Kết nối kinh tế Việt Nam - Ấn Độ: "Khoảng trống" 15 tỷ USD giữa thương mại và đầu tư cần lấp đầy
Chiều ngày 27/8/2026, Hội thảo khoa học quốc tế "Quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện Tăng cường Việt Nam - Ấn Độ: Hướng tới những động lực phát triển mới" đã bước vào Phiên 2 với chủ đề "Tăng cường kết nối kinh tế, chuyển đổi xanh, năng lượng tái tạo và phát triển bền vững", dưới sự điều hành của PGS.TS. Nguyễn Xuân Trung, Viện trưởng, Viện Nghiên cứu Nam Á, Tây Á và Châu Phi 
Anh-tin-bai
Thương mại song phương Việt Nam - Ấn Độ đã cán mốc 16,46 tỷ USD trong năm 2025, tăng hơn 70% chỉ trong 5 năm. Nhưng đầu tư trực tiếp của Ấn Độ vào Việt Nam mới dừng ở khoảng 1,12 tỷ USD. Khoảng cách đó chính là chủ đề xuyên suốt phiên thảo luận "Tăng cường kết nối kinh tế, chuyển đổi xanh và phát triển bền vững" một trong ba phiên chuyên đề của Hội thảo khoa học quốc tế "Quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện Tăng cường Việt Nam - Ấn Độ: Hướng tới những động lực phát triển mới", do PGS.TS. Nguyễn Xuân Trung, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Nam Á, Tây Á và Châu Phi (ISAWAAS), điều hành. Câu hỏi đặt ra xuyên suốt phiên: cần làm gì để lòng tin chính trị chuyển hóa thành nhà máy, chuỗi cung ứng và dòng vốn đầu tư cụ thể?

Nghịch lý 16 tỷ USD thương mại và 1 tỷ USD đầu tư

 Trình bày tham luận "Hợp tác Việt Nam - Ấn Độ trong xây dựng chuỗi cung ứng tự cường và đa dạng hóa công nghiệp trong bối cảnh địa chính trị mới", TS. Nguyễn Đoan Trang, Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính (Bộ Tài chính) đã chỉ ra một nghịch lý đáng chú ý, thương mại song phương đã tăng hơn 70% trong giai đoạn 2020-2025, từ 9,6 tỷ USD lên 16,46 tỷ USD, và Việt Nam liên tục xuất siêu kể từ năm 2022 (đạt 4,24 tỷ USD năm 2025) nhưng đầu tư trực tiếp của Ấn Độ vào Việt Nam mới chỉ đạt khoảng 1,12 tỷ USD với 473 dự án còn hiệu lực. Khoảng cách đáng kể giữa thương mại và đầu tư này chính là dư địa lớn nhất cần khai thác trong giai đoạn tới.
Anh-tin-bai
TS. Nguyễn Đoan Trang phát trình bày tham luận tại hội thảo

TS. Nguyễn Đoan Trang cho rằng mục tiêu không nên chỉ là tăng kim ngạch, mà là làm cho một phần lớn hơn của thương mại được tạo ra bởi chính các quan hệ sản xuất, đầu tư và chuỗi cung ứng giữa doanh nghiệp hai nước thay vì trao đổi hàng hóa thuần túy. Bà đề xuất 5 nhóm chuỗi ưu tiên có nền tảng tương đối rõ để triển khai trước: 

- Điện tử, bán dẫn, công nghệ số (Việt Nam mạnh về sản xuất - lắp ráp, Ấn Độ mạnh về thiết kế chip và phần mềm qua chương trình India Semiconductor Mission); 
- Dược phẩm, hóa chất, thiết bị y tế (Ấn Độ đứng thứ ba thế giới về sản lượng dược phẩm, đáp ứng khoảng 20% nhu cầu thuốc generic toàn cầu); 
- Ô tô, xe điện, pin, năng lượng sạch; 
- Máy móc, kim loại, dệt may, da giày và công nghiệp hỗ trợ; 
- Nông - thủy sản, chế biến thực phẩm, logistics lạnh. 
Bà kiến nghị hai Chính phủ cụ thể hóa bằng một Chương trình hợp tác chuỗi cung ứng giai đoạn 2026-2030, với danh mục dự án, đầu mối phụ trách và bộ chỉ tiêu đo lường rõ ràng thay vì dừng lại ở các biên bản ghi nhớ.
 
Đông Bắc Ấn Độ: từ "cửa ngõ trung chuyển" thành điểm khởi đầu sản xuất
 
Mở rộng góc nhìn ra cấp độ khu vực, PGS.TS. Sunetra Ghatak, Đại học Toàn cầu O.P. Jindal (Ấn Độ) đề xuất một cách tiếp cận mới, thay vì đo kết nối vùng bằng số km đường đã xây, cần đo bằng khả năng tạo liên kết sản xuất, giảm chi phí giao dịch và cải thiện sinh kế khu vực. Theo bà, Vịnh Bengal là cầu nối hàng hải, lục địa gắn Ấn Độ, Đông Bắc Ấn Độ và Đông Nam Á thông qua Hành lang Kinh tế Mekong - Ấn Độ (MIEC), kết nối các cảng Chennai với Hà Nội, TP.HCM qua Dawei, Bangkok, Phnom Penh.
Anh-tin-bai
PGS.TS. Sunetra Ghatak, Đại học Toàn cầu O.P. Jindal, Ấn Độ phát biểu tại hội thảo
Điểm nhấn trong tham luận của PGS.TS. Ghatak là đề xuất định vị lại vai trò của khu vực Đông Bắc Ấn Độ khu vực gồm 8 bang với khoảng 46 triệu dân, sở hữu tiềm năng thủy điện khoảng 59.000 MW và tiềm năng điện mặt trời lớn. Thay vì chỉ là hành lang trung chuyển hàng hóa, bà cho rằng khu vực này cần trở thành một "điểm nút kinh tế" nơi giá trị được tạo ra tại chỗ thông qua chế biến nông sản, thủ công mỹ nghệ, năng lượng tái tạo kết nối với năng lực công nghệ và sản xuất của Việt Nam. Bà dẫn số liệu cho thấy cứ 1% tăng trưởng GDP của các bang kết nối hành lang sẽ kéo theo khoảng 0,5% tăng trưởng lưu lượng hàng hóa, và dự báo lưu lượng này có thể tăng tới 74% vào năm 2040 dọc theo tuyến Kaladan.
VinFast tại Tamil Nadu: bài học về đầu tư dẫn dắt thương mại
 
Từ góc độ chính sách thương mại, ThS. Phan Thị Diệu Linh, Vụ Phát triển thị trường nước ngoài (Bộ Công Thương), phân tích sâu vì sao xuất khẩu thuần túy khó tạo đột phá. Bà chỉ ra 3 kênh mà đầu tư trực tiếp thúc đẩy thương mại: kênh đầu vào (xây nhà máy tại Ấn Độ kéo theo nhập khẩu máy móc, nguyên liệu từ Việt Nam); kênh vượt rào cản kỹ thuật (sản xuất tại chỗ mang danh nghĩa "Made in India", giảm được thuế nhập khẩu và các hàng rào BIS/QCOs); và kênh lan tỏa chuỗi cung ứng (dự án lớn kéo theo các nhà cung cấp vệ tinh). Dẫn chứng điển hình được nêu là nhà máy xe điện VinFast tại Tamil Nadu (vốn giai đoạn 1: 500 triệu USD) vừa giảm được thuế nhập khẩu ô tô nguyên chiếc rất cao của Ấn Độ, vừa tạo ra nhu cầu linh kiện, thiết bị từ chính Việt Nam.
 
Về dư địa thị trường, bà chỉ ra hai nhóm ngành hàng khác biệt, nhóm đã có vị thế cao tại Ấn Độ nhưng thị trường nhập khẩu nhỏ (như hạt tiêu chiếm 30,7% thị phần nhập khẩu của Ấn Độ, cà phê 10,7%) cần hướng tới nâng phân khúc giá trị; và nhóm có dư địa thị phần lớn nhưng Việt Nam mới chiếm tỷ trọng rất nhỏ điển hình là hóa chất (Việt Nam chỉ chiếm 0,9% trong thị trường nhập khẩu hóa chất trị giá 40,9 tỷ USD của Ấn Độ) và sản phẩm nhựa (1,7% trong thị trường 22 tỷ USD). Theo tính toán của bà, riêng nhóm hóa chất và chất dẻo, mỗi 1 điểm % thị phần giành thêm tương đương khoảng 600 triệu USD kim ngạch.
 
ThS. Phan Thị Diệu Linh cũng đưa ra một cảnh báo đáng chú ý, mức xuất siêu 4,23 tỷ USD của Việt Nam năm 2025 tương đương khoảng 40% kim ngạch xuất khẩu sang Ấn Độ có thể khiến Ấn Độ, vốn nhạy cảm với thâm hụt thương mại, gia tăng các biện pháp phòng vệ thương mại và mở rộng hàng rào kỹ thuật (BIS/QCOs). Giải pháp chủ động, theo bà, là thực hiện thực chất cam kết tăng nhập khẩu từ Ấn Độ theo đúng tinh thần Tuyên bố chung tháng 5/2026 vừa giữ tính bền vững chính trị của quan hệ thương mại, vừa đa dạng hóa nguồn cung nguyên liệu đầu vào cho sản xuất trong nước. Bà đề xuất khuyến nghị chính sách theo ba nhóm chủ thể. Chính phủ (thể chế hóa Tuyên bố chung thành chương trình hành động, thúc đẩy hoàn tất nâng cấp AITIGA), hiệp hội ngành hàng (tổ chức đoàn khảo sát, tập huấn quy định BIS/QCOs), và doanh nghiệp (chuyển từ xuất khẩu thuần túy sang hiện diện thị trường qua nhà máy, showroom, liên doanh).
 
Kết nối "hạ tầng cứng" đã đi trước, giờ đến lượt "hạ tầng mềm"
 
Tham gia thảo luận, Ông Nguyễn Tuấn Quang, nguyên Tham tán Thương mại, Trưởng Thương vụ Việt Nam tại Ấn Độ chia sẻ thêm góc nhìn về khu vực Đông Bắc Ấn Độ cho rằng đây là vùng đất giàu tiềm năng nhưng còn ít được các doanh nghiệp Việt Nam và ASEAN chú ý tới, khi phần lớn sự quan tâm vẫn chỉ tập trung vào Ấn Độ nói chung hoặc khu vực Tây Ấn, Trung Ấn. Ông cho rằng chính sách visa cụ thể và đầu tư hạ tầng, sản phẩm du lịch từ chính quyền các bang Đông Bắc sẽ là chìa khóa để đánh thức tiềm năng hợp tác với 8 bang của khu vực này.
Anh-tin-bai
Ông Nguyễn Tuấn Quang, nguyên Tham tán Thương mại, Trưởng Thương vụ Việt Nam tại Ấn Độ bình luận tại hội thảo

Tổng kết phiên họp, PGS.TS. Nguyễn Xuân Trung, Viện trưởng ISAWAAS, đưa ra một hình ảnh trực quan về tốc độ phát triển quan hệ hai nước, nếu như khoảng năm 2015, muốn sang Ấn Độ vẫn phải bay quá cảnh qua Malaysia, Thái Lan hay Singapore vì chưa có đường bay thẳng, thì nay tần suất đã lên tới gần 70 chuyến bay mỗi tuần khẳng định đây là một sự tăng trưởng rõ ràng về mức độ giao lưu, hợp tác giữa hai nước.

 
Tuy nhiên, ông cũng thẳng thắn nhìn nhận, nếu như "hạ tầng cứng" (đường bay, cảng biển, logistics) đã có bước tiến rõ rệt, thì "hạ tầng mềm" thủ tục hải quan, cơ chế công nhận lẫn nhau, tiêu chuẩn kỹ thuật vẫn là điểm nghẽn lớn. Mỗi bên hiện áp dụng hệ tiêu chuẩn và chứng nhận khác nhau, khiến hàng hóa hai nước gặp nhiều rào cản phi thuế quan khi thâm nhập thị trường của nhau vấn đề mà ông cho biết phía Việt Nam cũng rất lo ngại. Từ đó, PGS.TS. Nguyễn Xuân Trung nhấn mạnh hai nước cần tìm kiếm những động lực và lĩnh vực hợp tác mới để bù đắp, trong đó ưu tiên hàng đầu là công nghệ số, các ngành công nghệ chiến lược, dược phẩm thế mạnh của Ấn Độ mà Việt Nam đang có nhu cầu lớn cùng ô tô điện, nơi Việt Nam có lợi thế riêng. Ông đánh giá các giải pháp được nêu tại phiên họp hợp lý và có tính khả thi cao, và bày tỏ tin tưởng thương mại song phương sẽ tiếp tục tăng trưởng mạnh mẽ trong thời gian tới.
 
Xuyên suốt Phiên 2, một thông điệp chung được nhắc lại từ nhiều góc độ khác nhau: khuôn khổ Đối tác Chiến lược Toàn diện Tăng cường đã mở ra dư địa đủ lớn cho các động lực tăng trưởng mới, nhưng để hiện thực hóa mục tiêu 25 tỷ USD thương mại vào năm 2030, hai nước cần chuyển trọng tâm từ trao đổi hàng hóa sang liên kết sản xuất, đầu tư hai chiều, gỡ các rào cản phi thuế quan còn tồn tại, và những dự án cụ thể có doanh nghiệp dẫn dắt.
Nguyễn Thị Hiên - Đồng Thị Thùy Linh
Nguồn bài viết: Trang Thông tin điện tử Viện Nghiên cứu Nam Á, Tây Á và Châu Phi
Ý kiến bạn đọc
Họ tên no image
Nội dung no image
Mã kiểm tra no image
Tin xem nhiều
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1