Tóm
tắt: Giống
với sử thi Tây Nguyên nói chung, chiến tranh là một trong những đề tài lớn được
phản ánh trong hầu khắp các sử thi - akhàt jucar Raglai. Tuy nhiên, do những
đặc điểm riêng về lịch sử, xã hội, văn hóa, đề tài chiến tranh trong các sử thi
Raglai cũng có những nét khác biệt so với sử thi Tây Nguyên cũng như sử thi của
một số dân tộc khác. Sự khác biệt ấy thể hiện qua bản chất, phạm vi, mức độ, mô
típ và dạng thức của chiến tranh được miêu tả trong các tác phẩm akhàt jucar
Raglai.
Từ
khóa: Đề tài;
sử thi; Raglai; chiến tranh.
Abstract: Like the Central Highlands epics in general,
war is one of the main themes reflected in most epics - akhàt jucar Raglai.
However, due to unique historical, social and cultural characteristics, the
topic of war in the Raglai epic also has differences compared to the Central
Highlands epic as well as the epics of some other ethnic groups. That
difference is expressed in the nature, scope, extent, motifs and forms of war
described in Raglai’s akhàt jucar.
Keywords: Topic; epic; Raglai; war.
Ngày
nhận bài:15/01/2024; Ngày sửa bài: 15/02/2024; Ngày duyệt đăng bài: 27/02/2024.
1. Đặt vấn đề
Trên phương diện đề tài,
cũng như sử thi các dân tộc Tây Nguyên khác, sử thi (akhàt jucar) Raglai hầu
như đều tập trung phản ánh những vấn đề hệ trọng, cấp thiết trong đời sống xã
hội, văn hóa, tác động sâu sắc đến cuộc sống các cá nhân và vận mệnh tộc người.
Một trong những vấn đề trở thành đề tài lớn, quen thuộc trong hầu khắp các pho
sử thi của người Raglai là chiến tranh. Chúng ta hiểu rằng tranh chấp, giành
giật dẫn đến tấn công giết chóc, tàn hại lẫn nhau do mâu thuẫn, va chạm về
quyền lợi và những vấn đề khác luôn là “bộ mặt” của chiến tranh. Chiến tranh là
xung đột có tính chất và nguyên nhân lịch sử, xã hội sâu xa. Đặc biệt, chiến
tranh là vấn nạn lịch sử, xã hội không thể tránh khỏi trong buổi đầu xác lập
địa bàn cư trú, xây dựng và phát triển cuộc sống của các cộng đồng người, là đề tài lớn được phản ánh trong sử
thi ở hầu khắp các dân tộc. Trong thực tế lịch sử nhân loại, tầm cỡ và tính
chất của chiến tranh cũng hết sức phức tạp, đa dạng. Được phản ánh vào văn học,
từ văn học dân gian đến văn học viết, hình ảnh chiến tranh thể hiện muôn hình
vạn trạng. Có những cuộc chiến tranh đã huy động, lôi kéo sự tham gia của cả
cộng đồng dân tộc, cả quốc gia và liên quốc gia. Nhưng chiến tranh trong sử thi
dân gian nhiều khi được biến hình, thu hẹp thành những vụ tranh chấp của cặp
nhân vật dũng sĩ và quái vật, anh hùng và đối thủ,... Giới chuyên môn gọi thời
đại chiến tranh trong buổi đầu lịch sử của các tộc người, các quốc gia cổ đại
là “thời đại sử thi”. Trong sử thi Raglai, đề tài chiến tranh mang những đặc
điểm riêng về bản chất, phạm vi và được miêu tả, thể hiện qua nhiều mô típ,
dạng thức khác nhau.
2. Nội dung nghiên cứu
2.1. Bản
chất của chiến tranh trong sử thi Raglai
Về tác động khách quan,
giới nghiên cứu đánh giá rằng chiến tranh ở thời đại sử thi là “bà đỡ” cho sự
phát triển lịch sử, xã hội. Trong sử thi các tộc người ở Việt Nam như Thái,
Mường, chiến tranh là phương thức để mở mang lãnh thổ, tăng cường quyền lực của
thủ lĩnh, nới rộng địa bàn cư trú, phát triển xã hội; gần như chưa có vấn đề
chính nghĩa hay phi nghĩa. Điều đó có phần đúng với một số sử thi trên thế giới
như Iliad của Hy Lạp chẳng hạn. Tuy nhiên, mỗi địa bàn dân cư
thời cổ, mỗi tộc người lại có một đặc thù lịch sử, xã hội, văn hóa riêng mà sử
thi là tấm gương phản chiếu sâu sắc các phương diện này. Vậy nên, nếu vận dụng
quan điểm trên vào nghiên cứu bản chất của chiến tranh trong hầu hết các pho sử
thi, trong đó có sử thi Raglai thì e có phần khiên cưỡng. Trong lịch sử văn học
Việt Nam nói chung và sử thi Raglai nói riêng, những cuộc chiến tranh xảy ra
được mô tả là do sự ngang ngược, tàn bạo của kẻ thù, với mục đích nhằm xâm lấn,
tranh đoạt, cướp giật và tàn sát. Việc các anh hùng sử thi Raglai tham gia vào
những cuộc chiến tranh khốc liệt, đẫm máu ấy là để chống lại các thế lực bạo
tàn nhăm nhe tàn phá, hủy hoại cuộc sống cộng đồng. Thế nên, sự tái hiện cảnh
chiến tranh trong sử thi Raglai thường mang ý nghĩa ngợi ca lịch sử oanh liệt
và truyền thống văn hóa tộc người.
Trong sử thi Amã Chisa,
cả gia đình và buôn làng đang sống trong không khí thanh bình, cuộc sống đang
phát triển, sinh sôi thì bọn giặc Cur, Jawa kéo đến. Chúng ngang ngược yêu cầu
để hai nàng công chúa của chúng là Pu Mữh và Pu Via thay thế vị trí của hai nàng Nãi Awơi Chhia, Nãi
Awơi Hara làm vợ hai chàng trai Amã Dam Pahia, Amã Dam Anga đang là con rể của
Amã Chisa. Với địa vị đặc biệt của người phụ nữ, người vợ trong xã hội mẫu hệ
Raglai, đòi hỏi trên đồng nghĩa với sự chiếm đoạt vận mệnh gia đình vị thủ lĩnh
cộng đồng. Trước yêu cầu vô lý ấy, các dũng sĩ Raglai đã khôn khéo và kiên
quyết từ chối. Cuộc thương thuyết không thành và chiến tranh buộc phải diễn ra.
Quân Cur, Jawa huy động thêm các đầu quân Muba, Cayươn, cầu viện cả quân của
vua thần lửa Putau Tumàt Putau Tumur cùng kéo đến tàn sát, gây cháy rừng, cháy
núi, làm khô hạn đất đai. Các chàng trai Raglai buộc phải đánh nhau với chúng.
Thế nhưng khi chiến tranh kết thúc, quân Cur, Jawa kéo về nước, vua thần lửa
Putau Tumàt Putau Tumur hứa sẽ không tiếp tục gây chiến nữa, các dũng sỹ Raglai
lại đến tắm rửa cho trôi hết mọi tị hiềm và trở lại nhà sàn của mình. Có thể
gọi tên đây là cuộc chiến tranh chấp địa vị người đẹp trong thế giới sử thi
Raglai, điều khó tìm thấy trong sử thi các dân tộc Tây Nguyên khác.
Ba cuộc chiến tranh khốc
liệt, đẫm máu được mô tả trong sử thi Amã Cuvau Vongcơi là
những bài ca thể hiện sự ngưỡng mộ đối với những cá nhân tài năng, dũng mãnh
của cộng đồng, là sự tôn vinh văn hóa tộc người Raglai. Ở cuộc chiến thứ nhất,
bị lọt thỏm trong vòng vây trùng điệp của quân Cur, Jawa xâm lược, anh em Amã
Dam Cuvau Vongcơi, bằng tài năng của mình, đã đánh cho bọn chúng tan tành,
khiến hàng trăm, hàng ngàn quân giặc bị chết. Không chống đỡ được với anh em
Amã Dam Cuvau Vongcơi, bọn Cur, Jawa cầu viện vua Chăm. Nhưng quân của vua Chăm
cũng bị đánh tan tác. Hàng trăm con trâu chết và vô số quân
Chăm tử vong. Vua Chăm buộc phải xin gả con trai mình là Amã Dam Juwa cho em
gái của Amã Dam Cuvau Vongcơi để cầu hòa. Đáp lại hòa ý của vua Chăm, Amã Dam
Cuvau Vongcơi bảo em gái thổi sáo vào sừng của mình để cứu sống trâu và quân
lính của vua Chăm đã chết. Thất bại nặng nề, tức giận trước chiến thắng của anh
em Amã Cuvau Vongcơi, bọn Cur, Jawa kéo toàn bộ binh lính sang thôn tính đất
nước Chăm để trả thù. Mặc dù trong cuộc chiến thứ hai, vua Chăm đã giúp bọn
giặc Cur, Jawa nhưng anh em Amã Cuvau Vongcơi vẫn kéo quân về cứu đất nước Chăm
khỏi họa xâm lăng. Sự nối tiếp, nẩy nở, phức tạp của các cuộc chiến như thế
trong sử thi dường như đã nói lên tính phức tạp khôn lường của những xung đột
xã hội và chiến tranh mà lịch sử tộc dân Raglai đã chứng kiến. Chiến tranh kết
thúc, vợ chồng, anh em Amã Cuvau Vongcơi cùng nhau tắm gội, cởi bỏ hận thù và
cùng với buôn làng sống vui vẻ, hạnh phúc.
2.2. Dung lượng của đề tài chiến tranh trong sử thi
Raglai
Cũng như sử thi các dân
tộc Tây Nguyên khác, chiến tranh là sự kiện luôn xuất hiện trong các tác phẩm.
Và đây cũng chính là tiêu chí không thể thiếu, là đặc điểm quan trọng của nội
dung thể loại sử thi, nhưng với hầu hết các akhàt Jucar Raglai, trước và sau
các cuộc chiến tranh là cuộc sống khai phá, dựng xây, là các cuộc hôn nhân, là
những lễ hội, biểu tượng của thanh bình, hạnh phúc, phát triển và phồn vinh.
Tuy được đề cập đến trong hầu khắp các sử thi Raglai nhưng chiến tranh không
hoàn toàn là vấn đề trọng đại, cấp thiết duy nhất. Trong một số akhàt jucar,
những cuộc chiến
được miêu tả một cách
nhanh gọn, thường không theo lối “trì hoãn” quen thuộc của sử
thi và chiếm một dung lượng ít hơn so với việc mô tả, tái hiện các lễ tục hôn
nhân, cuộc sống cộng đồng.
Sử thi Sa Ea,
ngoài bốn cuộc chiến tranh, phần còn lại là những dòng thơ ngập tràn không khí
lễ hội; hàng ngàn câu hát thể hiện đậm nét phong tục, tập quán của người Raglai
về cái ăn, cái mặc, cái ở; về tập quán cưới xin; về đạo đức, luân lý; về các
chuẩn mực văn hóa của cộng đồng. Trong thiên sử thi này, chúng ta bắt gặp rất
nhiều đoạn kể về phong tục đón khách, tiễn khách; về lễ vật cưới xin; về nghi
lễ gả con, bắt rể,...
Sử thi Udài -
Ujàc có 3 đám cưới được miêu tả một cách chi tiết, cụ thể trong khoảng
gần 3000 câu thơ. Đám cưới nào cũng được tổ chức linh đình theo đúng phong tục
đón khách, tiễn khách; phong tục cầu con, bắt rể của người Raglai. Ở các đám
cưới ấy, sử thi tái hiện vô cùng sinh động các phong tục của tộc người như tục
nói lời lý lẽ trước khi nhà trai đến hỏi cưới, tục đeo còng xâu chuỗi cho đôi
trai gái, tục cô dâu, chú rể ăn chung một tô cơm, đuôi
cá,......................................................
Sử thi Amã Chisa dài
khoảng 7.200 câu thơ, được chia làm 21 khúc ca nhưng chỉ có 7 khúc ca nói về
cuộc chiến tranh chống lại quân Cur, Jawa vì sự ngang ngược, vô lý của chúng.
Trong đó, thực sự chỉ có 4 khúc ca miêu tả diễn biến của chiến tranh. Phần còn
lại là cuộc sống sinh hoạt thường nhật của cộng đồng người Raglai. 10 trong số
14 khúc ca còn lại, tập trung miêu tả hai đám cưới lớn mà qua đó người nghe có
thể đắm mình trong không khí lễ hội tràn đầy niềm vui tươi, hoan lạc và hạnh
phúc. Một bức tranh rộng lớn về thuần phong, mỹ tục và tập quán, tín ngưỡng của cộng đồng người
Raglai được tái hiện vô cùng sinh động.
Ở một mức độ nào đó, sự
phản ánh chiến tranh trong sử thi Raglai đã trở nên giới hạn, dường như không
phải là mục đích của các câu chuyện mà chỉ nhằm làm nổi bật sức mạnh, sự kiên
cường của cộng đồng tộc người và phẩm chất, đạo đức, tài năng của các thủ lĩnh
bộ tộc. Chiến tranh ở đây có vẻ như chỉ là sự điểm xuyết, là cái cớ, sự khúc xạ
ước mơ, khát vọng của cộng đồng người Raglai về một cuộc sống phồn thịnh, thanh
bình và hạnh phúc.
2.3. Phạm vi, giới hạn của chiến tranh trong sử thi
Raglai
Về phạm vi, giới hạn của
các cuộc chiến tranh, sử thi Raglai cũng có phần khác so với sử thi của các tộc
người Ba Na, Xơ Đăng, Ê Đê, M’Nông,... Trong rất nhiều sử thi như Amã Cuvau
Vongcơi, Amã Chisa, Awơi Nãi Tilơr, xuất hiện
thường trực một loại “đối thủ” mà các sử thi Tây Nguyên khác
hoàn toàn không có, đó là “giặc Cur, Jawa” - biểu tượng cho các thế lực ngoại
xâm có thật trong lịch sử Chăm - Raglai. Vấn đề chiến tranh trong sử thi Raglai
vì thế, có lúc vượt ra khỏi khuôn khổ thị tộc, bộ lạc, trở thành vấn đề quốc
gia, dân tộc. Trong các cuộc chiến ấy, những người anh hùng “đứng đầu
gươm” Raglai luôn là những người chiến thắng. Sau những chiến thắng
cao thượng, đẹp đẽ, huy hoàng, kẻ bại trận được trở về trong danh dự; người
chiến thắng cùng nhau xuống bờ nước “sông to biển lớn” tắm
gội để bắt đầu một cuộc sống thanh bình, thịnh vượng.
Có thể khẳng định rằng
chiến tranh trong akhàt Jucar không phải nhằm hủy diệt, nối tiếp hận thù, tấn
công, chiếm đoạt
mà chủ yếu là để tự vệ.
Những cuộc chiến tranh khốc liệt, đẫm máu là để chống lại các thế lực bạo tàn,
độc ác âm mưu tàn phá, hủy hoại cuộc sống cộng đồng. Vì vậy, sự tái hiện cảnh
chiến tranh của sử thi Raglai có ý nghĩa ngợi ca lịch sử oanh liệt, truyền thống
văn hóa, thể hiện ước mơ cuộc sống thanh bình của cộng đồng người Raglai. Rằng,
hơn thế, từ xa xưa, người Ragai đã cố kết thành cộng đồng, xã hội tộc người đã
trở nên bền chặt bởi những thiết chế văn hóa truyền thống. Họ đã là chủ nhân
của một nền văn hóa (vật chất, xã hội, tinh thần,...) đủ sức đối phó, tồn tại
và phát triển trước mọi sóng gió lịch sử.
2.4. Các mô típ, dạng thức chiến tranh trong sử
thi Raglai
Về dạng thức, chiến tranh
trong sử thi Raglai được phản ánh, thể hiện như là một khối xung đột hết sức
phức tạp, với nhiều kiểu dạng khác nhau. Trước hết, đó là những cuộc chiến
tranh chống kẻ thù xâm lược. Như trên đã nói, giặc Cur, Jawa là đối thủ thường
trực trong những cuộc chiến tranh này. Tên gọi Cur, Jawa được nhắc đi nhắc lại
trong các tác phẩm, khiến người nghe có cảm tưởng đây không còn là một danh từ
riêng mà đã trở thành một biểu tượng chung chỉ những kẻ thù xâm lược. Có thể
gọi đây là mô típ cuộc chiến chống xâm lược, một mô típ phổ biến trong các
akhàt jucar.
Trong sử thi Amã Chisa,
có 7 khúc ca kể về 2 cuộc chiến tranh chống quân xâm lược Cur, Jawa. Nguyên
nhân của các cuộc chiến tranh này, như đã nói ở trên, bắt nguồn từ một yêu sách
hết sức phi lý. Thực ra, nó chỉ là cái cớ để bọn giặc thực hiện dã tâm xâm
lược. Vì thế chiến tranh khốc liệt buộc phải diễn ra, nhằm chống lại kẻ thù xâm
lược, bảo vệ vị thế của người phụ nữ
trong gia đình mẫu hệ.
Amã Chisa cùng với những anh em, con cháu dũng sĩ của mình đã chém chết rất
nhiều quân giặc. Khiếp sợ nhưng với dã tâm xâm lược, chúng cầu viện Vua thần
Lửa Tumuh tiếp tục kéo sang xâm chiếm đất đai xứ sở của Chisa. Sau nhiều tháng
năm chinh chiến vất vả để bảo vệ dân làng, bảo vệ đất đai xứ sở, vợ chồng Amã
Chisa đã ca khúc khải hoàn. Họ hồ hởi kéo nhau về làng bắt đầu một cuộc sống
mới. Tại đây, họ tổ chức đám cưới cho các chàng trai, các cô gái; phân công,
cắt đặt công việc cho mọi người trong nhà, trong làng. Cuộc sống trở nên sung
túc, tiếng chiêng, tiếng mã la lúc nào cũng vang lên, tiếng hát lời ca lúc nào
cũng rộn ràng.
Sử thi Awơi Nãi
Tilơr có 21 khúc ca kể về những trận chiến kinh hoàng long trời lở đất
giữa quân của hai chúa làng Tilơr và Ujàc với quân các đầu vua chúa, thần ác.
Các cuộc chiến được kể là nhằm chống lại sự trả thù của Jahuruơi nhưng thực ra
là chống lại sự xâm lấn của các thế lực thù địch, trong đó có sự hiện diện của
17 đầu vua chúa Cur, Jawa.
Chiến tranh chống xâm
lược của người Raglai trong các akhàt jucar không chỉ giới hạn trong việc bảo
vệ đất đai, xứ sở mà còn hướng đến việc hỗ trợ các cộng đồng, các xử sở lân cận
khác. Sử thi Amã Cuvau Vôngcơi kể về ba cuộc chiến tranh
chống quân xâm lược Cur, Jawa. Mặc dù trước đó vua Chăm đã giúp quân Cur, Jawa
đánh anh em Amã Cuvau Vôngcơi nhưng khi đất nước vua Chăm bị bọn chúng xâm
lược, đánh phá, anh em họ lại kéo quân đến cứu giúp. Chiến tranh kết thúc, đám
cưới của Amã Cuvau Vôngcơi và nàng Awơi Nãi Chrỉt Ranỉq được tổ chức linh đình
trước sự chứng kiến đầy đủ của anh em họ hàng.
Mọi người cùng nhau sống
vui vẻ, buôn làng thanh bình, xứ sở ngày một sinh sôi, phát triển.
Trong sử thi các tộc dân
Tây Nguyên và vương quốc cổ khác trên thế giới, cuộc chiến chống các đối thủ và
thế lực tàn bạo, giành người đẹp là mô típ xuất hiện khá phổ biến. Cuộc chiến
khốc liệt kéo dài mười năm giữa những anh hùng của liên quân Hy Lạp với các chiến
sĩ thành Troy trong sử thi Iliad là để giành lại người đẹp
Helen bị chàng Paris đẹp trai quyến rũ. Cuộc chiến long trời lở đất kéo dài từ
miền rừng núi Ấn Độ đến tận đảo Sri Lanka giữa hoàng tử Rama và quỷ vương
Ravana ở sử thi Ramayana là để giải cứu nàng công chúa Sita
xinh đẹp. Ở các sử thi Tây Nguyên như Đăm Săn, Xing Nhã, Đăm Di,...
cũng diễn ra những trận đấu giành người đẹp như thế. Đăm Săn chiến đấu một mất
một còn với M’tao M’xây để giải cứu người vợ nối dây Hơ Nhị. Xing Nhã đánh nhau
quyết liệt với Gia Rơ Bú nhằm trả thù cho cha và cứu mẹ khỏi thân phận nô lệ.
Anh em Đăm Di vượt biển đánh nhau dữ dội với Đăm Chúc là để giành lấy người con
gái Hơ Bia B’lao mà Đăm Di đã được hứa gả.
Mô típ cứu người đẹp cũng
khá phổ biến trong akhàt jucar Raglai, tuy nhiên nó lại mang những đặc điểm có
phần khác biệt. Nếu đối thủ trong các cuộc giao tranh vì người đẹp ở sử thi Tây
Nguyên và vương quốc cổ khác trên thế giới phần lớn là con người thì trong sử
thi Raglai chủ yếu là quái vật. Và thêm nữa, ở sử thi Raglai, hình tượng người
phụ nữ trong các cuộc giao tranh không phải là đối tượng tranh giành mà là
những nạn nhân cần được giải cứu. Cuộc giao tranh long trời lở đất của chàng
Amã Sa Ea nhỏ bé đầy tài trí, can đảm
và quyền phép với rắn ác khổng lồ năm hồng mao ở xứ Sađôk Agôk Grơk nơi “góc
biển cuối đất gốc trời” để giải cứu nàng Anãi Ubala xinh đẹp ở sử thi
Sa Ea rất tiêu biểu cho mô típ diệt quái vật giải cứu người đẹp trong các sử
thi Raglai. Ở cuộc chiến này, rắn ác khổng lồ năm hồng mao chính là kẻ khoấy
động. Từ “góc trời gốc biển”, hắn đã tìm đến nhà ông Chơk Juk, bà
Kuluăk, khi tất cả còn đang say sưa ngủ vùi trong niềm hoan lạc sau đại lễ cưới
xin, để bắt vợ của Yuhea, nàng Anãi Ubala đẹp hơn cả thiên thần, con vua chúa,
mang đi. Cảm thông với hoàn cảnh của Yuhea và phẫn nộ trước hành vi của rắn ác,
Amã Sa Ea đã tìm đến tận nơi hắn ở. Bằng tài trí của mình, chàng đã tiêu diệt
rắn ác, giành lại nàng Anãi Ubala.
Trong sử thi Sa
Ea, Anãi Ubala là nạn nhân và cuộc chiến của chàng Amã Sa Ea với rắn ác năm
hồng mao là cuộc chiến vì đạo đức, lẽ phải, sự công bằng. Trước khi tiêu diệt
rắn ác, Amã Sa Ea đã nói rõ tội trạng của hắn:
“Ơ rắn
năm hồng mao
Sao
ngươi bắt con người
Ngươi
nhốt như heo như trâu
(...)
Ta dằn ngươi ba đoạn là phải thôi”.
Nhân vật Nãi Tiluiq, em
gái của Udai, trong sử thi Udai - Ujàc cũng là nạn nhân
của Người cọp - Hổ tinh. Nhân lúc Udai lên rẫy thì ở nhà, Người cọp - Hổ tinh
đến bắt em gái chàng về ăn thịt. Được Gà Trống thần nơi “gốc dừa
vườn rau” báo tin, Udai tức giận tìm đến tận xứ xở của Người cọp.
Tại đây, chàng đã dùng mẹo lừa và phép
linh đốt sạch nhà to, kho
tàng và thiêu sống vợ chồng Người cọp, cứu em gái ra “bờ nước
sông to biển lớn”.
Hai cuộc chiến đẫm máu
chống quân Cur, Jawa trong sử thi Amã Chisa, bên cạnh ý nghĩa
chống quân xâm lược; ý nghĩa phong tục, tập quán (nguồn gốc từ tục cầu hôn,
cướp hôn), còn mang tính chất của cuộc chiến tranh cứu người đẹp, giải quyết
mâu thuẫn trong quan hệ hôn nhân. Nguyên nhân của các cuộc chiến này xuất phát
từ mâu thuẫn, tranh giành địa vị giữa những người phụ nữ. Tuy nhiên, thực chất
của cuộc chiến tranh này là sự xâm lấn, tranh giành và chiếm đoạt về vật chất,
quyền lực giữa các thế lực, cộng đồng.
Giải quyết xung đột, trả
thù và bảo vệ danh dự cũng là những dạng thức chiến tranh quen thuộc trong sử
thi akhàt Jucar Raglai. Cuộc chiến khốc liệt giữa Chay Grăm Chay Garăm với sự
hỗ trợ, giúp sức của vua thần lửa Tamul cùng 17 đầu vua các xứ, 17 đầu chúa các
làng và quân của Yuhea - Sa Ea trong sử thi Sa Ea được thể
hiện dưới dạng thức chiến tranh giải quyết thù hận. Cuộc chiến này có nguyên cớ
từ việc Anãi Ubala bị rắn khổng lồ năm hồng mao bắt cóc. Yuhea đau xót lên
đường đi tìm vợ, do tức giận trước lời nói dối của Chay Grăm Chay Garăm, đã
tuốt gươm narung nari chặt phá, gọi thần lửa Lăng ka đến đốt nhà giường của
hắn. Sự thù hận sục sôi, nung nấu trong tâm trí Chay Grăm Chay Garăm, cho đến
một ngày nó bùng lên thành khát vọng trả thù, khát vọng hủy diệt. Mặc cho mọi
người can ngăn, Chay Grăm Chay Garăm vẫn lừa dối, kích động vua thần lửa Tamul,
kích động cả thế giới thần
sức mạnh, thế giới hồn ma bóng quỷ, thế giới cọp, rắn, hổ, gấu... cùng gây nên
cuộc chiến tranh khủng khiếp. Quân của Chay Grăm Chay Garăm và vua thần lửa
Tamul được mô tả là “đông hơn cả quân con mối của vua gò mối”,
tràn ngập hết cả xứ sở. Với lực lượng hùng hậu, với khát vọng trả thù và quyết
tâm tiêu diệt “xứ sở, đất đai, con người đất bằng”, quân Chay
Grăm Chay Garăm cùng với các lực lượng hắc ám do vua thần lửa Tamul điều khiển
đã tấn công Yuhea và Sa Ea. Được bác thần Gà Trắng thăm dò và báo tin, Yuhea -
Amã Sa Ea và những chàng trai Raglai buộc phải bước vào cuộc chiến. Đạo quân
của họ tràn đầy khát vọng chinh phục kẻ thù. Tất cả đều tìm mọi cách để được ra
trận với lời thề “Sống thì trở lại, chết nằm ở xứ vua. Không hề sợ
hãi, không hề nao núng” và quyết tâm “Lấy xứ người
làm xứ mình - Lấy núi người làm núi mình... Đánh gãy
quân vua, thắng quân chúa”. Họ coi cuộc ra đi vào chỗ nguy hiểm,
chết chóc này như một cuộc dạo chơi. Chàng Yuhea, chàng Amã Sa Ea thúc voi vào
trận như càn lướt giữa xứ vua, xứ chúa, giữa nơi đồng bằng biển cả, giữa nơi
đồng bằng tràn ngập quân binh. Gươm trong tay Yuhea chặt vòi, chặt chân voi vua
Tamul; gươm trong tay Amã Sa Ea và các chàng trai chém hàng trăm, hàng ngàn
quân vua, quân chúa như chặt cây, phát cỏ.
Tuy quân giặc hết sức
hung hãn và liều lĩnh nhưng các dũng sĩ Raglai vẫn nhận thức được rằng quân đối
phương thực ra là những thần dân vô tội bị bọn Chay Grăm Chay Garăm lừa dối và
vua thần lửa Tamul bắt ép ra trận nên họ không thẳng tay
chém giết. Cầm gươm báu
sáng loáng trong tay nhưng Yuhea nói:
“Điểm
mặt quân chứ không giết
Để ta
dùng về sau
(...)
Dân như búp măng thôi
Quân
dân chỉ nghe lệnh vua thôi”3.
Cuộc chiến tranh khốc
liệt, đẫm máu nhưng cuối cùng đã kết thúc. Kẻ mang lòng thù hận, lừa dối, lôi
kéo, bắt ép mọi người lao vào cuộc chiến tranh hủy diệt vô nghĩa bị trừng trị.
Người chiến đấu cho công bằng, lẽ phải giành lấy vinh quang. Vinh quang đó thuộc
về Yuhea - Sa Ea và những chàng trai Raglai dũng cảm.
Mô típ cuộc chiến trả
thù, bảo vệ danh dự được thể hiện trong rất nhiều sử thi akhàt Jucar Raglai. Đó
là những cuộc chiến chống lại sự thù hận của Chay Grăm Chay Garăm với sự hỗ
trợ, giúp sức của vua thần lửa Tamul cùng 17 đầu vua các xứ, 17 đầu chúa các
làng trong sử thi Sa Ea; là cuộc thách đấu nhằm bảo vệ danh dự của
nàng Awơi Nãi Tilơr với hai nàng Matien và Sa-ien, con thần Biển Putau Tuwaq,
vì sự xấc xược của họ và những trận chiến kinh hoàng mà người nữ anh hùng Awơi
Nãi Tilơr cùng Ujàc chống lại quân của các thế lực bạo tàn do sự thù hằn của
Jahurươi trong sử thi Awơi Nãi Tilơr...
2.5. Mức độ ác liệt của các cuộc chiến tranh được
phản ánh trong sử thi Raglai
Trong hầu khắp các sử thi
akhàt Jucar Raglai, chiến tranh được phản ánh hết sức quyết liệt, dữ dội nhưng không mang tính hủy
diệt, không say máu, hiếu chiến mà đó chỉ là những cuộc chiến tranh bảo vệ cộng
đồng, giải cứu người đẹp, biến quân binh của kẻ thù thành “quân dân của
mình về sau” với mục đích tiến tới sự hòa hợp, tạo thành những
liên minh bộ lạc, bảo vệ vững chắc cuộc sống thanh bình của một cộng đồng dân
cư có ngồn gốc đa đảo thiên di đến vùng rừng núi Trường Sơn hùng vĩ. Sử
thi Awơi Nãi Tilơr có khoảng 10.000 dòng thơ nói về chiến tranh
nhưng diễn biến chính của cuộc giao tranh chỉ thực sự được miêu tả trong 400
dòng thơ. Các câu hát diễn tả trực tiếp những hành động giao tranh không nhiều.
Ở đó không có cảnh máu chảy thành sông, xương chất thành núi ghê rợn. Sử
thi Amã Cuvau Vongcơi cũng có một kết cục hết sức nhân
văn. Được giặc Cur, Jawa cầu viện, vua Chăm kéo quân sang ứng cứu nhưng bị Amã
Cuvau Vongcơi đánh bại, phải xin cầu hòa bằng cách cầu hôn Awơi Cu Nãi Puvia,
em gái của Amã Cuvau Vongcơi cho con trai của mình là Amã Dam Jawa. Amã Cuvau
Vongcơi dùng phép làm cho quân Chăm bị chết trong chiến trận sống lại. Khi quân
Cur, Juawa kéo sang trả thù đất nước Chăm thì chính Amã Cuvau Vongcơi, người đã
từng bị vua Chăm đánh trước đây lại cùng hoàng tử Amã Dam Jawa kéo quân về cứu
đất nước Chăm, đánh bại kẻ thù xâm lược.
Chiến tranh phục thù
trong Udài - Ujàc có lẽ được phản ánh nhiều nhất và quyết
liệt nhất. Toàn bộ văn bản tiếng Việt gồm 14. 632 câu thì đã có đến hơn 10
nghìn câu diễn tả 11 trận đánh. Ngoài trận đánh đầu tiên của Udài (kiếp trước của Ujàc) với vợ
chồng Người cọp - Hổ tinh vì mục đích cứu em gái, 10 trận chiến còn lại là
chiến công của người anh hùng Ujàc và các chiến binh Raglai với các thế lực thù
địch được miêu tả dưới dạng thức những cuộc chiến tranh báo thù. Ý chí phục
thù, khát vọng mở rộng bờ cõi, khẳng định sự giàu có, quyền uy và phẩm giá được
đẩy lên đến tột cùng. Trong trận công phá kinh thành, trả thù cho mẹ mình là
Nãi Via, Ujàc đã giết sạch cả nhà ông nội của mình là vua Chăm. Chàng đốt phá,
thiêu hủy thành quách, lầu đài của vua Chăm, biến tất cả thành miếng đất nhỏ,
thành mảnh đất xốp:
“Đất
nhỏ, ta trồng mía để lại,
Đất xốp
nhỏ, ta trồng thơm để lại...
Để cho
cậu Gà, con công dẫn đàn về ở”.
Xét về khía cạnh lịch sử,
xã hội sở dĩ có hiện tượng khác biệt như đã nói ở trên giữa sử thi Udai
- Ujàc với các sử thi Raglai khác như Amã Cuvau
Vongcơi, Amã Chisa, Awơi Nãi Tilơ... là vì lý
do chủ yếu mà Vũ Anh Tuấn đã phân tích trong công trình Sử thi
Ralai: “Khác với tất cả các sử thi Raglai khác đã được công
bố, chúng ta thấy bối cảnh xã hội xuất hiện nhân
vật chính trong sử thi Udai - Ujàc là một hiện thực đời sống
đã phát triển”. Nghĩa là hầu hết các tác phẩm Amã Cuvau
Vongcơi, Amã Chisa, Sa Ea, Awơi Nãi
Tilơr,... là những sử thi còn mang tính chất cổ sơ, sử thi sáng thế, phản
ánh đời sống, phong tục, tập quán, ca ngợi những anh hùng sáng tạo các giá trị
văn hóa trong buổi đầu của cuộc sống cộng đồng. Vì vậy, chiến tranh, xung đột
xã hội tuy đã được phản ánh trong các sử thi này
nhưng phần nào vẫn chưa trở thành đề tài cốt lõi mà chỉ mang tính chất đòn bẩy
nhằm làm nổi bật giá trị của các nhân vật anh hùng văn hóa trong các tác phẩm
ấy. Với sử thi Udai - Ujàc, đặc tính của một tác phẩm sử thi
cổ điển, sử thi thiết chế, ra đời khi xã hội đã phát triển đến giai đoạn mà
những xung đột cần phải được giải quyết triệt để bằng các cuộc chiến tranh đã
được bộc lộ sắc nét. Chiến tranh để xâm chiếm đất đai, mở rộng bờ cõi, để liên
minh cộng đồng, để khẳng định uy quyền, khẳng định sự giàu có là một yêu cầu
tất yếu. Ở phương diện này, Udai - Ujàc hoàn toàn trùng khớp
với với tiêu chí hàng đầu trong ô phân loại sử thi của F. Hegel: “Nói chung,
người ta có thể nói tình huống thích hợp nhất với sử thi là các
cuộc xung đột của trạng thái chiến tranh. Thật vậy, trong
chiến tranh chính là toàn bộ dân tộc đang vận động”... Sử thi
Raglai đã đi từ những vấn đề lớn của thời đại, dân tộc họ đến những vấn đề của
cuộc sống nhân sinh cộng đồng, mang lại những thổn thức nghệ thuật mà mỗi thế
hệ sau nghe lại đều có thể tìm thấy một điều gì đó thực sự có ý nghĩa.
3. Kết luận
Nhìn chung, chiến tranh
là một trong số đề tài lớn, tạo nên sự thống nhất về nội dung của sử thi -
akhàt jucar Raglai với sử thi các dân tộc Tây Nguyên, sử thi các vùng miền khác
trên thế giới. Đồng thời, gắn liền với đề tài chinh chiến, sử thi Raglai đã tái
hiện vô cùng phong phú đời sống của tộc người có nguồn gốc đa đảo vừa thiên di
và quy tụ ở một miền đất mới, nơi đại ngàn Trường Sơn hùng vĩ và xa lạ. Với đề
tài chiến tranh, lịch sử cộng đồng được phản ánh sâu sắc, sinh động với đầy những xung đột, giao tranh
thông qua những mô típ đặc thù: mô típ cuộc chiến chống ngoại xâm bảo vệ ranh
giới, lãnh thổ; mô típ cuộc chiến giải cứu người đẹp, bảo vệ phong tục, tập
quán; mô típ cuộc chiến giải quyết hận thù gia tộc, bảo vệ danh dự,... Sử thi
akhàt jucar cho thấy, để tồn tại và phát triển, tộc dân Ralai đã phải đương đầu
với biết bao thử thách, sóng gió của lịch sử, trước hết là những cuộc chiến
tranh.
TÀI
LIỆU THAM KHẢO
1. F.
Hégel (2005), Mỹ học (Phan Ngọc giới thiệu và dịch), Nxb. Văn
học, Hà Nội.
2. Trần
Kiêm Hoàng, Chamaliaq Tiẻnq (2014), Chàng Amã Chisa -
Akhàt jucar Raglai (Quyển 1), Nxb. Văn hóa Thông tin, Hà Nội.
3. Vũ Anh
Tuấn (2014), Sử thi
Raglai (Quyển 1),
Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội.
4. Viện
Khoa học xã hội Việt Nam (2004), Kho tàng sử thi Tây
Nguyên - Sử thi Raglai Udai - Ujàc (quyển 2), Nxb. Khoa học
xã hội, Hà Nội.
5. Viện
Khoa học xã hội Việt Nam (2007), Amã Cuvau Vongcơi: Sử thi
Raglai, Nxb. Khoa học xã hội.
6. Viện
Khoa học xã hội Việt Nam (2009), Kho tàng sử thi Tây Nguyên -
Sử thi Raglai Awơi Nãi Tilơr, (Quyển 2), Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.
7. Viện
Khoa học xã hội Việt Nam (2009), Kho tàng sử thi Tây
Nguyên - Sử thi Raglai Sa Ea (quyển 2), Nxb. Khoa học xã
hội, Hà Nội.