Quan điểm của Đảng về phát triển nguồn nhân lực xanh: Sự chuyển biến qua các kỳ Đại hội
Thách thức nghiêm trọng về biến đổi khí hậu, suy giảm tài nguyên và ô nhiễm môi trường thì việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng xanh và bền vững dần trở thành xu hướng tất yếu của nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Yêu cầu chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng xanh xuất phát không chỉ từ cam kết quốc tế mà còn từ những giới hạn của mô hình tăng trưởng dựa vào khai thác tài nguyên và lao động giá rẻ. Trong bối cảnh đó, phát triển nguồn nhân lực nổi lên như một yếu tố trung tâm, quyết định khả năng thích ứng và chuyển đổi của nền kinh tế.
Đảng Cộng sản Việt Nam luôn nhất quán quan điểm coi con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của phát triển. Khi đặt vào bối cảnh trong nước và quốc tế đều đang hướng tới các cam kết phát triển bền vững, quan điểm về phát triển nguồn nhân lực của Đảng đã có những chuyển biến qua từng kỳ Đại hội, theo đó, đặt ra những yêu cầu cụ thể hơn, xác định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, có khả năng đổi mới sáng tạo, làm chủ công nghệ và thích ứng với biến đổi khí hậu . Việc phát triển nguồn nhân lực xanh cũng đã hiện diện trong các Văn kiện của các kỳ Đại hội, thể hiện quyết tâm và cam kết của Việt Nam đối với mục tiêu phát triển bền vững.
Bước qua các kỳ Đại hội
Kể từ Đại hội VIII ( 1996 ), để thực hiện mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, việc phát triển nguồn nhân lực chủ yếu tập trung vào giáo dục và đào tạo nghề, nâng cao trình độ lao động. Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII về định hướng chiến lược phát triển giáo dục, đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nhiệm vụ đến năm 2000 đã khẳng định : “Lấy việc phát huy nguồn lực con người là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững”; “Phát triển nguồn nhân lực phải là sự quan tâm và trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội bằng nhiều biện pháp, trong đó giáo dục và đào tạo là then chốt ( Đảng Cộng sản Việt Nam , 1997 a) .
Đến Đại hội IX (2001), Đảng nêu quan điểm “đáp ứng yêu cầu về con người và nguồn nhân lực là nhân tố quyết định sự phát triển đất nước thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, đồng thời khẳng định phương hướng: “Tiếp tục đổi mới, tạo chuyển biến cơ bản, toàn diện về phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực với cơ cấu hợp lý; triển khai thực hiện chương trình phổ cập trung học cơ sở; ứng dụng nhanh các công nghệ tiên tiến, hiện đại; từng bước phát triển kinh tế tri thức” ( Đảng Cộng sản Việt Nam, 2001 ) .
Tại Đại hội X ( 2006) , Đảng thể hiện quyết tâm tập trung đổi mới toàn diện giáo dục và đào tạo, chấn hưng giáo dục Việt Nam để phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao với nhiều giải pháp như phát triển nguồn nhân lực gắn với tạo việc làm, tạo việc làm tại chỗ thông qua phát triển sản xuất, tập trung vào các sản phẩm có giá trị kinh tế cao, xuất khẩu... ( Đảng Cộng sản Việt Nam, 2006 ) .
Đại hội XI (2011) với việc xác định mục tiêu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, Đảng đã xác định một trong ba khâu đột phá chiến lược là “Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao” ( Báo điện tử Chính phủ, 2011 ).
Đại hội XII ( 2016 ) tiếp tục khẳng định chủ trương đổi mới mô hình tăng trưởng, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với kinh tế tri thức, trong đó tiếp tục đặt ra những yêu cầu trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tăng cường ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ, đổi mới và sáng tạo, phát huy lợi thế so sánh trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng và hướng tới các mục tiêu phát triển bền vững. Trong giai đoạn này, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao vẫn tiếp tục được xác định là một trong ba đột phá chiến lược, là động lực cho sự phát triển. Trên cơ sở đó, Đại hội XII đề ra phương hướng, nhiệm vụ: “Xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực cho đất nước, cho từng ngành, từng lĩnh vực, với những giải pháp đồng bộ, trong đó tập trung cho giải pháp đào tạo, đào tạo lại nguồn nhân lực trong nhà trường cũng như trong quá trình sản xuất kinh doanh, chú trọng nâng cao tính chuyên nghiệp và kỹ năng thực hành” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2016) .
Đại hội XIII (2021) tiếp tục kế thừa quan điểm chỉ đạo từ các kỳ Đại hội trước, xác định “phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao” là một trong ba đột phá chiến lược . Đại hội cũng đặt ra yêu cầu phải “Đào tạo con người theo hướng có đạo đức, kỷ luật, kỷ cương, ý thức trách nhiệm công dân, xã hội; có kỹ năng sống, kỹ năng làm việc, ngoại ngữ, công nghệ thông tin, công nghệ số, tư duy sáng tạo và hội nhập quốc tế (công dân toàn cầu)” ( Báo điện tử Chính phủ, 2021).
Đại hội XIV (2026) đánh dấu bước phát triển mới khi xác định mô hình tăng trưởng nhanh và bền vững dựa trên khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo. Đại hội XIV được xác định là thời điểm bắt đầu của kỷ nguyên mới. Do đó, một trong những nhiệm vụ trọng tâm của kỳ Đại hội này là “Thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất và phương thức sản xuất mới, trọng tâm là phát triển kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, xây dựng xã hội số, thân thiện với môi trường”. Đồng thời, phát triển nguồn nhân lực được tiếp cận theo hướng hệ thống, gắn với thể chế, thị trường lao động và đổi mới giáo dục ( Tạp chí Công Thương, 2026) .
Quan điểm của Đảng về phát triển nguồn nhân lực xanh
Một trong những quan điểm xuyên suốt của Đảng là đặt con người ở vị trí trung tâm của chiến lược phát triển. Việt Nam đã xác định mô hình tăng trưởng dựa vào khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo , đồng thời coi bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu và phát triển xanh là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt, vì vậy , vai trò của con người cũng đã có những thay đổi so với trước đây , con người không chỉ là lực lượng lao động mà còn là chủ thể sáng tạo, vận hành công nghệ, thay đổi mô hình sản xuất và tiêu dùng theo hướng bền vững. Phát triển nguồn nhân lực xanh không chỉ nhằm nâng cao trình độ chuyên môn mà còn nhằm phát triển năng lực sáng tạo, tư duy xanh, trách nhiệm môi trường và khả năng thích ứng với thay đổi của thị trường lao động. Nguồn nhân lực đã được khẳng định qua nhiều kỳ Đại hội là một trong những yếu tố then chốt, quyết định sự phát triển của đất nước, là động lực của mô hình phát triển. Chất lượng nguồn nhân lực trở thành yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Quan điểm của Đảng cho thấy phát triển nguồn nhân lực không còn là một lĩnh vực riêng của ngành giáo dục đào tạo mà trở thành một chiến lược phát triển quốc gia, gắn với phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn. Phát triển nguồn nhân lực được đặt trong mối quan hệ chặt chẽ với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, thị trường lao động và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Chính sách giáo dục và đào tạo không còn chỉ tập trung vào việc truyền thụ tri thức, mà hướng tới phát triển năng lực sáng tạo, kỹ năng thích ứng và khả năng làm chủ công nghệ. Đồng thời, các chính sách về khoa học - công nghệ, môi trường và chuyển đổi số cũng được thiết kế theo hướng tạo ra nhu cầu, không gian và động lực cho việc phát triển và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao. Với yêu cầu chuyển đổi mô hình sản xuất và tiêu dùng theo hướng bền vững, nguồn nhân lực phải đáp ứng được các yêu cầu mới về kỹ năng xanh, tư duy phát triển bền vững và năng lực triển khai các mô hình sản xuất thân thiện với môi trường, thậm chí cả lối sống xanh hàng ngày… Như vậy, phát triển nguồn nhân lực xanh không chỉ nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động mà còn đóng vai trò dẫn dắt , tạo động lực cho quá trình chuyển đổi xanh và bền vững.
Phát triển nguồn nhân lực xanh đặt ra yêu cầu đổi mới trong giáo dục và đào tạo, không chỉ truyền đạt kiến thức mà còn là phát triển kỹ năng, năng lực và phẩm chất . Trong các văn kiện gần đây, đặc biệt là tại Đại hội XIII và Đại hội XIV, Đảng nhấn mạnh yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực người học, khắc phục tình trạng nặng về truyền thụ kiến thức, nhẹ về thực hành, kỹ năng và khả năng vận dụng. Quan điểm này cho thấy sự chuyển dịch từ mô hình giáo dục định hướng nội dung sang mô hình giáo dục định hướng năng lực, trong đó người học không chỉ được trang bị kiến thức chuyên môn mà còn được phát triển tư duy phản biện, năng lực sáng tạo, khả năng giải quyết vấn đề và kỹ năng thích ứng với thay đổi. Đào tạo phải gắn với nhu cầu của thị trường việc làm xanh, kinh tế xanh. Như vậy, quan điểm của Đảng về phát triển nguồn nhân lực trong tăng trưởng xanh thể hiện sự chuyển dịch rõ rệt từ tư duy phát triển giáo dục theo chiều rộng sang phát triển theo chiều sâu, từ đào tạo kiến thức sang phát triển năng lực toàn diện.
Kết luận
Q uan điểm Đảng về phát triển nguồn nhân lực nói chung và nguồn nhân lực xanh nói riêng mang tính toàn diện xuyên suốt và được điều chỉnh phù hợp với bối cảnh của từng thời kỳ. Quan điểm của Đảng đã có sự phát triển rõ rệt qua các kỳ Đại hội, từ chỗ coi nguồn nhân lực là điều kiện cần để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đến việc xác định nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao, là một trong những đột phá chiến lược, và hiện nay là động lực trung tâm của mô hình tăng trưởng mới dựa trên khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững. Để hướng tới mục tiêu phát triển nhanh và bền vững, phát triển nguồn nhân lực không chỉ dừng lại ở việc nâng cao trình độ học vấn hay tay nghề, mà còn gắn với yêu cầu hình thành năng lực đổi mới sáng tạo, kỹ năng xanh, kỹ năng số, khả năng thích ứng với biến đổi công nghệ và thị trường lao động./
Nguyễn Thanh Huyền
Tài liệu tham khảo
1. Đảng Cộng sản Việt Nam. (1997). Văn kiện Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII . Hà Nội. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia. Tr. 87
2. Đảng Cộng sản Việt Nam. (2001). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX . Hà Nội: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia. Tr. 201-203
3. Hệ thống Tư liệu-Văn kiện Đảng (2015). “Định hướng phát triển các lĩnh vực khoa giáo trong Nghị quyết Đại hội X của Đảng” . Truy xuất từ https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/van-kien-tu-lieu-ve-dang/gioi-thieu-van-kien-dang/dinh-huong-phat-trien-cac-linh-vuc-khoa-giao-trong-nghi-quyet-dai-hoi-x-cua-dang-898 , ngày 27/3 /2026 .
4. Báo điện tử Chính phủ. (2011). “Đại hội Đảng XI với các khâu đột phá”. Truy xuất từ https://baochinhphu.vn/dai-hoi-dang-xi-voi-cac-khau-dot-pha-10256712.htm#:~:text=(Chinhphu.vn)%20%2D%20D%E1%BB%B1%20th%E1%BA%A3o%20Chi%E1%BA%BFn%20l%C6%B0%E1%BB%A3c%20ph%C3%A1t,nh%C3%A2n%20l%E1%BB%B1c%20v%C3%A0%20k%E1%BA%BFt%20c%E1%BA%A5u%20h%E1%BA%A1%20t%E1%BA%A7ng , ngày 27/3 /2026 .
5. Đảng Cộng sản Việt Nam. (2016). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII. Hà Nội: Văn phòng Trung ương Đảng.
6. Báo điện tử Chính phủ. (2021). “ Toàn văn Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII” . Truy xuất từ https://baochinhphu.vn/toan-van-nghi-quyet-dai-hoi-dai-bieu-toan-quoc-lan-thu-xiii-cua-dang-102288263.htm ngày 27/3 /2026 .
7. Tạp chí Công Thương. (2026). “ Đại hội XIV của Đảng: Định hướng phát triển nguồn nhân lực trong giai đoạn mới”. Truy xuất từ https://tapchicongthuong.vn/dai-hoi-xiv-cua-dang--dinh-huong-phat-trien