Xây dựng bộ nhận diện thúc đẩy phát triển bền vững nhãn hiệu sản phẩm địa phương trong bối cảnh chuyển đổi số: kết quả từ nghiên cứu và triển khai đối với sản phẩm làng nghề “Bánh đa Kinh Giao” xã Tân Tiến, thành phố Hải Phòng
Tóm tắt
Bài
viết trình bày nghiên cứu và xây dựng bộ nhận diện gắn với quản trị nhãn hiệu
tập thể và phát triển thị trường cho sản phẩm Bánh đa Kinh Giao, là sản phẩm
làng nghề Kinh Giao thuộc xã Tân Tiến, thành phố Hải Phòng. Dữ liệu khảo sát
năm 2025 đối với 30 hộ sản xuất, 20 tác nhân thương mại, 50 người tiêu dùng và
kết quả triển khai mô hình thực tiễn tại 05 hộ. Sử dụng phương pháp nghiên cứu
trường hợp, phân tích tài liệu và thống kê mô tả, kết quả cho thấy chỉ 3/30 hộ
hiểu về nhãn hiệu tập thể, trong khi 22/30 hộ sẵn sàng tham gia tập huấn. Nhiệm
vụ thực hiện xây dựng tem nhãn, bao bì, mã QR, quy trình sản xuất và kiểm soát chất
lượng, công cụ quảng bá và cấp quyền sử dụng nhãn hiệu tập thể cho 05 hộ. Sản
phẩm bước đầu tiếp cận các chuỗi siệu thị tại Hải Phòng và Hà Nội và ghi nhận
đối với một hộ tiêu biếu nhất có lượng đặt hàng tăng nhanh 200 kg mỗi tuần sau
truyền thông số. Bài viết đề xuất một hệ thống nhận diện tích hợp thị giác,
thông tin số và quản trị tập thể, gắn với duy trì dữ liệu, chia sẻ lợi ích và
cải thiện bao bì theo giai đoạn phát triển để hướng tới phát triển bền vững.
Từ
khóa: bộ nhận diện; nhãn hiệu tập thể; chuyển đổi số; sản phẩm địa phương; phát
triển bền vững; Bánh đa Kinh Giao.
1. Đặt vấn đề
Trong
bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương theo
hướng phát triển bền vững, Việt Nam đang thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động sở hữu trí
tuệ nhằm phát huy năng lực sáng tạo và phát triển kinh tế bền vững. Việc xây
dựng, quản lý và phát triển nhãn hiệu nói chung, nhãn hiệu tập thể (NHTT) nói
riêng cho các sản phẩm đặc sản vùng miền trở thành công cụ quan trọng góp phần
nâng cao giá trị gia tăng, khẳng định uy tín sản phẩm và thúc đẩy sinh kế cộng
đồng. NHTT không chỉ giúp bảo tồn tri thức truyền thống mà còn hỗ trợ doanh
nghiệp nhỏ, hợp tác xã và hộ sản xuất tiếp cận thị trường rộng lớn hơn, hướng
tới phát triển kinh tế nông thôn bền vững (Cục sở hữu trí tuệ, 2022; Viện Địa
lý nhân văn và Phát triển bền vững, 2026).
Bánh đa
sợi Kinh Giao là sản phẩm đặc trưng của làng nghề Kinh Giao thuộc xã Tân Tiến,
huyện An Dương (cũ) nay là phường An Dương, thành phố Hải Phòng, đã được cấp
văn bằng bảo hộ NHTT số 250059 ngày 27/8/2015, khẳng định giá trị sản phẩm
truyền thống của địa phương. Tuy nhiên, sau chục năm được bảo hộ, công tác quản
lý và khai thác nhãn hiệu vẫn gặp nhiều khó khăn: năng lực quản lý hạn chế, Quy
chế quản lý NHTT thể bị thất lạc, chủ sở hữu thiếu kinh nghiệm thực thi quy chế
và thiếu nhân lực có trình độ, các hộ sản xuất kinh doanh không biết về NHTT
của làng nghề và chưa nhận thức được vai trò của NHTT và lợi ích đem lại khi
sản phẩm được gán NHTT. Vì vậy, việc xây dựng được một mô hình tổ chức để quản
lý và phát triển sản phẩm Bánh đa Kinh Giao còn rất hạn chế. Chính vì thiếu các
công cụ quản lý, do đó cũng chưa triển khai việc cấp quyền sử dụng NHTT cho các
hộ sản xuất kinh doanh. NHTT “Bánh đa Kinh Giao” chưa được gắn trên sản phẩm
bánh đa Kinh Giao trong quá trình thương mại hóa trên thị trường. Sản phẩm chưa
có các tiêu chuẩn chất lượng, đặc biệt là các tiêu chuẩn cơ sở cho sản phẩm,
chưa có bao bì, nhãn mác và tem truy xuất nguồn gốc,... điều này ảnh hưởng đến
khả năng tiếp cận của sản phẩm đến các thị trường cao cấp (có sức mua lớn, ổn
định và giá trị gia tăng cao) gây hạn chế trong việc nâng cao giá trị sản phẩm,
mở rộng thị trường và tăng hiệu quả kinh tế. Chính vì vậy, việc triển khai
nhiệm vụ “Hỗ trợ quản lý, khai thác và phát triển nhãn hiệu tập thể “Bánh đa
Kinh Giao” cho sản phẩm bánh đa Kinh Giao, huyện An Dương thành phố Hải Phòng”
của Viện Địa lý nhân văn và Phát triển bền vững giai đoạn 2025 – 2026 có ý
nghĩa thực tiễn cao đối với việc thúc đẩy phát triển thị trường cho sản phẩm
“Bánh đa Kinh Giao”.
Danh
tiếng làng nghề không tự động chuyển thành khả năng nhận diện trên các thị
trường mới. Khi hàng hóa được bán lẻ, rời rạc, tên sản phẩm riêng của địa
phương thường được truyền qua quan hệ quen biết; người mua khó xác định cơ sở
chịu trách nhiệm và nắm bắt chất lượng. Trong bối cảnh chuyển đổi số, sản phẩm
còn được tiếp cận qua hình ảnh, thông tin nguồn gốc và người bán trung gian
trước khi khách hàng trải nghiệm trực tiếp. Bộ nhận diện nhãn hiệu giải quyết
đồng thời câu hỏi nhận biết, nguồn gốc và trách nhiệm, thay vì chỉ tạo một diện
mạo mới. Vì vậy, bài viết làm rõ khoảng trống nhận diện ban đầu của sản phẩm
Bánh đa Kinh Giao, thực hiện việc thiết kế bộ nhận diện được số hóa, triển khai
các công cụ kết nối thị trường; đề xuất điều kiện duy trì nhãn hiệu theo hướng
bền vững trong bối cảnh thúc đẩy chuyển đổi số.
2. Cơ sở phân tích và phương pháp
Bộ nhận
diện được tiếp cận như hệ thống ba lớp: dấu hiệu thị giác, thông tin sản phẩm
và cơ chế quản trị. Lớp thị giác giúp khách hàng nhận ra tên chung và phân biệt
cơ sở. Lớp thông tin cung cấp nguồn gốc, hướng dẫn và căn cứ kiểm tra. Lớp quản
trị xác định quyền sử dụng, trách nhiệm cập nhật và cách xử lý sai lệch. Khung
này được thực hiện trong bài viết trên cơ sở các nội dung trong quá trình thực
hiện nhiệm vụ. Về khía cạnh phát triển bền vững được xem xét qua khả năng duy
trì sinh kế, mở rộng sự tham gia hợp tác trong xản xuất kinh doanh, bảo tồn tri
thức bản địa, cải thiện điều kiện môi trường và vận hành hiệu quả nhãn hiệu sau
hỗ trợ. Mặc dù, tăng giá bán chưa đủ chứng minh lợi ích ròng từ sản phẩm; có mã
QR chưa đủ chứng minh truy xuất hoàn chỉnh; có văn bằng nhãn hiệu được bảo hộ
không đồng nghĩa mọi sản phẩm đã được chứng nhận an toàn thực phẩm. Do đó,
những phân biệt này chỉ làm rõ định hướng toàn bộ cách diễn giải kết quả nhiệm
vụ đã thực hiện.
Bài
viết này trình bày một phần kết quả từ việc thực hiện nghiên cứu, khảo sát tổng
thể 30 hộ hiện đang sản xuất kinh doanh Bánh đa Kinh Giao ở làng nghề Kinh
Giao, 20 tác nhân thương mại và 50 người tiêu dùng tại Hải Phòng và Hà Nội năm
2025, cùng với kết quả tổng hợp được triển khai thực nghiệm 05 mô hình (05 hộ)
và hoạt động phân phối thử nghiệm trên các siêu thị ở Hải Phòng và Hà Nội trong
năm 2026 do TS. Lê Thi Thanh Bình, Viện Địa lý nhân văn và Phát triển bền vững
là chủ nhiệm nhiệm vụ.
Mẫu
điều tra được lựa chọn ngẫu nhiên đơn giản, trên cơ sở danh sách địa phương và
các hộ sản xuất kinh doanh cung cấp và việc khảo sát có chủ đích. Phương pháp
phân tích chủ yếu là thống kê mô tả, đối chiếu đầu ra với vấn đề khảo sát và
phân tích cơ chế.
3. Kết quả nghiên cứu
3.1. Nền tảng sản phẩm và khoảng trống nhận diện đối với sản
phẩm Bánh đa Kinh Giao
Kết quả
nghiên cứu cho thấy mặc dù một số hộ đã mạnh dạn đầu tư công nghệ mới, nhưng
phương thức phơi nắng tự nhiên vẫn là chủ đạo, giúp giữ được hương vị truyền
thống, đảm bảo độ dẻo mềm và màu sắc tự nhiên của sợi bánh. Nguyên liệu chính
làm bánh đa sợi Kinh Giao là gạo Q4 và Q5 được mua chủ yếu ở 2 tỉnh Hải Dương
và Thái Bình (theo tên cũ), sợi bánh được làm hoàn toàn tự nhiên 100% từ gạo,
không sử dụng chất phụ gia, không có chất bảo quản. Bánh đa Kinh Giao hiện có 4
dòng sản phẩm: bánh đa sợi trắng (từ bột gạo và nước) và bánh đa sợi đỏ (bột
gạo được pha thêm tỷ lệ nhỏ nước đường kính được thắng đỏ lên màu tự nhiên); 2
loại sợi bánh to và sợi bánh nhỏ (Kết quả khảo sát năm 2025). Sự cạnh tranh
trong thời gian qua chủ yếu là cạnh tranh về giá, thay vì cạnh tranh về giá trị
gia tăng, chất lượng cảm nhận, hay thương hiệu. Việc sản phẩm chưa có nhãn hiệu
thương mại và thiếu bao bì tiêu chuẩn dẫn đến tình trạng “bán giá – không bán thương
hiệu”, làm giảm khả năng định giá cao hơn so với sản phẩm thay thế.
Hiểu
biết về nhãn hiệu tập thể như tạo dựng uy tín, chống hàng nhái, tiết kiệm chi
phí quảng bá, tăng nhận diện, tạo lợi thế cạnh tranh chỉ có 3/30 hộ, và chỉ có
1 hộ đạt được chứng nhận OCOP 3 sao. Còn lại các hộ chưa sử dụng và cũng chưa
biết được sản phẩm mình đang sản xuất đã được cấp văn bằng bảo hộ. Điều này cho
thấy NHTT “Bánh đa Kinh Giao” chưa được nhiều người biết đến và việc cấp quyền
cũng chưa được triển khai. Tuy nhiên, khi được hỏi về mong muốn sử dụng NHTT
“bánh đa Kinh Giao” trong tương lai thì có tới 16/30 hộ mong muốn sử dụng. Như
vậy, nhu cầu thực tế có thể bị cản trở bởi các yếu tố như thủ tục, chi phí,
thiếu thông tin và nhận thức về lợi ích kinh tế.
NHTT
“Bánh đa Kinh Giao” được 01 hộ trong làng đưa vào quảng bá trong quá trình tiêu
thụ sản phẩm khi đạt chứng nhận OCOP 3 sao, tuy nhiên chưa có bất kỳ cơ chế
chính thức nào để kiểm tra, giám sát chất lượng sản phẩm được mang danh nhãn
hiệu. Còn lại 100% hộ chưa xây dựng tiêu chuẩn cơ sở cho sản phẩm và cũng chưa
có tài liệu nào quy định rõ về tiêu chuẩn kỹ thuật hoặc tiêu chí đánh giá chất
lượng đối với sản phẩm bánh đa Kinh Giao. Điều này khiến cho việc kiểm tra chất
lượng trở nên cảm tính, thiếu cơ sở chuyên môn và không có sự đồng nhất. Hợp
tác xã Sản xuất Kinh doanh Dịch vụ Nông nghiệp Tân Tiến là chủ sở hữu của NHTT
nhưng cũng chỉ có nhiệm vụ bảo quản và lưu trữ Giấy Chứng nhận, chưa có bộ phận
thường trực kiểm tra, giám sát chất lượng. Hơn nữa bộ Quy chế quản lý, kiểm
soát NHTT cũng đã bị thất lạc. Vì vậy, chưa kiểm soát được sản phẩm bánh đa đó
có đúng tiêu chuẩn hay không, và có đảm bảo uy tín của thương hiệu tập thể hay
không.
Trước
yêu cầu của thị trường và quản lý nhà nước ngày càng cao về nguồn gốc xuất xứ,
an toàn thực phẩm, chứng nhận,… các hộ sản xuất mong muốn được sử dụng NHTT
“Bánh đa Kinh Giao” trên bao bì sản phẩm của mình, với tỷ lệ đồng ý là 54,5%,
có 22/30 hộ sẵn sàng tham gia tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng sản xuất
kinh doanh, sử dụng mã QR truy xuất thông tin số, tiếp cận được thị trường cao
cấp,… cho thấy nhu cầu học hỏi lớn và mong muốn thúc đẩy thương mại hóa sản
phẩm Bánh đa Kinh Giao.
3.2. Cấu trúc bộ nhận diện và quyền sử dụng
Trong
quá trình triển khai mô hình, 05 hộ được lựa chọn tham gia đều đủ điều kiện
được hỗ trợ thiết kế và sử dụng bộ nhận diện cho sản phẩm bánh đa do các hộ sản
xuất theo quy trình đã được chuẩn hóa và được cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng
NHTT “Bánh đa Kinh Giao”. Khi được cấp quyền, các hộ được quyền sử dụng logo
NHTT “Bánh đa Kinh Giao” dán trên bao bì sản phẩm của mình.
Nhiệm
vụ thực hiện xây dựng, đề xuất phương án và thiết kế các công cụ nhận diện số
như mã số, mã vạch, QR truy cập thông tin sản phẩm và quảng bá cho sản phẩm
mang nhãn hiệu tập thể “Bánh đa Kinh Giao” giúp tăng cường các dấu hiệu nhận
diện sản phẩm trên thị trường, tạo ấn tượng mạnh, làm tăng giá trị và danh
tiếng của sản phẩm đối với người tiêu dùng. Các công cụ nhận diện và quảng bá
sản phẩm, bao gồm: tờ rơi, băng zôn giới thiệu đặt tại các cửa hàng, tem dán
nhãn, túi nilon bao bì sản phẩm, thùng carton đựng sản phẩm bánh đa, Brochure
quảng bá giới thiệu sản phẩm, các phóng sự trên truyền hình quảng bá về sản
phẩm mang NHTT “Bánh đa Kinh Giao”,…
Hình ảnh trao bộ nhận diện NHTT “Bánh đa Kinh Giao” cho 05 hộ thực nghiệm mô hình
3.3. Kết nối số và truyền thông
Nhiệm
vụ thực hiện 02 Phóng sự quảng bá sản phẩm. Phóng sự 1 được phát sóng vào 10
phút giờ vàng trên kênh truyền hình Hải Phòng, ngày 13/12/2025, dài 5 phút.
Thông tin phóng sự tập trung nhấn mạnh vào đặc điểm riêng về nghề truyền thống
làm bánh đa của làng Kinh Giao và danh tiếng được biết đến nhiều hơn khi sản
phẩm được cấp văn bằng bảo hộ NHTT. Phóng sự cho thấy nghề sản xuất bánh đa
Kinh Giao dù vất vả nhưng được người thợ làm bánh lành nghề vẫn giữ được lửa
truyền thống của làng nghề đến ngày nay và còn tiếp tục lan tỏa danh tiếng hơn
nữa.
Phóng
sự thứ hai phát sóng trên chương trình thời sự của đài truyền hình Hà Nội vào
lúc 15h05 ngày 28/01/2026, thông tin tập trung vào việc quảng bá cho sản phẩm ở
thị trường ở Hà Nội khi bánh đa Kinh Giao đã có bộ nhận diện bao bì, tem nhãn,
mã số, mã vạch, mã QR NHTT “Bánh đa Kinh Giao” và hiện đang có mặt trên một số
kệ hàng của chuỗi siêu thị “Đồng Xanh FOOD MART” ở Hà Nội và chuỗi siêu thị
“Khỏe” ở Hải Phòng, nhằm tiếp tục khẳng định giá trị của bánh đa Kinh Giao đến
với người tiêu dùng.
Việc
gán mã số, mã vạch, mã QR nhận diện nguồn gốc sản phẩm cho NHTT “Bánh đa Kinh
Giao” không chỉ là một công cụ kỹ thuật, mà còn là vấn đề trọng tâm của cơ chế
quản lý chất lượng và xây dựng danh tiếng tập thể cho làng nghề Kinh Giao. Khi
hệ thống nhận diện được thiết kế gắn trên bao bì, mỗi sản phẩm mang nhãn hiệu
tập thể đều có “hồ sơ nhận diện” riêng, phản ánh các thông tin căn bản về hộ
sản xuất, nguyên liệu chính, quy trình sản xuất, đóng gói cũng như các kết quả
kiểm tra, kiểm nghiệm về an toàn vệ sinh thực phẩm. Hệ thống này tạo ra khả
năng nhìn nhận xuyên suốt về chuỗi giá trị cho cả hợp tác xã và người tiêu
dùng, giúp chuyển một sản phẩm truyền thống vốn dựa nhiều vào niềm tin truyền
miệng sang trạng thái có thể kiểm chứng và so sánh.
Kết quả
đạt được gồm 05 hộ sản xuất sử dụng nhãn hiệu tập thể “Bánh đa Kinh Giao” được
bàn giao toàn bộ tem nhãn, bao bì, và tài khoản mã số mã vạch, QR. Các cơ sở
sản xuất, kinh doanh bánh đa Kinh Giao được hướng dẫn ghi chép và cập nhật
thông tin ngày sản xuất, đóng gói, cơ sở sản xuất,.. vào phần mềm hiển thị
thông tin sản phẩm và trực tiếp in mã số, mã vạch, tem QR dán lên sản phẩm hoặc
bao bì sản phẩm. Dựa trên hệ thống truy xuất thông tin bằng mã số, mã vạch, mã
QR, các tổ chức, cá nhân sản xuất và kinh doanh cung cấp thông tin có liên quan
(thông tin về sản phẩm, thông tin về cơ sở sản xuất, cơ quan quản lý, các giấy
chứng nhận, tiêu chuẩn chất lượng,...) được minh bạch để khách hàng và người
tiêu dùng có thể kiểm tra và tạo lòng tin.



Hình ảnh phát sóng quảng bá cho NHTT “Bánh đa Kinh Giao” trong 10 phút vàng trên Đài TH Hải Phòng
3.4. Kết quả kết nối thị trường
Các sản
phẩm khi đưa vào chuỗi siêu thị, nhà hàng,…đều phải đáp ứng đầy đủ các yêu cầu
về tem nhãn, bao bì, mã QR thông tin. Kết quả thử nghiệm sau khi sản phẩm Bánh
đa Kinh Giao đã có bộ công cụ nhận diện và quảng bá trên phóng sự truyền hình,
các cơ sở sản xuất đã tiêu thụ số bánh đa một cách nhanh chóng, 01 hộ có sản
lượng sản xuất lớn đã có nhiều khách hàng biết đến để liên hệ mua sản phẩm ổn
định, do đó, mỗi tuần số lượng bánh đa đã bán gia tăng khoảng 2 tạ và nhu cầu
khách hàng liên hệ đặt hàng tiếp tục gia tăng nhiều hơn, vượt năng lực sản xuất
của hộ.
Sản
phẩm sau khi có bộ nhận diện đã tăng được giá bán cao lên từ 50 - 100% so với
giá bán tại địa phương, nhưng vẫn có giá cạnh tranh tốt hơn so với các loại
bánh đa cùng loại khác khác trên thị trường. Hiện giá bán với bánh đa sợi khô
đang được để trên kệ các siêu thị với giá 68.000/1kg thấp hơn so với những sản
phẩm khác cùng loại (70.000 – 75.000/1kg), nhưng cao hơn giá các hộ đang bán
không có bao bì, tem nhãn, mã QR,… giao động từ 28.000 – 35.000/1 kg. Với bánh
đa sợi ướt đang để trên kệ của siêu thị là 42.000/1kg (giá bán tại địa phương
18.000/1kg).
4. Thảo luận và giải pháp
Nhận diện như hạ tầng thông tin và trách nhiệm
Kết quả
cho thấy, việc can thiệp giải quyết bộ nhận diện cho sản phẩm Bánh đa Kinh Giao
đã được Cục sở hữu trí tuệ cấp chứng nhận bản hộ cách đây chục năm không chỉ
thiếu hụt về hình ảnh mà còn khoảng trống về thông tin, quyền sử dụng và tổ
chức quản lý phát triển một sản phẩm trí tuệ tập thể. Trước triển khai, danh
tiếng phần lớn được truyền qua thương lái và khách quen. Khi có bao bì, tên cơ
sở và điểm truy cập dữ liệu, quan hệ giữa sản phẩm và người sản xuất có thể
được kiểm tra rõ hơn. Đóng góp này bước đầu là cơ chế củng cố thương hiệu và
xây dựng niềm tin cho khách hàng, tuy nhiên chưa khẳng định một bằng chứng định
lượng về mức tăng niềm tin của toàn thị trường trong dài hạn.
Điều kiện phát triển bền vững
Bộ nhận
diện không khẳng định thay thế hoàn toàn chất lượng sản phẩm. Nếu chất lượng
không đồng đều, công cụ quảng bá có thể chỉ làm kỳ vọng tăng nhanh hơn khả năng
đáp ứng nhu cầu thị trường, nếu hộ sản xuất có sản lượng nhỏ và không tiếp cận
được quyền sử dụng NHTT, hoặc chi phí vật tư quá cao, do đó, hình ảnh chung có
thể chỉ phục vụ một nhóm, hoặc nếu QR không cập nhật, công nghệ tạo ra vẻ ngoài
minh bạch nhưng không giúp được quá trình kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ về chất
lượng, về hàng giả, hàng nhái. Vì vậy, để phát triển bền vững cho sản phẩm cần
duy trì sự liên kết chặt chẽ về kỹ thuật, tổ chức và lợi ích mang lại.
Việc sử
dụng túi nhựa, vật liệu phủ và carton,… cần được xem xét về việc kiểm soát
trong quá trình sử dụng bảo quản bánh đa sợi khô và bánh đa sợi ướt và cần có
chứng minh không có tác động xấu tới môi trường. Đồng thời cần xem xét tới
lượng vật liệu thải ra, khả năng thu gom, tái sử dụng và tổn thất thực phẩm.
Tổ chức duy trì và mở rộng
Quy mô
05 hộ phù hợp thử nghiệm nhưng chưa đồng nghĩa đã bao phủ toàn bộ các hộ làng
nghề. Do đó, cần quy trình tiếp nhận mở rộng thêm thành viên tham gia, kiểm tra
điều kiện, hỗ trợ hộ chưa sẵn sàng và minh bạch phí sử dụng. Không nên hạ yêu
cầu chất lượng để tăng số hộ; thay vào đó cần giúp hộ có khả năng tuân thủ việc
quản lý, kiểm soát khi được quyền sử dụng NHTT. Sự tham gia rộng hơn của các hộ
trong việc phát triển thương hiệu sản phẩm Bánh đa Kinh Giao chỉ có ý nghĩa khi
quyền, trách nhiệm và lợi ích được xác định rõ.
Hợp tác
xã sản xuất, kinh doanh Dịch vụ Nông nghiệp Tân Tiến cần tăng cường các đợt
kiểm tra thường xuyên hoặc đột xuất đối với quá trình sản xuất, đóng gói bánh
đa đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm và việc sử dụng NHTT, nhằm đảm bảo chất
lượng cũng như giữ gìn thương hiệu cho sản phẩm bánh đa Kinh Giao ngày càng
phát triển danh tiếng tốt hơn.
Về phát
triển kênh phân phối, ngoài việc duy trì kênh truyền thống (bán tại địa phương,
giao cho thương lái,…), cần ưu tiên mở rộng: (i) kênh đặc sản – du lịch (cửa hàng
đặc sản Hải Phòng, điểm dừng chân du lịch, các tour ẩm thực thực tế trải nghiệm
làng nghề Kinh Giao); (ii) kênh hiện đại (siêu thị, cửa hàng nông sản sạch, cửa
hàng tiện lợi tại Hải Phòng và đô thị lớn khác,…); và (iii) kênh trực tuyến
(sàn thương mại điện tử, website/fanpage chính thức của hợp tác xã, hợp tác với
các cửa hàng đặc sản trực tuyến,…). Mỗi kênh cần có chính sách giá, chiết khấu,
hỗ trợ trưng bày và truyền thông phù hợp, trong đó hợp tác xã đóng vai trò
trung tâm đàm phán và quản lý hình ảnh nhãn hiệu.
Về
truyền thông – marketing, hợp tác xã và các hộ gia đình cần tiếp tục xây dựng
nội dung xoay quanh: nguồn gốc làng nghề, quy trình sản xuất truyền thống,an
toàn, câu chuyện của thợ làm bánh, các món ăn đặc sản từ bánh đa sợi Kinh Giao.
Các kênh truyền thông ưu tiên bao gồm: mạng xã hội (Facebook, Zalo, TikTok,
YouTube), bài viết trên các trang du lịch ẩm thực, hợp tác với food blogger, tổ
chức chương trình “trải nghiệm một ngày làm bánh đa Kinh Giao” cho khách du
lịch, học sinh, sinh viên. Tiếp tục gắn trên mã QR trên bao bì với nội dung số
(video, bài viết) giúp chuyển truy xuất nguồn gốc từ một công cụ kỹ thuật sang
trải nghiệm tương tác, tạo dấu ấn mạnh mẽ hơn cho thương hiệu trong dài hạn.
Hợp tác
xã cần duy trì và nâng cao quy trình kỹ thuật, đóng gói đã chuẩn hóa cho từng
công đoạn (ngâm, xay, tráng, phơi/sấy, thái sợi, đóng gói, bảo quản) và tổ chức
các buổi tập huấn bắt buộc đối với các hộ sản xuất. Việc ghi nhật ký sản phẩm,
sử dụng biểu mẫu thống nhất và kiểm tra chéo giữa các hộ sản xuất, kinh doanh
trở thành một quy định sản xuất chung thường xuyên, nhằm hạn chế tình trạng làm
việc tắt quy trình trong các thời điểm sản xuất cao điểm.
Hợp tác
xã là chủ sở hữu của NHTT do đó để quản lý và phát triển sản phẩm theo hướng
bền vững trên nền tảng số cần tiếp tục: Cần nhắc về việc hỗ trợ đầu tư hoặc huy
động các dự án hỗ trợ xây dựng đóng gói tập trung nhằm kiểm tra chặt chẽ chất
lượng, phân loại bánh, kiểm soát độ ẩm, đóng gói và gắn tem nhãn tập thể. Việc
tập trung hóa khâu này giúp đảm bảo mọi sản phẩm mang nhãn hiệu tập thể đều đạt
ngưỡng chất lượng cho phép, đồng thời tạo điều kiện kiểm soát số lượng sản phẩm
đến các kênh tiêu thụ tiềm năng do hợp tác xã kết nối và xây dựng chung thị
trường cho các hộ sản xuất, kinh doanh của làng nghề; Nên sớm xây dựng cơ sở dữ
liệu số cho quản lý chung để tiếp nhận thường xuyên các phản hồi về các hạng
mục thông tin từ thị trường và có thể truy cập ngược tới các hộ về công đoạn,
lô hàng cụ thể. Đây vừa là công cụ quản lý nội bộ, vừa là “cam kết minh bạch”
với người dùng và đối tác phân phối, đồng thời cần thiết lập các gói sản phẩm,
xây dựng giá dành riêng cho từng kênh: quán ăn, cửa hàng đặc sản, siêu thị,
kênh trực tuyến; Chủ động kết nối ký kết hợp đồng nguyên tắc với một số kênh
phân phối lớn/đại lý chiến lược, đưa vào tác nhân quan trọng của chuỗi, yêu cầu
họ xây dựng và đóng góp bộ nhận diện, xây dựng quy định về bảo quản và cam kết
không trà trộn hàng bên ngoài; Tiếp tục hoàn thiện, nâng cao quy trình quản lý
và sử dụng NHTT, minh bạch tiêu chí kết nối đối tác phân phối, hoặc loại khỏi
hệ thống, đảm bảo cơ chế chia sẻ lợi ích từ phát tiển NHTT và các hoạt động xúc
tiến; Thành lập bộ phận kiểm soát nội bộ và tiếp thị, xúc tiến thương mại, có
phân công nhân sự chuyên nghiệp, xây dựng kế hoạch thực hiện ngân sách hoạt
động hàng năm.
5. Kết luận
Xây
dựng bộ nhận diện cho sản phẩm “Bánh đa Kinh Giao” có thể hỗ trợ nâng cấp NHTT
cho một sản vật trí tuệ của địa phương khi được tích hợp với quyền sử dụng, quy
trình sản xuất, kiểm soát thông tin và kết nối thị trường. Kết quả mô hình thực
nghiệm đối với 05 hộ đã tạo nền tảng để sản phẩm được giới thiệu rõ ràng hơn và
bước đầu tiếp cận tới hệ thống bán lẻ hiện đại. Tuy nhiên, sự hiện diện trên kệ
hàng một số siêu thị và tăng đơn hàng ở một cơ sở thời gian vừa qua chưa chứng
minh toàn diện tác động riêng của thiết kế hoặc hiệu quả bền vững cho toàn làng
nghề trong dài hạn.
Đóng
góp của bài viết đó là một khung nhận diện ba lớp: thị giác, thông tin số và
quản trị tập thể. Hệ thống chỉ phát huy giá trị lâu dài khi dữ liệu luôn duy
trì được các trường thông tin truy xuất tin cậy, chất lượng luôn được kiểm soát
về độ an toàn và thành viên tham gia sử dụng NHTT cho sản phẩm nhận được lợi
ích phù hợp. Hợp tác xã là đơn vị chủ sở hữu NHTT, do đó cần tiếp tục chuẩn hóa
hướng dẫn sử dụng, kiểm soát chặt chẽ việc sử dụng NHTT, hỗ trợ năng lực số,
khi số lượng sản xuất bánh đa ngày càng lớn cần nâng cấp hoàn thiện thông tin
truy xuất chi tiết hơn theo lô, mẻ,… minh bạch phân phối lợi ích và thử nghiệm
cải thiện bao bì phù hợp hơn, đảm bảo thương hiệu Bánh đa Kinh Giao đi vào
chuỗi phát triển lâu dài và bền vững.
Tài liệu tham khảo
1.
Cục sở hữu trí tuệ (2019). Xây dựng, quản lý và phát triển chỉ dẫn địa lý, nhãn
hiệu chứng nhận và NHTT
2. Cục sở hữu trí tuệ (2020). Quy
định hướng dẫn sử dụng tập tin hiệu và chứng nhận nhãn hiệu. Truy cập:
ipvietnam.gov.vn.
3. Cục Sở hữu trí tuệ (2020. Hỏi
đáp về quy chế sử dụng NHTT
4. Cục Sở hữu trí tuệ (2021). Số
liệu thống kê phục vụ Báo cáo thường niên về sở hữu trí tuệ năm 2021
5. Cục Sở hữu trí tuệ (2022). Báo
cáo thường niên hoạt động sở hữu trí tuệ năm 2022
6. Cục sở hữu trí tuệ (2024). Báo
cáo thường niên hoạt động Sở hữu trí tuệ 2024
7. Hợp tác xã Sản xuất Kinh doanh
Dịch vụ Nông nghiệp Tân Tiến (2024). Báo cáo thực trạng sản xuất và quản lý
NHTT “Bánh đa Kinh Giao”. Hải Phòng.
8. Ministry of Science and
Technology Vietnam. (2025). OCOP phát huy giá trị chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu tập
thể. Cổng thông tin Bộ Khoa học và Công nghệ.
https://mst.gov.vn/ocop-phat-huy-gia-tri-chi-dan-dia-ly-nhan-hieu-tap-the-1972510112150461.htm
9. Thông tấn xã Việt Nam. (2023).
Thương hiệu, nhãn hiệu tập thể – “Đòn bẩy” thúc đẩy giá trị nông sản. Tạp chí
Chính sách và Cuộc sống.
https://chinhsachcuocsong.vnanet.vn/thuong-hieu-nhanhieu-tap-the-don-bay-thuc-day-gia-tri-nong-san/30970.html
10. Viện Địa lý nhân văn và Phát triển bền vững. (2026). Báo cáo
tổng kết nhiệm vụ “Hỗ trợ quản lý, khai thác và phát triển nhãn hiệu tập thể
Bánh đa Kinh Giao cho sản phẩm bánh đa Kinh Giao, huyện An Dương, thành phố Hải
Phòng” (Báo cáo nhiệm vụ khoa học và công nghệ; chủ nhiệm: Lê Thị Thanh Bình).