Cơ sở dữ liệu đối với nghiên cứu khoa học lịch sử
Chuyển đổi số đang mở ra những phương thức mới trong lưu trữ, khai thác và nghiên cứu sử liệu. Xây dựng cơ sở dữ liệu lịch sử không chỉ giúp bảo tồn, hệ thống hóa và kết nối nguồn tư liệu, mà còn tạo nền tảng đổi mới phương pháp nghiên cứu, nâng cao khả năng tiếp cận và khai thác tri thức lịch sử trong kỷ nguyên số.

Hai nhà sử học người Pháp Charles Victor Langlois và Charles Seignobos đã từng viết: “Pas de documents, pas d'histoire - Không có tài liệu thì không có lịch sử” (trong sách Introduction aux études historiques - Nhập môn nghiên cứu lịch sử xuất bản năm 1898), từ đó về sau trở thành một nguyên lý kinh điển của nền sử học hiện đại. Điều đó phản ánh tầm quan trọng tối thượng của nguồn tài liệu đối với việc nghiên cứu lịch sử và phục dựng lại lịch sử loài người. Ngược dòng lịch sử, trong hơn hai thiên niên kỷ, từ thời Tư Mã Thiên, Herodotus cho đến ngày nay, việc viết sử luôn gắn liền với văn bản hiện hữu bằng các vật chất cụ thể. Tuy nhiên, trong thời đại chuyển đổi số trở thành xu hướng toàn cầu, hình thức của "tài liệu" và cách thức con người tương tác với tài liệu đã và đang trải qua một cuộc thay đổi chưa từng có dưới sự tác động của cuộc cách mạng Công nghiệp 4.0. Do đó, việc xây dựng cơ sở dữ liệu đã chuyển sang một hình thái mới, hoàn toàn khác với cách thu thập tài liệu truyền thống trong quá khứ và ngày càng trở thành nhiệm vụ cấp bách đối với công tác nghiên cứu khoa học lịch sử.

1.  Khái lược về xây dựng cơ sở dữ liệu

Trước hết, cơ sở dữ liệu (Database) được hiểu là một tập hợp các dữ liệu bền vững, được sử dụng bởi các hệ thống ứng dụng của một tổ chức hoặc doanh nghiệp nhất định[1]. Theo định nghĩa của các tác giả Ramez Elmasri và Shamkant B. Navathe, cơ sở dữ liệu là một tập hợp các dữ liệu có liên quan với nhau. Ở đây, dữ liệu được hiểu là các sự kiện thực tế đã biết, có thể được ghi lại và mang một ý nghĩa ngầm định[2]. Theo cách hiểu đơn giản này, cơ sở dữ liệu là một tập hợp các thông tin, dữ liệu được tổ chức và sắp xếp có cấu trúc, giúp việc truy cập, quản lý và cập nhật trở nên dễ dàng, nhanh chóng trên máy tính hoặc các thiết bị điện tử. Theo đó, những ứng dụng thông thường trong cuộc sống như danh bạ điện thoại hay ứng dụng trong ngân hàng cũng được coi là cơ sở dữ liệu. Danh bạ điện thoại là cơ sở dữ liệu lưu trữ tên, số điện thoại và email, là một dạng cơ sở dữ liệu mang tính chất cá nhân hóa. Ứng dụng ngân hàng là hệ thống lưu trữ thông tin cá nhân, số dư và lịch sử giao dịch của rất nhiều khách hàng cùng lúc, là một dạng cơ sở dữ liệu có tính hệ thống cao hơn nhưng chuyên biệt cho một ngành. Tuy nhiên, cơ sở dữ liệu không chỉ đảm bảo yếu tố lưu trữ thông tin mà còn phải đáp ứng được yêu cầu khai thác thông tin của con người. Định nghĩa của tác giả Đỗ Trung Tuấn trong giáo trình Cơ sở dữ liệu đã thể hiện khía cạnh này: “Cơ sở dữ liệu là một hệ thống các thông tin có cấu trúc được lưu trữ trên các thiết bị lưu trữ thông tin thứ cấp (như băng từ, đĩa từ...) để có thể thỏa mãn yêu cầu khai thác thông tin đồng thời của nhiều người sử dụng hay nhiều chương trình ứng dụng với nhiều mục đích khác nhau”[3].

Trong phạm vi của ngành khoa học lịch sử và công tác nghiên cứu lích sử nói riêng, cơ sở dữ liệu được hiểu chính là hệ thống nguồn sử liệu. Về hình thức tồn tại, nguồn sử liệu được phân chia thành 4 nhóm chính:

-   Sử liệu vật chất là những tàn tích vật chất của con người trong quá khứ, bao gồm công cụ lao động, vũ khí, trang sức, di tích kiến trúc, mộ táng, xương cốt, v.v... Loại sử liệu này mang tính khách quan rất cao vì chúng không bị thay đổi bởi ý muốn chủ quan của người ghi chép.

-  Sử liệu thành văn (Sử liệu chữ viết) là toàn bộ những ghi chép bằng chữ viết trên mọi chất liệu (mai rùa, xương thú, thẻ tre, bia đá, giấy...). Đây là nguồn sử liệu phong phú nhất, phản ánh rõ nét tư duy, chính trị, kinh tế, văn hóa của các triều đại và cá nhân.

-   Sử liệu truyền miệng (Sử liệu dân gian) là những ký ức tập thể được truyền từ đời này sang đời khác qua ngôn ngữ nói, bao gồm truyền thuyết, thần thoại, ca dao, tục ngữ, trường ca. Dù mang nhiều yếu tố hư cấu, chúng lại phản ánh tâm tư, nguyện vọng và cái nhìn lịch sử của quần chúng nhân dân.

-  Sử liệu nghe - nhìn (Sử liệu hình ảnh, âm thanh): Đây là loại sử liệu hiện đại (chủ yếu từ thế kỷ XIX trở đi), bao gồm ảnh chụp, bản ghi âm, phim tài liệu. Chúng có giá trị minh chứng vô cùng sống động và chân thực.

Phân loại theo tính chất thì có sử liệu trực tiếp và sử liệu gián tiếp. Sự phân chia này đã ngầm phản ánh độ tin cậy của nguồn sử liệu:

- Sử liệu trực tiếp là nguồn sử liệu gốc, những nguồn tài liệu ra đời cùng thời điểm hoặc gần nhất với thời điểm xảy ra sự kiện lịch sử, do những người trực tiếp tham gia hoặc chứng kiến tạo ra.

-  Sử liệu gián tiếp là sử liệu phái sinh, những tài liệu được biên soạn, viết lại, hoặc nghiên cứu dựa trên các sử liệu gốc sau khi sự kiện đã kết thúc[4].

Ngoài ra, còn có sự phân chia nguồn sử liệu theo chủ đích và sử liệu không có chủ ý. Theo đó, sử liệu có chủ ý là những tài liệu người xưa viết ra một cách có chủ đích để lưu lại cho đời sau, như quốc sử, văn bia, hồi ký,... Sử liệu không chủ ý là những thứ vô tình còn sót lại mà người xưa không định dùng để kể chuyện lịch sử như thư từ cá nhân, rác thải sinh hoạt trong các hố khai quật. Giới sử học hiện đại thường đánh giá rất cao loại sử liệu này vì tính trung thực và không bị ảnh hưởng bởi tư tưởng của người đương thời[5].

Đối với công tác nghiên cứu khoa học lịch sử, hệ thống nguồn sử liệu đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Sự bùng nổ của Kỷ nguyên số (Digital Age) đã đặt giới sử học trước một ngã rẽ mang tính chuyển đổi sâu sắc về phương thức nghiên cứu nói chung và phương thức tập hợp, lưu trữ và khai thác nguồn tài liệu khoa học lịch sử nói riêng. Việc nghiên cứu không dựa trên các văn bản đơn lẻ, phân tán mà phải chuyển sang phương thức nghiên cứu dựa trên hệ thống dữ liệu lớn được cấu trúc hóa bằng máy tính hiện đại, khác hoàn toàn với phương thức truyền thống vốn có. Do đó, việc xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ nghiên cứu lịch sử không đơn thuần là quá trình quét (scan) tài liệu, lưu trữ trong máy tính mà cần hệ thống hóa, mô hình hóa, những sự kiện rời rạc trở thành những dữ liệu có cấu trúc mà máy tính có thể đọc, hiểu, phân tích và tìm kiếm. Cơ sở dữ liệu lịch sử (Historical Database) vì thế được hiểu là một hệ thống tổ chức dữ liệu có cấu trúc chặt chẽ, trong đó thông tin được trích xuất từ tài liệu, được phân loại thành các trường, các bản ghi, được hệ thống hóa và có quan hệ logic với nhau. Cần có sự phân biệt giữa cơ sở dữ liệu lịch sử với kho lưu trữ số về dữ liệu lịch sử.  Nếu “kho lưu trữ số” (Digital Archive) chỉ đơn giản là kho lưu trữ số, là không gian lưu trữ các tệp tin kỹ thuật số như file sách, ảnh chụp tư liệu,... Máy tính đóng vai trò là nơi lưu trữ tư liệu, tức là phương thức lưu trữ điện tử thay thế cho phương thức lưu trữ truyền thống trên giá, tủ, kho sách. Còn đối với “cơ sở dữ liệu lịch sử” (Historical Database), máy tính không chỉ là nơi lưu trữ những nguồn tư liệu lịch sử mà còn đóng vai trò là công cụ hỗ trợ cho quá trình nghiên cứu, có thể phân tích và có khả năng trả lời các truy vấn phức tạp hơn về vấn đề lịch sử dựa trên cơ sở nguồn tài liệu đã được hệ thống hóa.

Tuy nhiên, nếu các ngành khoa học khác, xây dựng cơ sở dữ liệu phải đáp ứng được tính chính xác tuyệt đối thì đối với khoa học lịch sử, do đặc thù của nguồn tư liệu mà việc xây dựng cơ sở dữ liệu sẽ có những khác biệt căn bản. Điều này xuất phát từ nguyên do tư liệu lịch sử không phải lúc nào cũng đảm bảo được tính trọn vẹn và chính xác, trái lại, đặc điểm căn bản của nguồn tư liệu lịch sử chính là tính không đầy đủ và không chính xác tuyệt đối. Tài liệu bị mai một, hủy hoại bởi nhiều lý do: sự băng hoại của thời gian, sự hủy hoại của chiến tranh, thiên tai, địch họa, các yếu tố thời tiết như hỏa hoạn hay lụt lội, hay mối mọt,… đều là những yếu tố khiến nguồn tài liệu lịch sử không còn nguyên vẹn. Ngoài ra, còn phải kể đến yếu tố chính trị, do sự quy định của thể chế, tư tưởng, có những loại tài liệu bị kiểm duyệt hoặc tiêu hủy. Tất cả những yếu tố tự nhiên hay do con người tạo ra đều góp phần tạo ra “khoảng trống”, “khoảng trắng” về tư liệu lịch sử. Theo đó, quá trình xây dựng cơ sở dữ liệu lịch sử phải được thiết kế để dung nạp “sự im lặng” của quá khứ, tức là chấp nhận các giá trị rỗng mà không làm sụp đổ mô hình thuật toán[6]. Với đặc tính niên đại, tức là phải đặt trong bối cảnh lịch sử nhất định thì nguồn sử liệu đó mới phát huy được tác dụng. Bên cạnh đó, những yếu tố khác như sự thay đổi của địa danh so với hiện đại, sự chênh lệch về ngày tháng do cách ghi chép theo âm lịch đều không thể là những yếu tố có thể khiến máy móc định lượng hoặc quy đổi một cách tuyệt đối. Việc sắp đặt những thông tin này vào các định dạng dữ liệu của máy tính có thể dẫn đến sự sai lệch về sự thật lịch sử. Ngôn ngữ ghi chép của tư liệu lịch sử cũng là một rào cản đối với quá trình xây dựng cơ sở dữ liệu. Trong quá khứ, nước ta đã sử dụng các loại hình chữ Hán, chữ Nôm, chữ quốc ngữ (có sự thay đổi qua các thời kỳ và bối cảnh lịch sử khác nhau), tiếng Pháp. Do đó, việc chuẩn hóa ngôn ngữ là điều khó khăn để giúp cho máy tính có thể bao quát được nguồn tài liệu trong quá trình lọc dữ liệu và phân tích vấn đề. Chính những điều này đã đặt ra những khó khăn đối với các nhà sử học và người xây dựng cơ sở dữ liệu lịch sử hiện nay.

2. Vai trò và ý nghĩa của cơ sở dữ liệu đối với nghiên cứu khoa học lịch sử

Trong kỷ nguyên của khoa học nhân văn số, việc ứng dụng công nghệ thông tin, xây dựng cơ sở dữ liệu lịch sử sẽ tạo ra công cụ hỗ trợ hiện đại, hiệu quả, đồng thời góp phần làm thay đổi phương pháp nghiên cứu lịch sử trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ.

Với việc áp dụng khoa học công nghệ và kỹ thuật hiện đại, những nguồn sử liệu khổng lồ sẽ được hệ thống hóa và bảo tồn với phương pháp tiên tiến. Cơ sở dữ liệu lịch sử khắc phục được những hạn chế lớn của sử liệu là vô cùng đa dạng, phức tạp, không tập trung và dễ bị hủy hoại bởi thời gian và các yếu tố thời tiết, thiên tai, địch họa cũng như sự thiếu cẩn trọng của con người. Cơ sở dữ liệu trở thành kho lưu trữ phi vật chất, về sự khẳng định là tồn tại được trong thời gian bao lâu, có vĩnh viễn hay không còn là vấn đề còn chưa thể khẳng định một cách chắc chắn. Tuy vậy, thực tế đã cho thấy tính ưu việt, sự tiện lợi của việc xây dựng cơ sở dữ liệu lịch sử, lưu trữ số hóa thay thế cho không gian và vật chất lưu trữ theo cách truyền thống. Quan trọng hơn, bằng cách số hóa và tổ chức dữ liệu theo các trường thông tin cụ thể, khoa học, cơ sở dữ liệu đã thay thế sức lao động thủ công của con người, ở đây cụ thể là của các nhà sử học và các thư viện viên trong việc tập hợp hàng triệu triệu nguồn tài liệu từ khắp nơi trên thế giới về một mối, thuận tiện cho việc lưu trữ. Đồng thời, đảm bảo an toàn tuyệt đối khỏi sự tàn phá của tự nhiên, chiến tranh và thiếu ý thức bảo tồn của con người.

Cơ sở dữ liệu lịch sử giúp các nhà nghiên cứu tìm kiếm tài liệu một cách nhanh chóng, rút ngắn được thời gian và công sức để sưu tập tài liệu về chủ đề cần nghiên cứu hơn rất nhiều so với phương pháp truyền thống. Trước đây, để tìm kiếm một thông tin về một vấn đề lịch sử nào đó, nhà nghiên cứu với sự hỗ trợ của thư viện viên hoặc đội ngũ nghiên cứu, có thể phải mất hàng tuần, hàng tháng, hàng năm, thậm chí nhiều năm ròng rã để đọc tài liệu, lật giở từng trang tài liệu trong các Trung tâm Lưu trữ, các thư viện, ghi chép lại những dữ liệu cần tìm. Ngày nay, với thao tác chỉ trong vài giây ngắn ngủi, với sự hỗ trợ của công cụ máy tính, thông qua các câu lệnh truy vấn, các nhà khoa học đã có thể tra cứu và có được thông tin cần tìm, phục vụ nhanh chóng cho công tác nghiên cứu. Tốc độ truy xuất và tìm kiếm tài liệu vì thế đạt được hiệu suất, hiệu quả vượt trội.

Nếu cách khai thác tài liệu truyền thống chỉ cho phép các nhà nghiên cứu tìm được tài liệu, sự kiện một cách riêng lẻ và phải vận dụng tư duy logic, kinh nghiệm nghiên cứu để kết nối các sự kiện với nhau, tìm ra sự liên hệ giữa các sự kiện, các vấn đề thì hiện nay, với sự hỗ trợ của cơ sở dữ liệu đã giúp chuyển hóa những sử liệu thành các tập hợp thông tin được mã hóa, sắp xếp có trật tự, từ đó tạo ra một nền tảng vững chắc để khai thác lâu dài[7]. Cơ sở dữ liệu lịch sử tạo ra sự liên kết dữ liệu. Đây là ý nghĩa quan trọng của việc xây dựng cơ sở dữ liệu so với cách lưu trữ tài liệu thông thường. Kết quả liên kết này được tạo ra nhờ hệ thống dữ liệu được máy tính phân tích, các nhà nghiên cứu sử học có thể đối chiếu chéo các nguồn tài liệu với nhau, từ đó tìm ra những mối liên hệ ẩn giấu mà phương pháp đọc truyền thống của con người không thể nhận ra được[8].

Với việc hệ thống hóa nguồn tư liệu lịch sử, máy móc có thể phân tích, phân loại các dữ kiện, việc xây dựng cơ sở dữ liệu lịch sử góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của “Lịch sử định lượng” (Quantitative History). Truyền thống của sử học phương Đông thường được cho là thiên về "Lịch sử định tính", tức là thiên về mô tả, kể chuyện và bình luận. Sự phát triển của cơ sở dữ liệu đã mở đường cho “Lịch sử định lượng”, tức là dùng toán học, thống kê để nghiên cứu lịch sử. Ví dụ như sự tính toán về nhân khẩu học, thuế khóa, các chỉ số phát triển của các ngành nghề kinh tế,… được nhập vào cơ sở dữ liệu, các nhà sử học có thể vẽ ra biểu đồ biến động kinh tế - xã hội của một thời kỳ, thậm chí của cả một thế kỷ, điều kiện là cung cấp đầy đủ số liệu vào cơ sở dữ liệu. Điều này giúp các kết luận lịch sử không chỉ dựa trên cảm quan hay một vài dòng ghi chép của sử quan, mà được chứng minh bằng các hằng số, biến số và tỷ lệ phần trăm mang tính khoa học, khách quan tuyệt đối[9]. Như vậy, việc xây dựng thành công các cơ sở dữ liệu lịch sử không chỉ thay đổi công cụ tìm kiếm tài liệu, cung cấp cho nhà nghiên cứu sử học những tài liệu cần thiết, mà còn góp phần thay đổi phương pháp nghiên cứu khoa học lịch sử.

Việc hình thành cơ sở dữ liệu lịch sử còn giúp cho người nghiên cứu khoa học lịch sử nói riêng và những người quan tâm đến lịch sử nói chung tăng cường khả năng tiếp cận với tư liệu mà không bị giới hạn bởi không gian, thời gian, cho phép các nhà nghiên cứu thực hiện phương pháp xuyên không gian, thời gian, đồng thời nội dung được nâng cao vượt trội so với phương pháp đọc thủ công từng tài liệu riêng lẻ.

Trong bối cảnh thế giới đang bị số hóa từng phút giây, sử học và nghiên cứu khoa học lịch sử không thể đứng ngoài lề xu hướng chuyển đổi số. Xây dựng cơ sở dữ liệu giúp bảo vệ các nguồn tài liệu lịch sử, các hình ảnh, số liệu của di sản vật thể và những giá trị của di sản phi vật thể trước sự tàn phá của thời gian, của những yếu tố khách quan và cả sự thiếu ý thức bảo vệ của con người. Cơ sở dữ liệu lịch sử cho phép việc nghiên cứu trở nên hiệu quả, tốc độ hơn, đồng thời góp phần đổi mới các phương pháp nghiên cứu lịch sử.

Tuy nhiên, việc xây dựng cơ sở dữ liệu lịch sử là một hành trình phức tạp, đặc biệt ở Việt Nam, sự đa dạng về văn tự, loại hình sử liệu, đặc tính tản mạn,… khiến cho quá trình xây dựng cơ sở dữ liệu lịch sử trở nên đầy thử thách, đòi hỏi sự chung tay của nhà nước, các cơ quan nghiên cứu và những nhà khoa học không chỉ của riêng ngành lịch sử. Mặc dù cơ sở dữ liệu hay trí tuệ nhân tạo ưu việt nhưng thực tế cho thấy chúng không thể thay thế được trí tuệ của nhà sử học. Vốn văn hóa sâu rộng, năng lực tư duy phê phán của người nghiên cứu, khả năng vận dụng tư liệu vào quá trình nghiên cứu mới là những yếu tố quyết định giá trị của các cơ sở dữ liệu lịch sử. Việc xây dựng một cơ sở dữ liệu hiện đại, thông minh, có hàm lượng khoa học cao là việc làm đặc biệt cần thiết và cấp bách trong bối cảnh hiện nay, để công tác nghiên cứu khoa học lịch sử của Việt Nam bắt nhịp được với nghiên cứu lịch sử nói riêng và khoa học xã hội nói chung của thế giới, góp phần quan trọng vào quá trình hội nhập văn hóa, thúc đẩy hội nhập kinh tế của Việt Nam với toàn cầu.


TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. C. J. Date, An Introduction to Database Systems (8th Edition), Pearson, Addison Wesley, 2003.

2. Ramez Elmasri, Shamkant B. Navathe, Fundamentals of Database Systems (7th Edition), Pearson, 2015.

3. Đỗ Trung Tuấn, Cơ sở dữ liệu, Nxb. Giáo Dục, Hà Nội, 1998, Tái bản bởi Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội.

4. Phan Ngọc Liên (Chủ biên), Phương pháp luận Sử học, Nxb. Đại học Sư phạm, Hà Nội, 2007.

5. Marc Bloch, Nghề sử học (Apologie pour l'histoire ou Métier d'historien), Người dịch: Lê Hồng Lý, Nxb. Tri thức, Hà Nội, 2007.

6. Daniel J. Cohen, Roy Rosenzweig, Digital History: A Guide to Gathering, Preserving, and Presenting the Past on the Web, University of Pennsylvania Press, Philadelphia, 2005.

7. Bùi Loan Thùy, Phan Đình Nham, Giáo trình Lưu trữ học đại cương, Nxb. Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh, 2022.

8. Charles Harvey và Jon Press, Databases in Historical Research: Theory, Methods and Applications, Macmillan Press, London.

TS. Lê Thùy Linh
Nguồn bài viết: Trang Thông tin điện tử Viện Sử học
Tin xem nhiều
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1