về “vàng, bạc, muối, gạo, tiền đồng, kỳ nam, trầm
hương đều cấm không được mua bán” (57)… So với thời kỳ của các chúa Nguyễn,
hoạt động quản lý vùng biển đảo Tây Nam dưới triều Nguyễn chuyển từ tập trung
khai thác kinh tế biển sang lấy việc bảo đảm an ninh, quốc phòng làm trọng,
trong đó kết hợp hài hòa giữa khai thác kinh tế với bảo vệ chủ quyền trên biển.
Nhà Nguyễn đã huy động người dân tham gia vào các lực lượng thủy quân nhằm thực
hiện các hoạt động xác lập, thực thi chủ quyền đối với các vùng biển đảo và hải
cương. Cùng với các hoạt động khai thác kinh tế biển đảo, triều Nguyễn cũng đề
cao cảnh giác, cương quyết trấn áp đối với các hoạt động của giặc biển cũng như
chủ động phòng ngừa các hành động xâm lấn của các thế lực ngoại bang.
Cần thấy là, việc khai thác tiềm năng, lợi thế vùng ven biển, kiểm soát khai
thác tài nguyên, phục hồi hệ sinh thái, gắn liền với bảo đảm quốc phòng và nâng
cao đời sống của người dân vùng ven biển, hơn hết, dưới thời Nguyễn, triều đình
chú trọng xác định hải cương; tăng cường tuần tra, kiểm soát, cứu hộ cứu nạn
trên biển, xây dựng lực lượng bảo vệ biên giới quốc gia trên biển, đặt nền móng
cho chính sách “chiến tranh nhân dân” nhằm giữ gìn, làm chủ biên giới trên
biển. Có thể nói ba trụ cột trong việc kết hợp kinh tế với an ninh, quốc phòng
ở trên đã được triển khai khá hệ thống dưới thời vua Gia Long, Minh Mạng.
Dưới góc nhìn quản lý hiện đại, có thể nhận thấy triều Nguyễn đã giải quyết có
hiệu quả mối quan hệ giữa địa-kinh tế và địa-chính trị, góp phần giữ vững ổn
định, chủ quyền trên các vùng biển đảo của Tổ quốc. Trong tình hình hiện nay,
vùng biển đảo Tây Nam không chỉ thể hiện được vai trò trong kinh tế biển mà còn
phát huy vị thế của mình trong việc hợp tác kinh tế, chính trị, an ninh, quốc
phòng, bảo vệ chủ quyền ở khu vực, trên cơ sở tuân thủ luật pháp quốc tế vì hòa
bình và phát triển bền vững của quốc gia và khu vực.
CHÚ THÍCH
(1). Nguyễn Văn Kim: “Văn minh và đề chế: Nhìn lại mô hình và con đường phát
triển của các quốc gia Đông Á”, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 2 (406), 2010,
tr.10.
(2). Cristoforo Borri: Xứ Đàng Trong năm 1621, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh,
1998, tr.91.
(3). Cristoforo Borri: Xứ Đàng Trong năm 1621, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh,
1998, tr.93.
(4). Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam nhất thống chí, Bản dịch của Hoàng Văn
Lâu, tập 2, Nxb. Lao động - Trung tâm Văn hóa ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội, 2012,
tr.1788.
(5). Trịnh Hoài Đức: Gia Định thành thông chí, dịch giả: Đỗ Mộng Khương,
Nguyễn Ngọc Tỉnh. Hiệu đính và chú thích: Đào Duy Anh, Nxb. Giáo dục, Hà Nội,
1999, tr.201.
(6). Đỗ Quỳnh Nga: “Việc sử dụng người Hoa của các chúa Nguyễn trong công cuộc
mở đất miền Tây Nam Bộ”, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 4 (420), 2011,
tr.40-49.
(7). Vũ Văn Phái: “Biển và phát triển kinh tế biển Việt Nam: Quá khứ, hiện tại
và tương lai”, Kỷ yếu hội thảo quốc tế Việt Nam học lần thứ 3, Hà Nội
(VNH3.TB5.411), 2008, tr.1.
(8). Quốc sử quán triều Nguyễn (2012), Đại Nam nhất thống chí, tập 2, bản dịch
của Hoàng Văn Lâu, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.1778.
(9). Trịnh Hoài Đức: Gia Định thành thông chí, dịch giả: Đỗ Mộng Khương, Nguyễn
Ngọc Tỉnh. Hiệu đính và chú thích: Đào Duy Anh, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1999,
tr.137.
(10). Trịnh Hoài Đức: Gia Định thành thông chí, dịch giả: Đỗ Mộng Khương,
Nguyễn Ngọc Tỉnh. Hiệu đính và chú thích: Đào Duy Anh, Nxb. Giáo dục, Hà Nội,
1999, tr.137.
(11). Quốc sử quán triều Nguyễn (2012), Đại Nam nhất thống chí, tập 2, bản dịch
của Hoàng Văn Lâu, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.1778.
(12). Quốc sử quán triều Nguyễn (2012), Đại Nam nhất thống chí, tập 2, bản dịch
của Hoàng Văn Lâu, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.1784.
(13). Quốc sử quán triều Nguyễn (2012), Đại Nam nhất thống chí, tập 2, bản dịch
của Hoàng Văn Lâu, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.1783-1785.
(14). Quốc sử quán triều Nguyễn (2012), Đại Nam nhất thống chí, tập 2, bản dịch
của Hoàng Văn Lâu, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.1784.
(15). Quốc sử quán triều Nguyễn (2012), Đại Nam nhất thống chí, tập 2, bản dịch
của Hoàng Văn Lâu, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.1784.
(16). Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam thực lục, tập 4, Nxb. Giáo dục, Hà
Nội, 2007, tr.1037.
(17). Quốc sử quán triều Nguyễn (2012), Đại Nam nhất thống chí, tập 2, bản dịch
của Hoàng Văn Lâu, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.1785-1786.
(18). Trịnh Hoài Đức: Gia Định thành thông chí, dịch giả: Đỗ Mộng Khương,
Nguyễn Ngọc Tỉnh. Hiệu đính và chú thích: Đào Duy Anh, Nxb. Giáo dục, Hà Nội,
1999, tr.69.
(19). Nguyễn Chu Hồi (cb): Tài nguyên, môi trường và chủ quyền biển, đảo Việt Nam,
Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.28-29.
(20). Vũ Văn Phái: “Biển và phát triển kinh tế biển Việt Nam: Quá khứ, hiện tại
và tương lai”, Kỷ yếu hội thảo quốc tế Việt Nam học lần thứ 3, Hà Nội
(VNH3.TB5.411), 2008, tr.4.
(21). Quốc sử quán triều Nguyễn (2012), Đại Nam nhất thống chí, tập 2, bản dịch
của Hoàng Văn Lâu, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.1783-1785.
(22). Nguyễn Phương Nam: Phát triển bền vững kinh tế, quốc phòng trên địa bàn
biển, đảo Tây Nam trong tình hình mới, https://www.tapchicongsan.org.vn/quoc-phong-an-ninh-oi-ngoai1/-/2018/38928/phat-trien-ben-vung-kinh-te%2C-quoc-phong-tren-dia-ban-bien%2C-dao-tay-nam-trong-tinh-hinh-moi.aspx#
(truy cập ngày 10-4-2024).
(23). Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam nhất thống chí, tập 5, Nxb. Thuận Hoá,
Huế, 2006, tr.10.
(24). Lê Quý Đôn: Toàn tập, tập 1: Phủ biên tạp lục, Nxb Khoa học xã hội, Hà
Nội, 1977, tr.195.
(25). Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam thực lục, tập 3, Nxb. Giáo dục, Hà
Nội, 2007, tr.384.
(26). Quốc sử quán triều Nguyễn (2012), Đại Nam nhất thống chí, tập 2, bản dịch
của Hoàng Văn Lâu, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.1790.
(27). Năm 1771, vua Xiêm phái 2 vạn quân đánh chiếm Hà Tiên khiến Mạc Thiên Tứ
phải rút lui chờ cầu viện của chúa Nguyễn. Năm 1773, Mạc Thiên Tứ củng cố lại
lực lượng đẩy lùi và đánh tan quân Xiêm, lấy lại Hà Tiên trong tình trạng đã bị
quân giặc tàn phá nặng nề.
(28). Lê Quý Đôn: Toàn tập, tập 1: Phủ biên tạp lục, Nxb Khoa học xã hội, Hà
Nội, 1977, tr.261-272.
(29).. Nguyễn Quang Ngọc: Vùng đất Nam Bộ, tập IV, Từ đầu thế kỷ XVII đến giữa
thế kỷ XIX, Sđd, tr.387-394; Nguyễn Thanh Tuyền: “Cuộc kháng chiến chống Xiêm
cuối năm 1833 đầu năm 1834 và chiến thắng Vàm Nao, Cổ Hỗ” , Tạp chí Nghiên cứu
Lịch sử, số 7(567), 2023, tr.19-35.
(30). Châu bản triều Nguyễn, triều Gia Long 3/148.
(31). Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam thực lục, tập 1, Nxb. Giáo dục, Hà
Nội, 2002, tr.811.
(32). Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam thực lục, tập 5, Nxb. Giáo dục, Hà
Nội, 2007, tr.329.
(33). Những hình ảnh biển đảo được khắc trên bộ Cửu đỉnh là một nguồn tư liệu
quý về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Ngày
01-12-2012, tại Quyết định số 1426 /QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ đã công nhận 9
chiếc đỉnh thời Nguyễn là Bảo vật quốc gia. Tại kỳ họp thứ 10 ở Ulan Bator
(Mông Cổ) vào ngày 08-5-2024, hồ sơ “Những bản đúc nổi trên chính đỉnh đồng
Hoàng cung Huế” đã được ghi danh là Di sản Tư liệu khu vực châu Á-Thái Bình
Dương của UNESCO.
(34). Diệp Anh: “Cửu Đỉnh: Tuyệt tác nghệ thuật - báu vật của quốc gia”.
https://baochinhphu.vn/cuu-dinh-tuyet-tac-nghe-thuat-bau-vat-cua-quoc-gia-102240509144109836.htm
(truy cập ngày 25-5-2024).
(35). Quốc sử quán triều Nguyễn (2012), Đại Nam nhất thống chí, tập 2, bản dịch
của Hoàng Văn Lâu, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.1789.
(36). Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam thực lục, tập 7, Nxb. Giáo dục, Hà
Nội, 2007, tr. 295.
(37). Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam thực lục, tập 7, Nxb. Giáo dục, Hà
Nội, 2007, tr. 295.
(38). Quốc sử quán triều Nguyễn (2012), Đại Nam nhất thống chí, tập 2, bản dịch
của Hoàng Văn Lâu, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.1786.
(39). Quốc sử quán triều Nguyễn (2012), Đại Nam nhất thống chí, tập 2, bản dịch
của Hoàng Văn Lâu, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, tr. 1786.
(40). Quốc sử quán triều Nguyễn: Minh Mệnh chính yếu, 2010, tr. 1659.
(41). Trần Thị Mai: “Hoạt động phòng thủ trên biển của vương triều Nguyễn
(1802-1884)”, Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ, tập 17, số X1-2014,
tr.53.
(42). Trần Thị Mai: “Hoạt động phòng thủ trên biển của vương triều Nguyễn
(1802-1884)”, Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ, tập 17, số X1-2014,
tr.55.
(43). Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam thực lục, tập 5, Nxb. Giáo dục, Hà
Nội, 2007, tr.106.
(44). Xem thêm: Phạm Thị Thơm: “Chính sách cứu nạn trên biển dưới triều vua Gia
Long-Minh Mạng (1802-1840)”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 3 (216), 2018,
tr.60-65.
(45). Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, tập 2, Nxb. Giáo dục, Hà
Nội, Hà Nội, tr.920.
(46). Trịnh Hoài Đức: Gia Định thành thông chí, dịch giả: Đỗ Mộng Khương,
Nguyễn Ngọc Tỉnh. Hiệu đính và chú thích: Đào Duy Anh, Nxb. Giáo dục, Hà Nội,
1999, tr.68.
(47). Bùi Thị Bích Ngọc, Nguyễn Duy Điệp: “Hoạt động quân sự ở vùng biên giới
Tây Nam thời Gia Long (1802-1820)”, Tạp chí Lịch sử quân sự, số 348 (12-2020),
tr.96.
(48). Xiêm La sự tích nằm trong tập Cao Miên, Xiêm La sự tích, là tài liệu do
Cơ Mật viện triều Nguyễn biên soạn theo chỉ dụ của vua Tự Đức, hoàn thành vào
năm Tự Đức thứ 5 (1852), trình bày quan hệ giữa triều Nguyễn và nước Xiêm La từ
thời các chúa Nguyễn cho đến triều vua Thiệu Trị (1841 - 1847). Nguyên bản Cao
Miên, Xiêm La sự tích gồm 110 trang chữ Hán chép tay, khổ 29x16cm.Tài liệu lưu
tại Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ, kho Trung Quốc, ký hiệu HNv-204. Bản dịch
tiếng Việt do Nguyễn Duy Điệp thực hiện. Dẫn theo: Bùi Thị Bích Ngọc: Tài liệu
đã dẫn, 2020, tr.96.
(49). Nguyễn Đức Nhuệ, Ngô Vũ Hải Hằng: “Quan hệ chính trị Việt Nam-Chân
Lạp-Xiêm La đầu thế kỷ XIX và nguyên nhân dẫn đến trận Vàm Nao-Cổ Hũ
(1833-1834)”, Hội thảo khoa học cấp Quốc gia Chiến thắng Vàm Nao-Cổ Hũ
(1834)-190 năm nhìn lại, Đồng Tháp, tháng 4-2024, tr.84.
(50). Tống Phước Ngoạn - Dương Văn Châu: Xiêm La quốc lộ trình tập lục (Phạm
Hoàng Quân dịch, chú và giới thiệu), Nxb. Văn hóa - Văn nghệ, Thành phố Hồ Chí
Minh, 2017, tr.37-150.
(51). Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam thực lục, tập 1, Nxb. Giáo dục, Hà
Nội, 2002, tr.997.
(52). Châu bản triều Nguyễn, triều Minh Mệnh 18/184.
(53). Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam thực lục, tập 4, Nxb. Giáo dục, Hà
Nội, 2007, tr.385.
(54). Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam thực lục, tập 3, Nxb. Giáo dục, Hà
Nội, 2007, tr.909.
(55). Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam thực lục, tập 3, Nxb. Giáo dục, Hà
Nội, 2007, tr.909.
(56). Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam thực lục, tập 7, Nxb. Giáo dục, Hà
Nội, 2007, tr.67.
(57). Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam thực lục, tập 1, Nxb. Giáo dục, Hà
Nội, 2002, tr.762.