Chính sách khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ở Nam Phi
Nghiên cứu khoa học giữ vai trò quan trọng trong quá trình Nam Phi chuyển từ nền kinh tế phụ thuộc nhiều vào tài nguyên sang nền kinh tế dựa trên tri thức. Sau năm 1994, bên cạnh việc duy trì năng lực nghiên cứu đã hình thành, Nam Phi từng bước hướng tới thu hẹp những bất bình đẳng mang tính lịch sử giữa các trường đại học, các nhóm dân cư, các vùng lãnh thổ. Do đó, chính sách nghiên cứu khoa học ngày càng gắn với các mục tiêu giảm nghèo, thu hẹp bất bình đẳng, tạo việc làm và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. 

Kế hoạch Phát triển quốc gia đến năm 2030 xác định tri thức, giáo dục, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là những yếu tố quan trọng để thúc đẩy tăng trưởng bao trùm và nâng cao chất lượng quản trị nhà nước. Trên cơ sở đó, Chính phủ Nam Phi từng bước chuyển từ cách tiếp cận chủ yếu tập trung hỗ trợ khoa học và công nghệ sang cách tiếp cận mang tính hệ thống, trong đó nghiên cứu được gắn với các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội.

Anh-tin-bai

Khung chính sách trung tâm hiện nay của Nam Phi là Sách trắng về Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo năm 2019. Văn bản này xác định hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia là mạng lưới liên kết giữa cơ quan nhà nước, trường đại học, hội đồng khoa học, doanh nghiệp, tổ chức xã hội và cộng đồng. Điểm đáng chú ý là chính sách không xem nghiên cứu khoa học như hoạt động riêng lẻ của các trường đại học, mà đặt trọng tâm vào khả năng tạo ra tri thức, công nghệ và giải pháp phục vụ các vấn đề phát triển của Nam Phi. Sách trắng nhấn mạnh ba định hướng: (1) Xây dựng môi trường quản trị có tính phối hợp và bao trùm; (2) Tăng cường năng lực con người và cơ sở hạ tầng nghiên cứu; (3) Nâng cao khả năng chuyển hóa kết quả nghiên cứu thành việc đổi mới các sản phẩm và dịch vụ. Cách tiếp cận này cho phép Nam Phi gắn chính sách khoa học với các mục tiêu về y tế, năng lượng, nông nghiệp, công nghiệp, môi trường và chuyển đổi số.

Để đưa Sách trắng vào thực tiễn, Chính phủ đã thông qua Kế hoạch mười năm về Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo giai đoạn 2022-2032. Kế hoạch này được thiết kế như một văn bản triển khai, có các ưu tiên theo chủ đề và yêu cầu phối hợp giữa nhiều cơ quan. Các chương trình tập trung vào những thách thức có tác động trực tiếp đến phát triển quốc gia, như biến đổi khí hậu, chuyển đổi năng lượng, an ninh lương thực, y tế, sản xuất, kinh tế số, phát triển kỹ năng... Một điểm tiến bộ của Kế hoạch là chuyển từ việc chỉ đo lường số lượng công trình sang theo dõi cả tác động kinh tế - xã hội, năng lực đổi mới, quyền sở hữu trí tuệ, mức độ tham gia của doanh nghiệp và sự thay đổi trong cơ cấu nhân lực nghiên cứu. Kế hoạch cũng được xác định là một văn bản có tính cập nhật, cho phép điều chỉnh theo bằng chứng, kết quả giám sát và những thay đổi của công nghệ.

Trong hệ thống, trụ cột quan trọng là chính sách tài chính và tổ chức nghiên cứu. Quỹ Nghiên cứu Quốc gia Nam Phi giữ vai trò trung gian tài trợ, hỗ trợ các dự án nghiên cứu, đầu tư phát triển nhân lực trình độ cao, vận hành cơ sở nghiên cứu quốc gia và phổ biến khoa học. Thông qua các chương trình như Sáng kiến Chủ nhiệm nghiên cứu Nam Phi, các trung tâm xuất sắc và hệ thống cơ sở nghiên cứu quốc gia, Nhà nước hình thành các nhóm nghiên cứu có khả năng cạnh tranh quốc tế, đồng thời mở rộng cơ hội đào tạo sau đại học và nghiên cứu sau tiến sĩ. Bên cạnh nguồn ngân sách công, Nam Phi còn sử dụng các cơ chế khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cho nghiên cứu và phát triển, thúc đẩy đồng tài trợ, hợp tác trường đại học - doanh nghiệp và hỗ trợ thương mại hóa công nghệ. Như vậy, chính sách tài chính được định hướng theo hai mục tiêu là duy trì nghiên cứu cơ bản có chất lượng và tăng khả năng tạo ra giá trị thực tiễn.

Tuy nhiên, thực hiện chính sách vẫn còn nhiều điểm nghẽn. Tại phiên báo cáo trước Quốc hội năm 2024, cơ quan quản lý cho biết mức chi cho nghiên cứu và phát triển của Nam Phi đã giảm xuống khoảng 0,61% GDP, thấp hơn các mục tiêu 1,1% năm 2024 và 1,5% năm 2030; nếu không có thay đổi về cách thức đầu tư thì các mục tiêu này khó đạt được. Đóng góp của khu vực tư nhân có xu hướng giảm, trong khi các trường đại học vẫn là nguồn cung cấp chủ yếu của sản phẩm nghiên cứu. Khoảng cách về năng lực giữa các cơ sở giáo dục đại học, chi phí đăng ký và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, sự phân tán trong phối hợp chính sách và hạn chế về nhân lực cũng làm giảm tốc độ chuyển hóa kết quả nghiên cứu thành sáng chế, doanh nghiệp và việc làm. Những hạn chế này cho thấy việc ban hành chính sách là cần thiết nhưng chưa đủ; hiệu quả phụ thuộc vào mức độ ổn định của nguồn tài chính, chất lượng quản trị và cơ chế khuyến khích các chủ thể cùng tham gia.

Nhìn chung, Nam Phi đã hình thành một cấu trúc tương đối đầy đủ các chính sách phát triển nghiên cứu khoa học, gồm định hướng dài hạn, kế hoạch triển khai theo thập kỷ, cơ quan tài trợ, chương trình phát triển nhân lực, cơ sở hạ tầng và cơ chế liên kết với doanh nghiệp. Thành tựu nổi bật là năng lực nghiên cứu của các trường đại học và hội đồng khoa học được duy trì; chất lượng công bố quốc tế được cải thiện; ưu tiên cho một số lĩnh vực như thiên văn học, y sinh, công nghệ môi trường và năng lượng. Tuy vậy, hệ thống vẫn cần giải quyết đồng thời ba yêu cầu: 1) Tăng đầu tư cho nghiên cứu và phát triển; 2) Bảo đảm phân bổ công bằng hơn giữa các nhóm, vùng và cơ sở nghiên cứu; 3) Gia tăng khả năng đưa kết quả nghiên cứu vào sản xuất và đời sống. Kinh nghiệm Nam Phi cho thấy chính sách khoa học chỉ tạo ra tác động phát triển khi được gắn với mục tiêu quốc gia, có cơ chế phối hợp liên ngành, được đo lường bằng kết quả cụ thể và duy trì sự tham gia thực chất của khu vực tư nhân, giới nghiên cứu và xã hội.


Tài liệu tham khảo

1. National Planning Commission, The Presidency, Republic of South Africa (2012). National Development Plan 2030: Our Future – Make It Work. https://www.gov.za/issues/national-development-plan-2030.

2. Department of Science and Technology, Republic of South Africa (2019). White Paper on Science, Technology and Innovation. https://www.gov.za/sites/default/files/gcis_document/201912/white-paper-science-technology-and-innovation.pdf.

3. Department of Science and Innovation, Republic of South Africa (2022). Science, Technology and Innovation Decadal Plan 2022–2032. National STI Information and Innovation Portal. https://nstiip.naci.org.za/knowledge-base/strategies/policies-and-strategies/185-science-technology-and-innovation-decadal-plan-2022-2032.

4. National Research Foundation (2024). Annual Performance Plan 2024/25. https://www.nrf.ac.za/wp-content/uploads/2024/07/nrf-annual-performance-plan-2024-25-approved_scaled.pdf.

5. Parliamentary Monitoring Group (2024). 2019 White Paper on Science, Technology and Innovation and 2022–32 Decadal Plan. https://pmg.org.za/committee-meeting/39448/.

6. Kahn, M. J. (2022). The Status of Science, Technology and Innovation in Africa. Science, Technology and Society. https://doi.org/10.1177/09717218221078540.

Nguyễn Thị Ngọc Mai
Nguồn bài viết: Trang Thông tin điện tử Viện Nghiên cứu Nam Á, Tây Á và Châu Phi
Tin xem nhiều
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1