Thủy nông Việt Nam từ năm 1858 đến năm 1945- mảnh ghép của bức tranh tổng thể Việt Nam thời cận đại và nỗ lực tìm giải pháp thủy nông từ lịch sử
Cuốn sách Thủy nông Việt Nam từ năm 1858 đến năm 1945 là một chuyên khảo do TS. Bùi Thị Hà, Nghiên cứu viên chính Viện Sử học (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam), chủ biên cùng các cộng sự, được xuất bản bởi Nhà xuất bản Khoa học xã hội năm 2025.
Cuốn sách là kết quả của quá trình nghiên cứu nghiêm túc, công phu, bám sát định hướng nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn. Không chỉ góp phần hệ thống hóa các tài liệu mới, đặc biệt là tài liệu lưu trữ tiếng Pháp để phác họa bức tranh tổng thể về các công trình thủy nông ở Việt Nam thời cận đại, công trình còn gợi ra những bài học lịch sử gắn với các biện pháp về thủy nông, phòng chống và giảm nhẹ thiên tai ở Việt Nam hiện nay.

TS.Bùi Thị Hà (Chủ biên), Thủy nông Việt Nam từ năm 1858 đến năm 1945,
Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2025
Trong lịch sử Việt Nam, nông nghiệp luôn giữ vai trò chủ đạo, chi phối nhiều hoạt động của đời sống kinh tế - xã hội. Đối với sản xuất nông nghiệp, nước là vấn đề có ý nghĩa sống còn, vì điều kiện khí hậu và địa hình ở Việt Nam khiến có nơi thì thừa nước gây lũ lụt, có nơi lại thiếu nước gây hạn hán. Tầm quan trọng của nước được thể hiện rõ trong câu thành ngữ: “Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống”. Điều hòa nguồn nước - hay công tác thủy nông - chính là “lợi dụng cái lợi của nước, khắc chế cái hại của nước” trở thành một trong những biện pháp quan trọng nhất để duy trì, bảo vệ và phát triển nông nghiệp, giao thông - vận tải, thương mại, quốc phòng, an ninh…
Thời cận đại (1858 - 1945), để phục vụ quá trình khai thác kinh tế và cai trị thuộc địa, thực dân Pháp đã từng bước xây dựng nhiều hệ thống thủy nông mới, bên cạnh việc duy trì, mở rộng, cải tạo những công trình đã được các triều đại phong kiến và nhân dân ta kiến tạo từ trước đó. Các công trình thủy nông mới đã có những tác động tích cực nhất định đến nền kinh tế nông nghiệp và giao thông Việt Nam thời kỳ cận đại như: góp phần cải tạo đất, mở rộng diện tích canh tác, tăng vụ, tăng năng suất cây trồng, phát triển kinh tế hàng hóa, giao thông vận tải đường thủy… Tuy nhiên, những công trình này cũng bộc lộ nhiều hạn chế trong quá trình thiết kế, thi công, vận hành, như: bắt phu, lao dịch làm công trình thủy nông cho nhà nước; yếu kém về đầu tư, hạ tầng kỹ thuật; hiệu quả hoạt động chưa cao…Những phân tích về vấn đề này gợi ra kinh nghiệm quý báu cho việc thiết kế, xây dựng và quản lý hệ thống thủy nông hiện nay.
Công trình được kết cấu khoa học, chặt chẽ với 05 chương, làm rõ quá trình xây dựng, hoạt động của các công trình thủy nông (các công trình tưới nước và các công trình tiêu nước) ở Việt Nam từ năm 1858 đến năm 1945 trên những nội dung: bối cảnh Việt Nam qua các giai đoạn; chính sách của thực dân Pháp đối với vấn đề thủy nông (vốn đầu tư, cơ quan quản lý, tổ chức); quá trình xây dựng và hoạt động của hệ thống thủy nông Việt Nam; tác động của thủy nông tới đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội Việt Nam thời kỳ này.
Những thông tin tổng hợp và phong phú từ công trình nghiên cứu này có thể giúp người đọc hiểu hơn về quá trình sử dụng hệ thống thủy nông để chế ngự thiên nhiên trong các giai đoạn trước đây, cũng như gợi ra nhiều điều bổ ích cho các bạn đọc quan tâm đến việc xây dựng hệ thống thủy nông, phòng chống giảm nhẹ thiên tai, bảo vệ môi trường... ở Việt Nam hiện nay. Chính vì vậy, đóng góp quan trọng nhất của cuốn sách là đúc rút những bài học lịch sử giá trị, góp phần cung cấp luận cứ khoa học hỗ trợ việc hoạch định chính sách nông nghiệp, nông dân, nông thôn và ứng phó với biến đổi khí hậu, thiên tai trong bối cảnh hiện nay.
Công trình “Thủy nông Việt Nam từ năm 1858 đến năm 1945” là
tài liệu tham khảo cho nghiên cứu và giảng dạy lịch sử cận đại Việt
Nam; việc ra mắt cuốn sách một lần nữa khẳng định sự phối hợp chặt
chẽ, hiệu quả giữa đơn vị nghiên cứu và Nhà xuất bản Khoa học xã hội: Qua đó, Nhà xuất bản Khoa học xã
hội tiếp tục thể hiện vai trò đồng hành và trách nhiệm trong việc nâng tầm giá
trị các di sản tri thức, góp phần vào sự nghiệp phát triển chung của nền khoa học
xã hội và nhân văn nước nhà.