Khoa học xã hội - nền tảng tri thức cho phát triển quốc gia
Trong tiến trình phát triển đất nước, khoa học xã hội không chỉ góp phần nhận diện và lý giải những biến đổi của xã hội mà còn cung cấp luận cứ khoa học phục vụ hoạch định chính sách, phát triển con người, xây dựng văn hóa và bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội. Trong bối cảnh mới, yêu cầu đặt ra là tiếp tục phát huy vai trò của khoa học xã hội như một nền tảng tri thức phục vụ sự phát triển quốc gia.

Trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư (CM 4.0) đang diễn ra mạnh mẽ trên quy mô toàn cầu, Việt Nam đã xác định: công nghiệp hóa và hiện đại hóa không đơn thuần chỉ là sự phát triển của công nghệ, cơ sở hạ tầng hay năng lực sản xuất, mà còn là quá trình cải biến toàn diện về tư duy, lối sống, cơ cấu xã hội và hệ giá trị. Từ lâu Đảng và Nhà nước ta đã xác định vai trò quan trọng của khoa học xã hội trong sự nghiệp phát triển đất nước. Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, trong nội dung đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội XII và cơ đồ đất nước sau 35 năm đổi mới, đã nhận định: “Khoa học xã hội và nhân văn , khoa học lý luận chính trị góp phần tích cực cung cấp luận cứ cho việc xây dựng đường lối, chính sách; bảo vệ, phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng; xây dựng, phát triển kinh tế, văn h óa , xã hội, con người Việt Nam và bảo vệ Tổ quốc” (Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 2021). Thực tiễn cho thấy, nhiều vấn đề phát triển của Việt Nam như giảm nghèo, bất bình đẳng, biến đổi gia đình, già hóa dân số, di cư, việc làm, an sinh xã hội, bình đẳng giới và phát triển con người đều cần được nhận diện, phân tích trên cơ sở các nghiên cứu khoa học xã hội. Đây cũng là những lĩnh vực mà khoa học xã hội có thể cung cấp bằng chứng trực tiếp cho quá trình xây dựng và điều chỉnh chính sách. Theo Hồ Sĩ Quý (2023), khoa học xã hội còn có vai trò quan trọng trong nhận diện, định hướng các giá trị phát triển văn hóa và xã hội. Ở phạm vi rộng hơn, Báo cáo Khoa học xã hội thế giới năm 2016 (World Social Science Report 2016) cũng nhấn mạnh vai trò của khoa học xã hội trong việc hiểu và giải quyết những biến đổi phức tạp về kinh tế, xã hội, dân số, môi trường và quản trị (ISSC, IDS & UNESCO, 2016).

Quan điểm của Đảng về phát triển khoa học xã hội trong quá trình phát triển đất nước và yêu cầu mới từ Nghị quyết 57-NQ/TW

Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng và phát triển đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn nhất quán xác định khoa học xã hội là một trụ cột quan trọng trong sự nghiệp xây dựng đất nước, phát triển đồng bộ với khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và công nghệ. Ngay từ thời kỳ đầu Đổi mới, Đại hội VI đã nhấn mạnh yêu cầu tăng cường và kết hợp chặt chẽ các ngành khoa học, gắn khoa học với sản xuất và đời sống. Đến Đại hội VII, khi cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đang diễn ra mạnh mẽ trên thế giới, Việt Nam trong quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991) đã định hướng “phát triển đồng bộ khoa học xã hội, khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật đi đôi với phát triển giáo dục và văn hoá, nâng cao dân trí”. Đến Đại hội VIII, khoa học xã hội và nhân văn được giao sứ mệnh cung cấp luận cứ cho hoạch định chính sách, chiến lược và quy hoạch phát triển đất nước. Đảng đã đặt ra mục tiêu, đến năm 2020 khoa học xã hội và nhân văn “có khả năng làm cơ sở cho việc xây dựng hình thái ý thức xã hội mới. Sự phát triển của khoa học xã hội đủ sức cung cấp luận cứ cho việc hoạch định các chính sách, chiến lược và quy hoạch phát triển” với định hướng phát triển “chú trọng đúng mức nghiên cứu cơ bản về khoa học xã hội, khoa học nhân văn và khoa học tự nhiên, làm chỗ dựa lâu bền cho nghiên cứu ứng dụng, triển khai và tiếp nhận các thành tựu mới về khoa học và công nghệ” (Ban chấp hành Trung ương Đảng, 1996). Năm 2001, khi Việt Nam hội nhập sâu rộng hơn với thế giới, khoa học xã hội và nhân văn được định hướng vào việc giải đáp các vấn đề lý luận và thực tiễn, dự báo các xu thế phát triển, cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng con người, phát huy những di sản văn hoá dân tộc, sáng tạo những giá trị văn hóa mới của Việt Nam. Đảng đã định hướng “sắp xếp, đổi mới hệ thống nghiên cứu khoa học, phối hợp chặt chẽ nghiên cứu khoa học tự nhiên, khoa học - công nghệ với khoa học xã hội và nhân văn” (Ban chấp hành Trung ương Đảng, 2001).

Chủ trương phát triển đồng bộ khoa học xã hội với khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và công nghệ tiếp tục được duy trì nhất quán qua các kỳ đại hội Đảng tiếp theo. Và trong Kết luận số 69-KL/TW ngày 11/01/2024 của Bộ Chính trị, khoa học xã hội và nhân văn được nhận định đã đóng góp tích cực cho việc “cung cấp luận cứ trong vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; hoạch định đường lối, chính sách phát triển đất nước và hoàn thiện hệ thống pháp luật” (Bộ Chính trị, 2024a).

Trong bối cảnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang trở thành những động lực quan trọng của phát triển, yêu cầu đối với khoa học xã hội cũng có những thay đổi. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá quan trọng; đồng thời đặt ra yêu cầu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, nâng cao năng lực của các tổ chức nghiên cứu công lập và tăng cường đầu tư cho khoa học và công nghệ (Bộ Chính trị, 2024b). Đối với khoa học xã hội, yêu cầu này không chỉ đặt ra nhiệm vụ nâng cao số lượng và chất lượng các công trình nghiên cứu mà còn đòi hỏi phải tăng khả năng chuyển hóa kết quả nghiên cứu thành luận cứ chính sách, dữ liệu và tri thức phục vụ quản trị quốc gia.

Phát huy vai trò của khoa học xã hội trong bối cảnh mới

Có thể nói, khoa học xã hội đang đối diện với những cơ hội và thách thức mới từ cuộc cách mạng khoa học công nghệ với sự xuất hiện và phổ biến của không gian mạng, công nghệ tự động hóa, trí tuệ nhân tạo... Về cơ hội, d ữ liệu công nghệ lớn và sự phát triển của trí tuệ nhân tạo có thể mang lại công cụ hữu hiệu cho các nhà khoa học xã hội cả về dữ liệu lẫn phương pháp. Tuy nhiên, s ự phát triển của khoa học và công nghệ chắc chắn sẽ tác động đáng kể đến cách xã hội vận động, từ đó đặt ra những thách thức đối với khoa học xã hội trong bối cảnh mới. Quá trình công nghiệp hóa , chuyển đổi số thường đi kèm với các hệ quả như mất cân bằng vùng miền, phân hóa giàu nghèo, bất bình đẳng xã hội, bất bình đẳng giới, ô nhiễm môi trường, khủng hoảng sức khỏe tâm thần, biến đổi nhân khẩu học , khủng hoảng kinh tế, cạnh tranh chiến lược toàn cầu, gia tăng dịch bệnh, thiên tai … Các nghiên cứu khoa học xã hội c ần c ó khả năng đánh giá thực trạng, dự báo các xu thế này và đề xuất chính sách phù hợp cũng như các giải pháp ứng phó kịp thời thông qua các báo cáo đánh giá, báo cáo tư vấn, luận cứ chính sách...

Trong bối cảnh mới , yêu cầu đối với chất lượng nghiên cứu, tư vấn chính sách, tiến độ và tính kịp thời của các sản phẩm khoa học ngày càng cao, đặt ra những đòi hỏi trực tiếp hơn đối với khoa học xã hội . Điều đó đòi hỏi đội ngũ cán bộ khoa học xã hội phải nhanh chóng thích ứng với các yêu cầu mới , không chỉ giỏi về chuyên môn mà còn phải có tư duy chiến lược, tầm nhìn chính sách, bản lĩnh và khả năng phản ứng nhanh trước những vấn đề mới phát sinh từ thực tiễn trong nước và quốc tế. Đây là thách thức không nhỏ, đòi hỏi các tổ chức nghiên cứu phải tiếp tục đổi mới mạnh mẽ về tổ chức, cơ chế hoạt động, phương thức nghiên cứu và đặc biệt là nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ khoa học.

Trong bối cảnh đó, khoa học xã hội cần được phát huy mạnh mẽ hơn theo các định hướng sau. Thứ nhất, nâng cao nhận thức và khẳng định vị thế chiến lược của khoa học xã hội. Cần thống nhất nhận thức rằng khoa học xã hội không phải là lĩnh vực phụ trợ, mà là một nguồn lực chiến lược của quốc gia. Nếu khoa học tự nhiên và công nghệ tạo ra công cụ phát triển, thì khoa học xã hội định hướng con đường phát triển, hoàn thiện thể chế, xây dựng con người và bảo đảm tiến bộ xã hội. Cần bảo đảm sự câ n bằng nghiên cứu khoa học tự nhiên và nghiên cứu khoa học xã hội, đồng thời thúc đẩy kết hợp liên ngành khoa học tự nhiên và khoa học xã hội để bảo đảm các công nghệ phát triển gắn với bảo vệ các giá trị đạo đức cốt lõi của nhân loại (Nguyễn Mạnh Hùng, 2025) .

Thứ hai, cần đẩy mạnh truyền thông khoa học xã hội đến công chúng . Nhiều giá trị của khoa học xã hội chưa được nhận diện đầy đủ do truyền thông còn hạn chế. Vì vậy, cần phổ biến kết quả nghiên cứu bằng nhiều hình thức , tăng hiện diện trên báo chí, nền tảng số, đồng thời đẩy mạnh giáo dục cộng đồng để xã hội thấy rõ đóng góp thực tiễn của khoa học xã hội.

Thứ ba, cần đổi mới cơ chế tài chính và đầu tư cho khoa học xã hội. Tăng đầu tư ngân sách cho nghiên cứu khoa học xã hội theo hướng trọng tâm, trọng điểm; ưu tiên các chương trình nghiên cứu chiến lược quốc gia, các nhóm nghiên cứu mạnh, cơ sở dữ liệu lớn và điều tra xã hội học quy mô quốc gia. Có cơ chế phù hợp để có thể mở rộng huy động nguồn lực quốc tế. Đồng thời, nâng cao năng lực của đội ngũ nghiên cứu về phương pháp định lượng, phân tích dữ liệu và dự báo.

Thứ tư, cần đầu tư xây dựng hệ sinh thái dữ liệu xã hội quốc gia. K hoa học xã hội sẽ phát huy được vai trò khi dựa trên dữ liệu mạnh. Vì vậy, cần xây dựng hệ thống dữ liệu quốc gia về dân số, gia đình, lao động, bất bình đẳng, văn hóa, di cư, mức sống, hành vi xã hội… Bên cạnh đó, cần tăng cường kết nối giữa các cơ quan nghiên cứu, cơ quan quản lý và các tổ chức xã hội, tạo nền tảng cho nghiên cứu dự báo và chính sách dựa trên bằng chứng.

Tài liệu tham khảo

1. Ban chấp hành Trung ương Đảng . ( 1996 ). Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng .

2. Ban chấp hành Trung ương Đảng . ( 2001 ). Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng .

3. Bộ Chính trị . ( 2024a ). Kết luận số 69-KL/TW ngày 11/1/2024 của Bộ Chính trị tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW, ngày 1/11/2012 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.

4. Bộ Chính trị . ( 2024b ). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia .

5. Hồ Sĩ Quý . ( 2023 ). Khoa học xã hội với vai trò định hướng giá trị phát triển văn hóa . Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam , ( 10 ) , 16-24.

6. ISSC, IDS and UNESCO . ( 2016 ). World Social Science Report 2016, Challenging Inequalities: Pathways to a Just World . UNESCO Publishing.

7. Nguyễn Mạnh Hùng . (Năm 2025 , ngày 05 tháng 05). 10 đổi mới quan trọng của Luật Khoa học Công nghệ (sửa đổi ). Báo Vietnamnet. https://vietnamnet.vn/10-doi-moi-quan-trong-cua-luat-khoa-hoc-cong-nghe-sua-doi-2397838.html

Nguồn bài viết: Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới
Ý kiến bạn đọc
Họ tên no image
Nội dung no image
Mã kiểm tra no image
Tin xem nhiều
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1