Tóm tắt: Trong bài viết này, tác giả bước đầu tìm hiểu một vài nét chính về lịch sử Nho giáo Nhật Bản qua các thời kỳ cổ đại, trung thế, cận thế và cận đại. Đặc biệt, tác giả nhấn mạnh đến sự biến đổi của Nho giáo Nhật Bản ở thời cận thế và cận đại. Có thể nói, Nho giáo Nhật Bản phát sinh tư tưởng đặc biệt - tư tưởng “khai vật”. Tư tưởng “khai vật” thúc đẩy tinh thần nho sĩ, hậu thuẫn các chính sách của chính quyền Minh Trị giúp Nhật Bản nhanh chóng tiếp thu khoa học kỹ thuật tiến bộ của phương Tây. Nhờ đó, Nhật Bản đã Nhật Bản hóa thành công các lĩnh vực như quân sự, chế độ pháp luật, kinh tế, khoa học, giáo dục…, cải thiện đời sống xã hội và tạo tiền đề cho sự phát triển của Nhật Bản sau này.
Từ khóa: Nho giáo
Nhật Bản, Minh trị duy tân.
1. Một
vài nét chính về lịch sử Nho giáo Nhật Bản
Nho giáo được truyền vào
Nhật Bản từ khá sớm, khoảng thế kỷ thứ IV, qua Triều Tiên và Trung Quốc. Theo
lịch sử, Nho giáo được truyền vào Nhật Bản từ thời kỳ Thiên Hoàng Ứng Thần là
Thiên Hoàng đời thứ 15, khi vua nước Tân La (một vương quốc thuộc bán đảo Triều
Tiên) cử đoàn sứ thần sang Nhật Bản, mang nhiều lễ vật đến để triều cống cùng
hiền tài Hòa Nhĩ Cát Sư và mười cuốn Luận ngữ, một cuốn Thiên
văn tự [1, tr.277]. Tuy nhiên, theo quan niệm dân gian, Nho giáo đã
được truyền vào Nhật Bản từ khi quốc gia thống nhất, người Nhật đã dung hòa với
dân di cư từ Trung Quốc và Triều Tiên nên Nho giáo cũng được truyền đến sớm
hơn.
Thời kỳ đầu Nho giáo chỉ
ảnh hưởng đến tầng lớp chấp chưởng quyền chính, như Thiên Hoàng, đại thần,
tướng quân rồi sau đó mới khuyến khích đến tầng lớp bình dân học tập theo. Thời
kỳ này, Thái tử Shokoku (574 - 622) ban hành Thập thất điều Hiến
pháp (604) giống như một đạo luật quy định tôn ti trật tự, cách xử
thế, phương pháp trị dân cũng như quan niệm nhân sinh, khuyến khích quốc dân
theo kỷ cương nhân luân đạo đức giống như quan niệm của Nho giáo trong Luận
ngữ, Hiếu kinh,… Trong điều thứ nhất đã thể hiện ngay luân lý
đạo đức “lấy hòa làm quý, lấy thuận làm tôn. Ở đời kẻ bất minh thì nhiều, người
thấu đạt thì ít, vì thế mới có các việc ngỗ nghịch với vua cha và tranh kiện ở
làng. Nếu trên hòa dưới kính, tất cả công việc đều đúng đạo lý mà giải quyết
thì sự lý đều dung thông, mọi việc đều thành tựu” [1, tr.138]. Ngoài ra,
trong Đại hóa cải tân ban hành thời Thiên Hoàng Kōtoku (Hiếu
Đức, 645 - 654) cũng viết: “Trời đất sinh ra vạn vật; trong vạn vật mọi người
là tối linh, thiện mỹ hơn cả. Người tối thiện tối mỹ trong xã hội loài người
thì gọi là thánh nhân, là chúa tể của nhân loại. Vì thế, thánh chúa Thiên Hoàng
không phải do người định, mà do thiên mệnh đã phó thác cho vậy” [1, tr.281].
Như vậy, quan niệm Thiên Hoàng của Nhật Bản cũng giống với quan niệm Vua của
Nho giáo, là vị trí tối cao, có quyền uy và do trời định chứ không phải do con
người trần thế quyết định. Những ghi chép này cho thấy Nho giáo Nhật Bản đã
tiếp nhận Nho giáo từ Trung Hoa khá sâu sắc ở thời kỳ đầu.
Cho tới nay, Nho giáo
Nhật Bản đã trải qua những thăng trầm của lịch sử:
Thời cổ đại (thời tiền sử - 1192), Nho
giáo Nhật Bản đã chuyển hóa vào đời sống nhân dân qua Thập thất điều
Hiến pháp, Đại hóa cải tân,… Tuy nhiên, trong Thập nhất
điều Hiến pháp là sự dung hòa và kết hợp giữa Nho giáo và Phật giáo.
Tuy phần lớn Hiến pháp này dựa vào tư tưởng chính trị Nho giáo, song tinh thần
của nó lại được xây dựng trên giáo lý của Phật giáo. Điều 2 viết: “Dốc
lòng tín ngưỡng nơi Tam bảo, quy y theo Phật, Pháp, Tăng. Dứt bỏ tà tâm, tuyệt
đối tuân theo giáo lý nhà Phật”. Trong Nhật Bản sử liệu có
giải thích việc thể hiện Nho Phật nhất trí vừa là phương thức thực hiện đời
sống tinh thần, vừa là phương thức trị nước “Phật giáo là nội điển, Nho giáo là
ngoại điển. Phật giáo là tôn giáo chi phối thế giới tâm linh bên trong, Nho
giáo là nền đạo học quy định phương thức bên ngoài. Vì thế nội và ngoại là nhất
thể” [1, tr.285]. Tức là, về phương diện chính trị và phương pháp trị dân Thiên
Hoàng Nhật Bản đều dựa trên quan niệm cơ bản của Nho giáo. Sắc lệnh của Nguyên
Minh Thiên Hoàng (707-715) một lần nữa khẳng định Nho giáo là phương thức trị
dân: “Đại phàm phương pháp nhiếp chính là phải lấy Lễ làm gốc. Nếu không có Lễ
thì ngôn loạn, nếu ngôn loạn thì mọi sự đều bất thành” [1, tr.286].
Thời trung thế (1192-1603), Nho giáo
Nhật Bản có mối quan hệ chặt chẽ với Phật giáo và Thiền học. Điều này là do từ
giữa đời Tống nhiều Thiền sư Trung Hoa đến Nhật Bản truyền giảng Phật giáo và
cả đạo lý Nho học với tinh thần của Tống Nho thông qua các bộ Đại học,
Trung dung, Tư trị thông giám,... Sự tương đồng trong tư tưởng Nho giáo và
Phật giáo thời kỳ này được thể hiện trong tập Hoa viên viện thời ký: “Tống
Nho là những tư tưởng, những học thuyết rất gần với tư tưởng của Phật giáo và
rất giống với tinh thần của Thiền học” [1, tr.294]. Ban đầu, khi Tống Nho
truyền vào Nhật Bản giống như món ăn tinh thần của các vị Thiền sư nên trong
các tác phẩm văn thơ thời kỳ này đều thấm đẫm những đạo lý của Phật giáo và
triết lý của Nho giáo. Tư tưởng Tống Nho dần dần phát triển được dùng để dạy
cho hoàng gia, quý tộc và lan rộng trong nhân dân. Đặc biệt, thời kỳ này Nho
giáo ảnh hưởng mạnh mẽ tới tầng lớp võ sĩ. Ngoài việc luyện tập kiếm pháp, võ
thuật, các võ sĩ còn tham gia vào chính trị, học tập các quan niệm nhân nghĩa
của thánh hiền để trở thành người “văn võ kiêm toàn”.
Nho giáo thời cận
thế (1603 -
1867): Giai đoạn này xuất hiện tư tưởng mới, đó là tư tưởng “khai
vật”. Tư tưởng này được hiểu “khai là mở, mở cửa cho những vật bên trong hiện
rõ ràng. Khai vật tức là làm cho thấy rõ chân tướng của vạn vật. Chữ vật ở đây
là gồm chỉ cho tất cả các sự vật hữu hình, vô hình, hữu tượng, vô tượng”
[1, tr.322].
Nho giáo thời cận đại (1868 - 1912): Sự
xuất hiện tư tưởng “khai vật” dần chuyển biến thành huynh hướng hấp thụ mạnh mẽ
nền văn minh vật chất Âu Mỹ từ thời kỳ cận đại. Với ảnh hưởng của tư tưởng
“khai vật”, đời sống xã hội xã hội Nhật Bản được cải thiện cả về vật chất lẫn
tinh thần. Về tinh thần, Nhật Bản nâng cao trình độ giáo dục cho người dân; về
vật chất, họ áp dụng khoa học kỹ thuật học tập từ các nước tiến bộ về khoa học
kỹ thuật Âu Mỹ để xây dựng đất nước “phú quốc, cường binh”.
2. Nho
giáo Nhật Bản thế kỷ XIX với văn hóa - khoa học phương Tây
Có thể nói, cuối thế kỷ
XIX đầu thế kỷ XX là thời gian tạo ra nhiều sự biến đổi nhất của xã hội Nhật
Bản, trong đó có Nho giáo. Nho học cũng có giai đoạn phát triển mạnh mẽ dưới sự
khuyến khích của chính quyền Mạc phủ với tinh thần Nho giáo phục cổ. Nho học
được truyền bá rộng rãi tại các trường học của các phiên (Daimyo) (1830 -
1843). Các lãnh chúa tại các phiên được tự mở trường, tự xây dựng chương trình
học và bố trí thời lượng, miễn sao nội dung học trong khuôn khổ của Nho giáo
Tống học. Nhưng Nho học cũng có lúc bị phê phán mạnh mẽ, đặc biệt trong phái
Quốc học. Phái này phê phán giới nho - giả đến thậm tệ, coi đó là “phường mục
nát ăn bám xã hội, làm băng hoại cổ phong đất nước” [3, tr.94]. Tuy nhiên, với
mục đích canh tân đất nước của phái Thủy - Hộ thì tinh thần “Thần, Nho nhất
trí” đã được đề cập từ năm Thiên Bình với nội dung “lấy Thần đạo chính thống
thượng cổ thời để xây dựng tinh thần quốc gia, và lấy Nho giáo để kiến tạo đạo
đức, giữ gìn luân thường cho dân tộc” [3, tr.103].
Cũng cần nói đến phong
trào Vương chính phục cổ[1] được
đề xướng ở giai đoạn cận đại song song với phong trào Nho giáo phục cổ nhằm
nâng cao nền quốc học Nhật Bản, phong trào này bắt đầu từ thời Tokugawa (1603 -
1867). Tuy vậy, phong trào Vương chính phục cổ không phủ định Nho giáo, mà còn
thể hiện tinh thần ủng hộ “nếu sùng bái Thiên Hoàng thì phải tôn kính Chư hầu;
nếu tôn kính Chư hầu thì phải kính trọng các vị Khanh tướng Đại phu. Luận rằng:
nếu trên dưới hỗ tương bảo hộ cho nhau thì quốc gia sẽ được thịnh trị thái
bình” [1, tr.318]. Như vậy, Nho giáo Nhật Bản có giai đoạn hưng hay suy, nhưng
rõ ràng vai trò tôn trọng thứ bậc hay tôn trọng trật tự trong xã hội rất được
coi trọng. Nếu bầy tôi chấp hành mệnh lệnh của Thiên Hoàng hay triều đình hoặc
bề trên hiểu cho người dưới thì quốc gia mới bình trị.
Với xu hướng trọng thị xã
hội lễ nghi, tôn kính thứ bậc, Nho giáo Nhật Bản bộc lộ rất rõ nét từ thời cổ
đại đến cận đại. Quan niệm “trung thành” với Thiên Hoàng và tổ quốc là quan
niệm cốt lõi của lòng ái quốc. Trong Đại hóa cải tân thể hiện
rất rõ quan niệm về Thiên Hoàng: “Các vị Thần tổ (thức là Thiên Chiếu Thái
Thần) có ban sắc lệnh cho con cháu xuống trần gian để trị vì thiên hạ. Do sắc
lệnh này nên từ khi thiên hạ mới khai lập, dòng họ Thiên Hoàng luôn luôn ngự
trị quốc gia” [1, tr.280]. Tư tưởng ái quốc cũng được chiếu dụ đến tất cả người
dân: “Tất cả thần dân bách tính đều phải thực hành theo Nho giáo để báo ân quốc
gia” [1, tr.151] hay “nếu trên từ vua quan, dưới đến thần dân, mọi người đều
không để tổ quốc lên trên tất cả thì chính trị bị mục nát, quốc gia bị rối loạn
bất an” [1, tr.152]. Tứ dân của Nhật Bản (sĩ - nông - công - thương) đều thực
hành những triết lý của Nho giáo và phụng sự Thiên Hoàng. Tuy nhiên, trong số
đó vai trò của tầng lớp nho sĩ Nhật Bản được đánh giá là những người tiên phong
trong công cuộc kiến thiết Nhật Bản từ thời kỳ cận đại.
Thời kỳ cận đại, các võ
sĩ ở các phiên (Daimyo) đóng vai trò là tầng lớp nho sĩ Nhật Bản. Từ cuối thời
kỳ trung đại, chính quyền Mạc phủ Tokugawa khuyến khích phát triển Tống Nho nên
võ sĩ chịu ảnh hưởng Nho giáo, nhất là Chu Tử học rất sâu sắc. Ở Nhật Bản, chữ
Trung lại là đức mục được đề cao nhất. Trong đạo đức của người võ sĩ lòng trung
thành với chủ được coi là tuyệt đối, quan hệ “quân - thần” được coi trọng hơn
quan hệ “phụ - tử”. Chính vì vậy, Nhật Bản dù trải qua nhiều biến động trong
đời sống chính trị nhưng người Nhật vẫn chấp hành kỷ luật và tôn trọng trật tự
trong đời sống sinh hoạt hàng ngày [4, tr.68].
Tầng lớp võ sĩ gồm hạ lưu
và thượng lưu vốn được coi trọng trong chế độ thân phận của chính quyền Mạc Phủ
cũng có sự phân hóa. Võ sĩ thượng lưu có nhiệm vụ phục vụ cho chiến trường và
võ sĩ cấp cao. Võ sĩ hạ lưu làm mọi công việc bàn giấy như kế toán, giám sát kỵ
sĩ, thợ mộc, nấu nướng cho võ sĩ thượng lưu. Khi hệ thống cai trị của chính
quyền Mạc Phủ đang trên đường sụp đổ thì nền kinh tế hàng hóa xuất hiện, đã làm
thay đổi tầng lớp võ sĩ hạ lưu. Gia đình võ sĩ hạ lưu ai cũng có việc làm, có
chỗ đứng về kinh tế vì trước đây họ nhận được ít ưu đãi của chính quyền nên
phải làm các nghề phụ để đảm bảo cuộc sống. Khi gạo rẻ vốn gắn liền với chế độ
Tướng quân đã nhường bước cho nền kinh tế hàng hóa phát triển thời cận đại, thế
cân bằng mà tầng lớp võ sĩ thượng lưu dựa vào đã mất đi, võ sĩ thượng lưu gặp
khó khăn về kinh tế, trong đó có võ sĩ trở thành người đi làm thuê, có võ sĩ
chỉ sống bằng cách chấp nhận sự ưu đãi rất nhỏ của chính quyền cho giai cấp của
mình. Trong khi đó, các võ sĩ hạ lưu nhanh nhẹn hơn vì làm nhiều công việc phụ
trước đây nên một nhóm tách thành thợ thủ công, một nhóm tách thành giai cấp
tiểu tư sản làm các công việc bàn giấy như kế toán, văn thư,... Nhiều võ sĩ dời
đến đô thị sinh sống và trở thành trí thức đô thị hoặc trở thành thương nhân.
Chính vì vậy, Nho giáo Nhật Bản có tính chất đô thị [Xem: 2].
Đến cuối thời kỳ Mạc Phủ,
những yếu kém và lạc hậu về kinh tế, kỹ thuật, quân sự, cũng như về thể chế
chính trị của Nhật Bản ngày càng bộc lộ rõ trước sự uy hiếp về quân sự và kinh
tế của các nước phương Tây. Văn minh Tây Âu đã thực sự làm lung lay nền tảng xã
hội khép kín của Nhật Bản. Các nho sĩ Nhật Bản cũng có khuynh hướng trái ngược
nhau khi sức mạnh phương Tây bắt đầu chiếm ưu thế với chính quyền Thiên Hoàng
Mạc phủ. Việc ký kết thông thương với nước ngoài cũng đồng nghĩa với việc hệ tư
tưởng Nho giáo với tư cách kim chỉ nam cho chế độ chính trị triều đình Mạc phủ
không còn giữ vị trí độc tôn, chắc chắn các hệ tư tưởng phương Tây sẽ ảnh hưởng
lớn đến Nhật Bản.
Khuynh hướng chống lại
việc ký điều ước với phương Tây là phong trào Sonnō jōi do Yoshida Shōin[2] tiên
phong. Ngoài Shōin, còn có Takahashi Shinsaku, Kusaka Genzui, Kido Kōin, ōmura
Yasujirō, Ito Hirobumi,… Những nho sĩ này đều xuất thân từ tầng lớp võ sĩ, là
người có chí khí, sống chết vì lý tưởng, tôn sùng Thiên Hoàng[3] và
chống phương Tây [Xem: 4, tr.92]. Sự trung thành với Thiên Hoàng khiến các mâu
thuẫn giữa triều đình Mạc phủ với các phiên ủng hộ Thiên hoàng là Choshu,
Satsuma diễn ra rất phức tạp và hỗn loạn.
Tuy nhiên, cũng có một
khuynh hướng khác tán thành việc ủng hộ mậu dịch giữa Nhật và Mỹ, cho rằng Nhật
Bản khó lòng từ chối việc thiết lập ngoại giao và buôn bán với phương Tây [Xem:
4, tr.90]. Cho đến khi Thiên hoàng Kōmei (Hiếu Minh) - người cực lực chống
phương Tây băng hà, Thiên hoàng Mutsuhito (Mục nhân) lên ngôi, niên hiệu Minh
Trị (1868 - 1912), hàng loạt các cải cách đã được thi hành. Đặc biệt, những nho
sĩ trước đây chống lại chính quyền Mạc phủ, sau khi trở thành lãnh đạo của
chính quyền Minh Trị lại đi tiên phong trong phong trào tiếp thu nền văn
minh.
Lúc này các nhà nho Nhật
Bản là những người đã rèn luyện, học tập qua trí thức Nho học, Hà Lan học tiếp
cận được các tư tưởng khai sáng phương Tây từ sách vở, cũng như những chuyến đi
thị sát các nước Âu Mỹ và họ có cơ hội để so sánh tình hình đời sống chính trị
- xã hội của Nhật Bản với văn minh phương Tây.
Các chuyến đi đến Âu Mỹ
do chính quyền Minh Trị tổ chức với mục đích để các trí thức, nhà nho Nhật Bản
trải nghiệm thực tế, mang lại cho họ những kiến thức căn bản về các ngành khoa
học, công nghiệp, chính trị, thương mại,... của Mỹ và của châu Âu. Cũng từ những
chuyến đi này, những so sánh, đối chiếu với Nhật Bản lạc hậu đã hình thành. Qua
những chuyến đi như vậy, các trí thức, nhà nho Nhật Bản nhận thấy cần phải đổi
mới, duy tân đất nước. Với những điểm mạnh, mới mẻ về văn hóa và lối sống vượt
trội về khoa học kỹ thuật, về nhận thức và lý luận, về sức mạnh quân sự,... của
người phương Tây, họ hiểu rõ những bất cập của xã hội Nhật Bản, tư duy tụt hậu
ăn sâu bám rễ vào nhận thức của con người Nhật Bản. Thêm nữa, việc nền độc lập
của Nhật Bản bị các nước phương Tây đe dọa đã tạo một “cú hích” thúc đẩy sự ra
đời tư tưởng cải cách của các nhà nho Nhật Bản. Các nhà nho Nhật Bản xuất thân
từ dòng dõi võ sĩ và có đóng góp to lớn trong công cuộc cải cách Minh Trị như
Fukuzawa Yukichi, Kato Hiro Yuki, Nishimura Shigeki,… Fukuzawa Yukichi chủ
trương khai phóng dân trí, đổi mới tư tưởng làm mục tiêu cho văn minh hóa quốc
gia. Kato Hiro Yuki chủ trương thay đổi thể chế chính trị để duy tân đất nước.
Nishimura Shigeki góp phần vào việc khai thông thể chế dân chủ giữa lúc quốc gia
và quốc dân còn tranh luận về các quyền, như quyền tự do, tự do ứng cử, tự do
ngôn luận,… Như vậy, các nho sĩ đã có đóng góp tích cực và cụ thể trong công
cuộc cải cách Minh Trị, “ngoài việc thúc đẩy chính quyền phải cải tiến đất nước
cho kịp với Âu Mỹ và tạo đường hướng xây dựng quốc gia cho giới tân trí thức
của thời đại, còn khai thông dân trí, nhất là với khối nhân dân thành thị lên
trình độ giác thức đúng mức với lý tưởng dân chủ, tự do và dân quyền. Còn một
điểm quý giá hơn nữa, là công lao của các ông đã mở đường mới cho những chính
trị gia phải noi gương Âu Mỹ, đặt công lợi làm mục tiêu tối thượng của hành
động,… ” [3, tr.159].
Về các thành tựu
của Nhật Bản khi tiếp thu văn minh phương Tây:
Tư tưởng “khai vật” của
Nho giáo thời kỳ cận đại đã phát huy vai trò của nó, thúc đẩy tinh thần nho sĩ,
hậu thuẫn các chính sách của chính quyền Minh Trị để khai mở các tri thức tiên
tiến trên thế giới. “Đạo” trong tư tưởng “khai vật” không phải là một thứ “Đạo”
tự nhiên, mà chính là thứ “Đạo” được chế tác, được lập nên bởi các động hướng
tác vi của con người” [1, tr.320]. Do vậy, với nền tư tưởng vững chắc đó, các
nhà nho Nhật Bản đã cùng chính quyền Minh Trị tiếp thu các thành tựu khoa học
kỹ thuật tiến bộ của phương Tây và Nhật Bản hóa chúng rất thành công ở mọi
phương diện, từ quân sự, pháp luật đến kinh tế, khoa học…
Nhờ chính sách “khai
quốc” của triều đình Thiên hoàng Minh Trị, như một bước ngoặt lịch sử, với việc
mở rộng các cảng biển, hủy bỏ chế độ “bế quan tỏa cảng” mà văn hóa, học thuật,
kỹ nghệ của các nước Âu Mỹ được du nhập và ngày càng có ảnh hưởng đối với đời
sống nhân dân.
Về chính trị, Nhật Bản bãi bỏ chế
độ phong kiến và xây dựng đất nước theo mô hình chủ nghĩa tư bản. Khác với mô
hình nhà nước phong kiến tập trung quyền lợi và quyền lực vào dòng dõi tướng
quân, quý tộc thì nay người dân có quyền lập pháp, có quyền tham chính. Về
kinh tế, người dân được sở hữu ruộng đất, có quyền tự canh tác trên đồng
ruộng của mình.
Ngay từ những năm đầu của
thời kỳ Minh Trị, chính quyền đã tổ chức bỏ phiếu bầu quốc hội, người dân có
quyền tổ chức các buổi vận động tự do, dân quyền,… Đây là điều chưa từng có
trong lịch sử trước đó. Người dân được quyền tự do ngôn luận và thể hiện ý kiến
của mình qua bầu cử.
Chính quyền Minh Trị đã
ban hành Đại Nhật Bản quốc hiến pháp (1889), trong đó, thể hiện
nhiều tiến bộ vượt bậc, song vẫn quy định Nhật Bản là quốc gia quân quyền chủ
nghĩa, các vấn đề như “Quốc thể”, các quan niệm như “Trung quân”… cũng được quy
định lại và đề cao [Xem: 1, tr.331]. Điều này thể hiện rõ tính ý thức hệ Nho
giáo, phụng sự Thiên Hoàng, Thiên Hoàng là tối cao.
Về giáo dục, thời kỳ này Nhật Bản
đạt được nhiều thành quả tốt đẹp. Chính phủ ban hành Sắc lệnh “Tân giáo dục”
kêu gọi tứ dân nâng cao tri thức, phổ cập giáo dục cho mọi tầng lớp nhân dân.
Ngoài ra, Nhật Bản còn cho xây các trường tiểu học, trung học,… áp dụng chế độ
giáo dục bắt buộc. Với chính sách này, Nhật Bản từ một nước dân trí thấp đã trở
thành nước có trình độ giáo dục ngày càng cao. Trình độ dân trí cao đồng nghĩa
việc học tập, tiếp thu tri thức tiến bộ ngày càng nhanh chóng và dễ dàng
hơn.
Chính phủ cũng đề ra khẩu
hiệu “phú quốc cường binh” nhằm khuyến khích người dân học tập khoa học phương
Tây để nâng cao đời sống và tăng năng suất lao động. Mặt khác, các vấn đề về
đạo đức, truyền thống dân tộc cũng được quan tâm. Khẩu hiệu “Văn minh phương
Đông, kỹ nghệ phương Tây” là những từ thể hiện chính sách, đường lối của chính
quyền Minh Trị cũng như thể hiện bản chất của các nhà nho Nhật Bản: Học tập
tiến bộ nhưng không quên đạo đức, truyền thống của mình.
Như vậy, Nho giáo kể từ
khi được truyền vào Nhật Bản đã có những biến đổi cùng với sự thăng trầm của
lịch sử Nhật Bản. Khác với Nho giáo Trung Hoa, Nho giáo Nhật Bản coi trọng chữ
“Trung” hơn chữ “Hiếu”, vai trò của các võ sĩ Nhật Bản giống như vai trò của
các nhà nho của Trung Hoa và Việt Nam. Khi dân tộc bị lâm nguy thì rõ ràng sự
thức tỉnh của các nhà nho Nhật Bản linh hoạt hơn. Họ biết phải ứng biến với
thời thế, phải chấp nhận sự thay đổi để cải biến xã hội. Ngoài ra, xuyên suốt
từ cổ đại đến cận đại, dù có nhiều biến động nhưng tinh thần quốc gia Nhật Bản
luôn có sự gắn bó mật thiết với các học thuyết, những quan niệm nhân luân đạo
đức mà Nho giáo đã duy trì. Ngày nay, tuy Nhật Bản có sự đa dạng về tín ngưỡng,
tôn giáo với lối sống hiện đại nhưng những triết lý đạo đức Nho giáo vẫn ẩn
chứa sâu sắc trong đời sống sinh hoạt của người dân Nhật Bản.
[1] Phong trào này có
chủ trương: Thiên hoàng là người kế thừa sự nghiệp của tiên đế, nên Thiên hoàng
chấp chính, cai trị nhân dân. Do phong trào này mà uy quyền của Thiên hoàng
được hồi phục.
[2] Yoshida Shōin xuất
thân từ tầng lớp võ sĩ, theo học Shushigaku, đọc sách binh pháp của Yamaga
Sokō, triết học Vương Dương Minh, đi Nagasaki tìm hiểu về khóa học phương
Tây.
[3] Thiên hoàn Kōmei
(Hiếu-Minh) là người chống phương Tây, hiệp ước bất bình đẳng được Ii Naosuke
(Tỉnh Y Trực Bật, 1815-1860) giữ chức vụ Tairō (đại lão: gần giống tể tướng) ký
kết với phương Tây.
Tài
liệu tham khảo
[1] 1.Thích Thiên Ân
(2018), Lịch sử Tư tưởng Nhật Bản Phật giáo - Nho giáo - Thần đạo,
Nxb Hồng Đức.
[2] 2.Đoàn Lê
Giang, Nho giáo Nhật Bản và Nho giáo Việt Nam, Văn hóa Nghệ An
(http://www.vanhoanghean.com.vn/chuyenmuc-goc-nhin-van-hoa/nhung-goc-nhin-vanhoa/nho-giao-nhat-ban-va-nho-giao-viet-nam).
[3] 3.Ishida Kazu
Yoshi (1973), Nhật Bản tư tưởng sử, Tủ sách Kim - Văn, Ủy ban dịch
thuật.
[4] 4.Vĩnh Sính
(1990), Nhật Bản cận đại, Văn hóa Tùng thư.
[5] 5. Vĩnh
Sính (2016), Việt Nam và Nhật Bản giao lưu văn hóa, Nxb Khoa
học xã hội.