Từ tre, nứa, lá đến những vật dụng truyền thống tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam
14/10/2026
Trong đời sống truyền thống của nhiều dân tộc ở Việt Nam, tre, nứa, lá, cỏ tranh… là những vật liệu quen thuộc, được sử dụng để làm nhà ở, công cụ lao động và đồ dùng sinh hoạt. Từ nguồn nguyên liệu sẵn có, mỗi cộng đồng đã hình thành những phương pháp lựa chọn, xử lý và chế tác phù hợp với điều kiện tự nhiên và nhu cầu sử dụng. Các kỹ thuật được tích lũy, trao truyền qua nhiều thế hệ không chỉ phản ánh tri thức dân gian, kinh nghiệm và sự sáng tạo của mỗi cộng đồng mà còn góp phần tạo nên những nét đặc trưng trong văn hóa của các tộc người. Thông qua hoạt động nghiên cứu và trưng bày, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (Bảo tàng) góp phần bảo tồn, giới thiệu những giá trị văn hóa ấy, đồng thời giúp công chúng hiểu sâu sắc về mối quan hệ và sự thích ứng của con người với thiên nhiên trong xã hội truyền thống.
Xe chở đó của người Việt được trưng bày tại tòa Trống đồng, thể hiện sự phong phú của các dụng cụ đánh bắt thủy sản truyền thống
Tại khu trưng bày thường xuyên trong tòa Trống đồng, nhiều
hiện vật được chế tác từ nguyên liệu tự nhiên giúp công chúng tìm hiểu sự đa dạng
trong đời sống vật chất của các dân tộc Việt Nam. Nón lá, xe chở đó của người
Việt; xa kéo sợi, lịch tre, bếp của người Mường; mâm cơm của người Chứt, gùi của
người Giáy, hòm đan bằng tre của người La Chí; cây hoa của người Thái… hay gùi
của người Ba-na, Gia - rai, Giẻ - triêng, Brâu, Tà ôi,… là những ví dụ cho thấy
sự phong phú về hình thức, kỹ thuật chế tác, hoa văn và công năng sử dụng. Mỗi
hiện vật gắn với một hoạt động cụ thể trong đời sống. Nón lá phục vụ nhu cầu
che nắng, che mưa; đó gắn với hoạt động đánh bắt thủy sản; xa kéo sợi là công cụ
trong quá trình chuẩn bị nguyên liệu dệt; còn gùi được sử dụng để vận chuyển
nông sản, củi và đựng các vật dụng khác. Sự khác biệt về cấu tạo, kích thước và
cách sử dụng phản ánh kinh nghiệm của từng cộng đồng trong việc lựa chọn vật liệu,
tổ chức lao động và thích ứng với điều kiện sinh sống.
Gian trưng bày mô hình nhà và sưu tập gùi của các dân tộc Trường Sơn - Tây Nguyên tại tầng 2 tòa Trống đồng
Nếu khu trưng bày trong nhà giới thiệu những hiện vật tiêu
biểu, Vườn Kiến trúc mở rộng cách tiếp cận thông qua các công trình nhà ở truyền
thống. Tại đây, tre, nứa, gỗ, lá và cỏ tranh hiện diện trong kết cấu nhà, vật
liệu lợp mái, vách ngăn cũng như một số đồ dùng. Những vật liệu này được lựa chọn
và kết hợp theo kinh nghiệm xây dựng, điều kiện khí hậu và tập quán cư trú của
từng cộng đồng. Chẳng hạn, trong kỹ thuật lợp mái nhà truyền thống của người
Chăm, Ê- đê, Ba - na, Hà Nhì, cỏ tranh phải được lựa chọn, phơi khô, làm sạch
và xử lý để tăng độ bền trước khi lợp; tre, mây cũng được chuẩn bị theo những
yêu cầu riêng nhằm bảo đảm độ chắc chắn và độ bền của mái nhà… Những công đoạn
này cho thấy sự am hiểu về đặc tính vật liệu và kinh nghiệm được tích lũy qua
nhiều thế hệ.
Nhà dài của người Ê-đê tại Vườn Kiến trúc với kỹ thuật xây dựng và kinh nghiệm sử dụng vật liệu truyền thông
Từ những vật dụng sinh hoạt đến các công trình kiến trúc,
giá trị của tre, nứa, lá và các nguyên liệu tự nhiên không chỉ nằm ở sản phẩm
hoàn chỉnh mà còn ở những hiểu biết và kỹ năng gắn với quá trình tạo tác. Vì vậy,
bảo tồn di sản cần kết hợp gìn giữ hiện vật với nghiên cứu, tư liệu hóa kỹ thuật
truyền thống và phát huy vai trò của cộng đồng trong thực hành, trao truyền tri
thức. Cách tiếp cận này cũng phù hợp với định hướng của các Mục tiêu Phát triển
Bền vững của Liên hợp quốc, đặc biệt là chỉ tiêu “Quản lý bền vững và sử dụng
hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên” (SDG 12.2), thuộc Mục tiêu số 12 về
“Tiêu dùng và sản xuất có trách nhiệm”.
Trong khuôn khổ các hoạt động hưởng ứng “Ngày Tiêu chuẩn Thế
giới năm 2026”, việc tìm hiểu những vật dụng truyền thống từ tre, nứa, lá tại Bảo
tàng mang đến một góc nhìn về giá trị của tri thức bản địa trong sử dụng tài
nguyên thiên nhiên. Những kinh nghiệm được lưu truyền qua nhiều thế hệ không chỉ
là một phần di sản văn hóa cần gìn giữ mà còn gợi mở những bài học về lựa chọn
vật liệu, sử dụng nguồn lực hợp lý và hạn chế lãng phí. Qua đó, Bảo tàng góp phần
kết nối những giá trị truyền thống với nhận thức và trách nhiệm của xã hội hiện
nay trong bảo vệ môi trường, bảo tồn di sản và hướng tới phát triển bền vững./.
Tin và ảnh: Nguyễn Thị Phượng
Nguồn bài viết: Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam