Diễn đàn Quốc tế Á - Phi 2026: Phiên trình bày tham luận về kết nối số các quốc gia Nam Bán cầu
Chiều ngày 15/10/2026, trong khuôn khổ Diễn đàn Quốc tế Á - Phi 2026 với chủ đề “Thúc đẩy kết nối số các quốc gia Nam Bán cầu” do Viện Nghiên cứu Nam Á, Tây Á và Châu Phi, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam tổ chức, Phiên trình bày tham luận đã diễn ra dưới sự chủ trì của PGS.TS. Đinh Công Hoàng, Trưởng phòng Nghiên cứu Trung Đông và Tây Á, Viện Nghiên cứu Nam Á, Tây Á và Châu Phi. Phiên gồm bốn tham luận trình bày theo hình thức trực tiếp và trực tuyến, tiếp cận vấn đề kết nối số từ các góc độ công bằng số, quản trị năng lượng, an ninh, trật tự và thương mại số.
Anh-tin-bai
Toàn cảnh Phiên trình bày tham luận, Diễn đàn Quốc tế Á - Phi 2026

Mở đầu phiên, TS. Kiều Thanh Nga , Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Nam Á, Tây Á và Châu Phi, trình bày tham luận “Công bằng trong tiếp cận không gian số ở Nam Bán cầu: Bài học từ châu Phi”. Theo diễn giả, công bằng số không chỉ là vấn đề có kết nối Internet hay không, mà là năng lực thực chất của các nhóm xã hội trong việc tiếp cận, sử dụng, hưởng lợi và tham gia định hình không gian số. Trên cơ sở đó, tham luận đề xuất khung phân tích năm tầng: kết nối, tiếp cận, năng lực, lợi ích và quyền chủ động.

Từ thực tiễn châu Phi, các số liệu được dẫn cho thấy khoảng cách kết nối vẫn còn lớn: năm 2025, tỷ lệ sử dụng Internet ở châu Phi đạt 36%, so với mức trung bình thế giới là 74%, trong khi 58% số người chưa kết nối đã sống trong vùng phủ sóng băng rộng di động. Rào cản hiện nay chủ yếu nằm ở chi phí thiết bị, kỹ năng số và nguồn điện. Kinh nghiệm của mô hình tiền di động M-Pesa (Kenya) cho thấy đổi mới phù hợp có thể mở rộng tiếp cận tài chính; tuy vậy, khoảng cách giới trong sử dụng Internet di động (29% ở châu Phi cận Sahara) và tình trạng khoảng 470 triệu người chưa có giấy tờ tùy thân chính thức cho thấy nguy cơ số hóa tạo ra những hình thức loại trừ mới.

Tham luận rút ra ba bài học: xuất phát từ nhu cầu thực tế; đánh giá công bằng số bằng kết quả thực chất; gắn hòa nhập số với năng lực tự chủ về dữ liệu và công nghệ. Đối với Việt Nam, diễn giả đề xuất chuyển từ phổ cập kết nối sang phổ cập năng lực tham gia xã hội số, gắn với Nghị quyết số 57-NQ/TW và phong trào “Bình dân học vụ số”; quan tâm hơn tới người cao tuổi, người thu nhập thấp, người dân vùng sâu, vùng xa và người khuyết tật; thu hẹp khoảng cách về kỹ năng số và năng lực ứng dụng trí tuệ nhân tạo; tăng cường quản trị dữ liệu và phát triển công nghệ trong nước.

Anh-tin-bai
TS. Kiều Thanh Nga trình bày tham luận

Trình bày trực tuyến, ông Shridhar Prabhu , Luật sư, nhà nghiên cứu luật năng lượng, Nhà sáng lập Indiclex Collective LLP (Bengaluru, Ấn Độ), giới thiệu tham luận “Hạ tầng số công cộng cho quản trị năng lượng: Bài học so sánh từ Ấn Độ và cơ hội cho Việt Nam, Nam Bán cầu”. Diễn giả nhấn mạnh nhu cầu điện năng toàn cầu đang tăng nhanh, đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ hơn giữa quy hoạch, vận hành hệ thống, tài chính và bảo vệ người tiêu dùng.

Tham luận đề xuất khung phân tích bốn trụ cột của quản trị ngành điện, gồm: trụ cột vật chất (dòng năng lượng và tài sản), trụ cột tài chính (giá trị, đầu tư và rủi ro), trụ cột hạ tầng số công cộng (trao đổi thông tin tin cậy) và trụ cột pháp lý - thể chế (thẩm quyền, quyền và trách nhiệm giải trình). Kinh nghiệm của Ấn Độ với Cơ sở đăng ký truy cập mở quốc gia (NOAR) cho thấy cách pháp luật, dữ liệu và thanh toán có thể kết nối trong một quy trình số chung. Đối với Việt Nam, diễn giả đánh giá cao các bước tiến như ứng dụng chăm sóc khách hàng EVN CSKH và tổng đài 1558, đồng thời gợi mở khả năng áp dụng hồ sơ số dùng chung cho giải quyết khiếu nại của khách hàng và cơ chế mua bán điện trực tiếp (DPPA). Diễn giả cũng đề xuất một nghiên cứu chung do Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam chủ trì, nhằm khảo sát một quy trình phục vụ khách hàng và một giao dịch thị trường điện cụ thể.

Anh-tin-bai
Ông Shridhar Prabhu trình bày tham luận trực tuyến

Tiếp theo, TS. Hoàng Xuân Vĩnh , Viện trưởng Viện Chiến lược về xây dựng lực lượng, hậu cần - kỹ thuật CAND, Cục Khoa học, Chiến lược và Lịch sử Công an, Bộ Công an, trình bày tham luận “Thúc đẩy kết nối số: Hàm ý đối với hợp tác giữa các nước đang phát triển về an ninh, trật tự”. Theo diễn giả, kết nối số mang lại nhiều lợi ích cho tăng trưởng kinh tế, quản trị quốc gia và năng lực cạnh tranh, song cũng đặt ra bốn thách thức lớn về an ninh: an ninh mạng, an ninh công nghệ, an ninh dữ liệu và lừa đảo trực tuyến. Riêng năm 2025, có khoảng 552.000 cuộc tấn công mạng nhằm vào các hệ thống thông tin tại Việt Nam; trong khi đó, tiểu vùng Mê Công đã trở thành một trong những điểm nóng của các đường dây lừa đảo trực tuyến xuyên quốc gia.

Từ thực tiễn đó, tham luận đề xuất bốn ưu tiên hợp tác quốc tế giữa các nước đang phát triển: hoàn thiện khung pháp lý, thúc đẩy tương trợ tư pháp và thu thập chứng cứ điện tử xuyên biên giới; kết nối và chia sẻ dữ liệu xuyên biên giới theo thời gian thực thông qua INTERPOL và ASEANAPOL; thích ứng với các loại tội phạm xuyên quốc gia mới như lừa đảo bằng công nghệ deepfake, rửa tiền qua tài sản mã hóa và tấn công hạ tầng trọng yếu; mở rộng chủ thể hợp tác, tăng cường quan hệ đối tác công - tư với các doanh nghiệp công nghệ. Diễn giả cũng nhấn mạnh vai trò của Việt Nam với việc đăng cai Lễ mở ký Công ước Hà Nội về chống tội phạm mạng vào tháng 10/2025.

Anh-tin-bai
TS. Hoàng Xuân Vĩnh trình bày tham luận

Tham luận cuối cùng của phiên do ông Armand Yoka , Quản lý Chiến lược giao dịch và Giải pháp khách hàng, Sàn Giao dịch Thương mại châu Phi (ATEX), trình bày trực tuyến với chủ đề “Thương mại số – cầu nối các nước châu Á và châu Phi trong bối cảnh mới: Cơ hội và thách thức”. Diễn giả cho biết Khu vực Thương mại tự do lục địa châu Phi (AfCFTA) đã tạo ra một thị trường chung khoảng 1,4 tỷ dân với tổng GDP khoảng 3.400 tỷ USD, song thương mại nội khối châu Phi vẫn ở mức dưới 18% do hạn chế về tiếp cận thị trường, hệ thống thanh toán phân mảnh, chi phí logistics cao và thiếu hụt tài chính.

Theo diễn giả, AfCFTA cần một “xương sống số” để phát huy hiệu quả. Cổng Thương mại châu Phi (Africa Trade Gateway – ATG) được giới thiệu như một hệ sinh thái tích hợp các chức năng kết nối người mua và người bán, thẩm định đối tác, thanh toán xuyên biên giới bằng đồng nội tệ, cung cấp thông tin thị trường và kết nối nguồn tài chính. Hiện nền tảng đã có sự tham gia của hơn 35 quốc gia châu Phi, hơn 140 ngân hàng thương mại và hơn 60.000 hồ sơ doanh nghiệp đã được xác thực. Thông qua các ví dụ thực tiễn tại Tanzania, Malawi và hành lang thương mại Ai Cập - Togo, diễn giả cho thấy thương mại số có thể giúp doanh nghiệp giảm chi phí, hạn chế rủi ro và mở rộng thị trường, qua đó mở ra cơ hội kết nối giữa doanh nghiệp châu Á, trong đó có Việt Nam, với thị trường châu Phi.

Anh-tin-bai
Ông Armand Yoka trình bày tham luận trực tuyến

Sau phần trình bày, các đại biểu tham dự trực tiếp và trực tuyến đã trao đổi, thảo luận với các diễn giả về những vấn đề được nêu trong các tham luận. Các tham luận đã cung cấp nhiều góc nhìn cập nhật về kết nối số ở các quốc gia Nam Bán cầu, từ công bằng số, quản trị năng lượng, an ninh, trật tự đến thương mại số, đồng thời gợi mở nhiều hàm ý chính sách đối với Việt Nam và các nước đang phát triển.

Tin bài: Ngọc Diễm; Ảnh: Tuấn Anh
Nguồn bài viết: Trang Thông tin điện tử Viện Nghiên cứu Nam Á, Tây Á và Châu Phi
Tin xem nhiều
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1