Ban hành Quy chế làm việc mẫu của 4 Đảng uỷ trực thuộc Trung ương
(ĐCSVN) - Thay mặt Bộ Chính trị, đồng chí Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư ký ban hành Quyết định số 173-QĐ/TW ngày 20/5/2026, ban hành Quy chế làm việc mẫu của các Đảng uỷ: Các cơ quan Đảng Trung ương; Chính phủ; Quốc hội; Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương.
Đồng chí Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư, Bí thư Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung ương chủ trì Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ các cơ quan Đảng Trung ương lần thứ nhất

Theo Quyết định số 173-QĐ/TW, các Đảng uỷ căn cứ Quy chế làm việc mẫu và các quy định của Trung ương có liên quan xây dựng Quy chế làm việc của mình phù hợp với yêu cầu công tác lãnh đạo, chỉ đạo và tình hình thực tiễn của Đảng bộ.

Quyết định này thay thế Quyết định số 252-QĐ/TW, ngày 24/01/2025 của Bộ Chính trị ban hành Quy chế làm việc mẫu của 4 Đảng uỷ trực thuộc Trung ương và có hiệu lực từ ngày 20/5/2026.

Nguyên tắc làm việc

Quy chế làm việc mẫu của 4 Đảng uỷ trực thuộc Trung ương, gồm: Đảng uỷ các cơ quan Đảng Trung ương; Đảng uỷ Chính phủ; Đảng uỷ Quốc hội; Đảng uỷ Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương (gọi chung là Đảng uỷ), quy định rõ nguyên tắc làm việc:

1. Ban Chấp hành, Ban Thường vụ, các tập thể nêu tại Điều 3, Điều 4 làm việc theo nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy trí tuệ tập thể, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; thiểu số phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên; cá nhân phục tùng tổ chức; chấp hành nghiêm Cương lĩnh, Điều lệ Đảng, các nghị quyết, chỉ thị của Trung ương, của Đảng uỷ và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ.

2. Bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất trong công tác xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, tổ chức chính trị - xã hội trong phạm vi lãnh đạo của Đảng bộ, công tác tổ chức, cán bộ và các lĩnh vực công tác, nhiệm vụ chuyên môn của Ban Chấp hành Đảng bộ, Ban Thường vụ Đảng uỷ, các tập thể nêu tại Điều 3, Điều 4; nêu cao tính chủ động, sáng tạo, tự chịu trách nhiệm của mỗi cá nhân, nhất là người đứng đầu. Thực hiện phân cấp, phân quyền gắn với tăng cường kiểm tra, giám sát.

Những vấn đề đã được hội nghị tập thể Thường trực Đảng uỷ thảo luận, thống nhất thông qua thì tập thể lãnh đạo cơ quan, tổ chức hoặc người đứng đầu ban hành văn bản, chỉ đạo, triển khai thực hiện ngay theo thẩm quyền.

3. Nghị quyết, quyết định, kết luận, thông báo của Ban Chấp hành Đảng bộ, Ban Thường vụ Đảng uỷ, các tập thể nêu tại Điều 3, Điều 4 phải có trên 1/2 tổng số thành viên tán thành (trừ những vấn đề có quy định riêng). Trong một số trường hợp, do nội dung vấn đề phải giải quyết không phức tạp hoặc không thể tổ chức họp trực tiếp Ban Thường vụ, tập thể nêu tại Điều 3, Điều 4 được thì đồng chí Bí thư và các đồng chí Phó Bí thư phụ trách lĩnh vực hội ý, thống nhất, chỉ đạo tổ chức họp trực tuyến, sử dụng văn bản điện tử, ký số, biểu quyết điện tử hoặc gửi xin ý kiến Ban Thường vụ Đảng uỷ hoặc tập thể nêu tại Điều 3, Điều 4 bằng văn bản (trừ công tác cán bộ), khi có trên 1/2 thành viên đương nhiệm tán thành thì ý kiến quá bán đó coi như nghị quyết của cuộc họp; trường hợp tuy đã có trên 1/2 thành viên tán thành, nhưng còn có ý kiến khác nhau về những vấn đề quan trọng thì cần đưa ra hội nghị Ban Thường vụ hoặc hội nghị tập thể nêu tại Điều 3, Điều 4 thảo luận, tạo sự thống nhất trước khi quyết định. Trường hợp phải có ý kiến gấp với cơ quan chức năng về công tác cán bộ, nhất là cán bộ diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý, có thể gửi xin ý kiến bằng văn bản như trên; đối với những nhân sự phức tạp, nhạy cảm, còn nhiều ý kiến khác nhau thì tiếp tục đưa ra thảo luận tại tập thể Thường trực, Ban Thường vụ như quy định hiện hành.

Các văn bản báo cáo, xin ý kiến Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư phải được Đảng uỷ, Ban Thường vụ Đảng uỷ, tập thể Thường trực Đảng uỷ thông qua và do Bí thư hoặc phân công Phó Bí thư Thường trực Đảng uỷ ký, ban hành.

4. Cá nhân được quyền phát biểu và bảo lưu ý kiến của mình, nhưng phải chấp hành nghị quyết của tập thể. Ý kiến bảo lưu có thể được phản ánh lên cấp trên, nhưng không được tuyên truyền, phổ biến ra bên ngoài.

5. Bảo đảm sự minh bạch, công khai trong mọi hoạt động của Đảng uỷ, tạo sự tin tưởng và đoàn kết trong Đảng bộ.

6. Thực hiện công khai các kết quả kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng và các quyết định quan trọng.

7. Bảo đảm sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng uỷ và các đảng bộ trực thuộc.

8. Xây dựng và duy trì mối quan hệ công tác hài hoà, hiệu quả giữa các thành viên.

Thực hiện chương trình công tác

Theo Quy chế, Ban Chấp hành, Ban Thường vụ, các tập thể nêu tại Điều 3, Điều 4 làm việc theo chương trình, kế hoạch công tác đã được tập thể thông qua; và thực hiện theo chỉ đạo của Trung ương hoặc khi có yêu cầu đột xuất.

Ban Chấp hành Đảng bộ có Chương trình công tác toàn khoá và hằng năm. Ban Thường vụ Đảng uỷ, các tập thể nêu tại Điều 3, Điều 4 làm việc theo chương trình toàn khoá, hằng năm, 6 tháng, hằng quý, hằng tháng (có điều chỉnh khi cần).

Văn phòng Đảng uỷ phối hợp với các cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc của Đảng uỷ, các đảng uỷ trực thuộc và các cơ quan liên quan tham mưu xây dựng Chương trình làm việc của Ban Chấp hành, Ban Thường vụ, Thường trực Đảng uỷ, các tập thể nêu tại Điều 3, Điều 4 trong từng thời gian cụ thể.

Phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng Uỷ viên Ban Chấp hành, Ban Thường vụ và các tập thể nêu tại Điều 3, Điều 4; Uỷ viên Ban Chấp hành, Uỷ viên Ban Thường vụ, các tập thể nêu tại Điều 3, Điều 4 trên cơ sở chương trình công tác của Ban Chấp hành, Ban Thường vụ, các tập thể nêu tại Điều 3, Điều 4 chủ động xây dựng chương trình, kế hoạch công tác của mình, tăng cường làm việc với cấp dưới và cơ sở.

Tổ chức kiểm tra, giám sát việc thực hiện chương trình, kế hoạch công tác và định kỳ báo cáo Ban Chấp hành kết quả kiểm tra, giám sát. Định kỳ tổ chức sơ kết, tổng kết đánh giá việc thực hiện chương trình công tác.

Chế độ thông tin, báo cáo và bảo mật

Quy chế làm việc mẫu của 4 Đảng uỷ trực thuộc Trung ương nêu rõ: Ban Thường vụ, tập thể nêu tại Điều 4 giao Văn phòng Đảng uỷ, Ban Tuyên giáo và Dân vận Đảng uỷ cung cấp đầy đủ, kịp thời các thông tin và những vấn đề nổi bật của Đảng bộ cho các đồng chí Uỷ viên Ban Chấp hành, các đảng uỷ trực thuộc theo quy định.

Định kỳ hằng tháng, quý, 6 tháng, 9 tháng và năm các đảng uỷ trực thuộc, các ban, đơn vị Đảng uỷ, Đoàn Thanh niên báo cáo (bằng văn bản) với Ban Thường vụ Đảng uỷ về tình hình, kết quả triển khai thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, các nghị quyết, chỉ thị, văn bản chỉ đạo của Ban Chấp hành Đảng bộ, Ban Thường vụ, Thường trực Đảng uỷ và việc thực hiện nhiệm vụ chính trị được giao. Khi có tình hình, công việc đột xuất, cấp thiết vượt thẩm quyền, theo tính chất, yêu cầu công việc phải kịp thời báo cáo xin ý kiến chỉ đạo của các tập thể nêu tại Điều 3, Điều 4 hoặc Ban Thường vụ Đảng uỷ.

Các tập thể nêu tại Điều 3, Điều 4 và các ban tham mưu báo cáo Ban Thường vụ tại phiên họp định kỳ hằng tháng của Ban Thường vụ; Ban Thường vụ báo cáo với Ban Chấp hành tại phiên họp định kỳ hằng quý của Ban Chấp hành về tình hình, kết quả thực hiện công việc và những nội dung được Ban Thường vụ, Ban Chấp hành phân cấp, uỷ quyền giải quyết.

Định kỳ báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các cơ quan chức năng về tình hình hoạt động và kết quả thực hiện các nhiệm vụ, công việc được giao.

Các đồng chí Uỷ viên Ban Chấp hành Đảng bộ và các tổ chức đảng trực thuộc thực hiện nghiêm túc các quy định về bảo mật thông tin của Đảng và Nhà nước theo quy định.

Xem toàn văn Q__TW173_signed_90fe3.pdf

Nguồn bài viết: Cổng Thông tin điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam
Tin xem nhiều
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1