Chớp thời cơ chiến lược, Bộ Chính trị quyết định giải phóng hoàn toàn miền Nam vào mùa Xuân 1975 sớm hơn kế hoạch đã dự kiến
Thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ,cứu nước hào hùng của dân tộc Việt Nam. Thắng lợi có ý nghĩa lịch sử đó đã mở ra bước ngoặt quan trọng đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập, thống nhất, cả nước cùng tiến lên chủ nghĩa xã hội. Bài viết này nhằm đi sâu nghiên cứu, phân tích làm rõ về một trong những nội dung hết sức quan trọng ở vào thời điểm lịch sử mang tính chất bước ngoặt của cuộc chiến tranh, đó là chớp thời cơ chiến lược, Bộ Chính trị quyết định giải phóng hoàn toàn miền Nam vào mùa Xuân 1975 sớm hơn kế hoạch đã dự kiến tại cuộc họp Bộ Chính trị mở rộng từ ngày 18-12-1974 đến ngày 8-01-1975 là trong thời gian 1975-1976, đẩy mạnh đấu tranh quân sự, chính trị và ngoại giao làm thay đổi nhanh chóng và toàn diện so sánh lực lượng trên chiến trường, tiến hành tổng công kích, tổng khởi nghĩa, tiêu diệt và làm tan dã quân ngụy, đánh đổ ngụy quyền từ trung ượng đến địa phương, giành chính quyền về tay nhân dân, giải phóng hoàn toàn miền Nam Việt Nam.
1. Bối cảnh tình hình
miền Nam Việt Nam sau hiệp định Paris
Ngày 27-1-1973, Hiệp định Paris về chấm
dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam ký kết, đánh dấu một bước ngoặc
quan trọng, mang tính quyết định, mở ra thế và lực mới cho cách mạng Việt Nam.
Cục diện trên chiến trường và so sánh lực lượng giữa Quân giải phóng với quân
đội Sài Gòn đã từng bước chuyển biến theo chiều hướng ngày càng có lợi cho lực
lượng cách mạng. Tình hình thế giới và tình hình thực tế chiến
trường miền Nam với những thắng lợi ngày càng to lớn của quân đội và nhân dân
Việt Nam đã báo hiệu một thời cơ lớn đang đến gần để Quân giải phóng mở cuộc
phản công chiến lược nhằm hoàn thành sự nghiệp giải phóng hoàn toàn miền Nam,
thống nhất đất nước. Nhận thức rõ thời cơ đó, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh
đạo toàn dân và toàn quân ta với quyết tâm cao nhất và sự chuẩn bị tích cực,
chu đáo nhất về mọi mặt, huy động tối đa mọi khả năng nhân, tài, vật lực của cả
nước để dồn sực cho trận quyết chiến chiến lược cuối cùng.
Ngày 13-10-1973, đứng trước yêu cầu của
tình hình và nhiệm vụ mới, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa III đã họp hội
nghị lần thứ 21(1) Về tình hình hiện nay ở miền Nam Việt Nam và nhiệm vụ cách
mạng miền Nam trong giai đoạn mới. Nghị quyết hội nghị chỉ rõ: “Từ khi
hiệp định Paris về Việt Nam được ký đến nay, đế quốc Mỹ đã phải chấm dứt chiến
tranh xâm lược, rút hết các đơn vị của chúng và chư hầu ra khỏi miền Nam nước
ta, chấm dứt chiến tranh phá hoại và phong tỏa đối với miền Bắc, nhưng ở miền
Nam vẫn chưa có ngừng bắn, hòa bình chưa thật sự lập lại” (2). Chính quyền và
quân đội Sài Gòn được Mỹ giúp sức tiếp tục làm công cụ để thực hiện chủ nghĩa
thực dân mới kiểu Mỹ ở miền Nam, hòng chia cắt lâu dài Việt Nam. Về phía ta,
Nghị quyết nêu rõ “Thế và lực của cách mạng miền Nam hiện nay mạnh hơn bất cứ
thời kỳ nào từ năm 1954 đến nay. Lực lượng vũ trang nhân dân ở miền Nam là lực
lượng chiến thắng đang đứng vững trên các địa bàn chiến lược; tạo ra thế hỗ trợ
tốt giữa các vùng, đang chiến đấu kiên quyết và có hiệu quả ngăn chặn các cuộc
hành quân lấn chiếm của địch, giữ vững vùng giải phóng của ta”(3). Nghị
quyết hội nghị Trung ương lần thứ 21 cũng đã khẳng định vị thế của Chính
phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam: “Cuộc hội nghị cấp cao các
nước Không liên kết ở Angiê vừa qua công nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng
hòa miền Nam Việt Nam là chính phủ hợp pháp duy nhất đã có ảnh hưởng lớn đối
với dư luận quốc tế. Nhân dân miền Nam Việt Nam đã có vùng căn cứ rộng lớn nối
liền với miền Bắc XHCN, với hậu phương rộng lớn của cách mạng Lào và cách mạng
Campuchia, làm cho vị trí chiến lược của cách mạng miền Nam thêm vững chắc”(4).
Thực tế tình hình trên chiến trường miền
Nam sau khi ký hiệp định Paris có sự chuyển biến mạnh mẽ, trong hồi ký “Gia
đình bạn bè và đất nước” bà Nguyễn Thị Bình, nguyên Bộ trưởng Ngoại giao Chính
phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, viết: “Trên chiến trường
tương quan địch - ta thay đổi nhanh chóng, có lợi cho ta. Ở vùng tạm chiếm,
Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đẩy mạnh xây dựng lực
lượng chính trị, đặc biệt trong giới trí thức tư sản, tôn giáo, kể cả giới gần
chính quyền Sài Gòn, nhằm mở rộng mặt trận đoàn kết dân tộc và phân hóa đối
phương. Mặt khác, sau khi ký hiệp định Paris, với điều khoản “Mỹ phải rút hết
quân, thành lập Hội đồng hòa giải và hòa hợp dân tộc ba thành phần” nhiều chính
khách ở Sài Gòn, kể cả một số cựu bộ trưởng của chính quyền Sài gòn, nhân danh
“lực lượng thứ ba” đã hoạt động rất tích cực.Tình hình quân sự và chính trị
trong nước đều thuận lợi”(5).
Trên cơ sở nhận định tình hình thế giới
và tương quan so sánh lực lượng trên chiến trường, Hội nghị Trung ương
lần thứ 21 đề ra quyết tâm lớn hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở
miền Nam. Nghị quyết nêu rõ “ Con đường của cách mạng miền Nam là con đường bạo
lực cách mạng. Bất kể trong tình hình nào, ta cũng phải nắm vững thời cơ, giữ
vững đường lối chiến lược tiến công và chỉ đạo linh hoạt để đưa cách mạng miền
Nam tiến lên”(6). Hội nghị xác định nhiệm vụ cơ bản của cách mạng miền Nam
trong giai đoạn mới là “ Tiếp tục thực hiện chiến lược cách mạng dân tộc dân
chủ nhân dân, thực hiện một miền Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, trung lập,
phồn vinh, tiến tới hòa bình thống nhất nước nhà” (7).
Hội nghị Trung ương lần thứ 21 là một
văn kiện lịch sử có ý nghĩa hết sức quan trọng. Trên cơ sở tổng kết những kinh
nghiệm và bài học rút ra những quy luật chủ yếu để giành thắng lợi từ thực tiễn
đánh Mỹ của những năm trước đó, Nghị quyết Hội nghị đã trực tiếp chỉ đạo cách
mạng và chiến tranh cách mạng để giành thắng lợi cuối cùng trong giai đoạn
kết thúc chiến tranh.
2. Chớp thời cơ chiến
lược giải phóng hoàn toàn miền Nam mùa Xuân năm 1975 sớm hơn kế hoạch đã
dự kiến
Thực
hiện Nghị quyết Trung ương, hậu phương miền Bắc đã vừa đảm bảo ổn định đời sống
nhân dân, vừa tập trung lực lượng đến mức cao nhất để chi viện cho miền Nam.
Tính chung trong 2 năm 1973-1974, miền Bắc đã huy động 25 vạn thanh niên nhập
ngũ, trong đó đã lựa chọn 15 vạn thanh niên để gấp rút huấn luyện, bổ sung quân
số cho các chiến trường miền Nam và ngay tại miền Nam, lực lượng vũ trang cũng
được bổ sung kịp thời và phát triển nhanh chóng, chỉ trong 2 năm 1973-1974 đã
có 12.000 thanh niên ở các vùng giải phóng gia nhập lực lượng chủ lực quân giải
phóng. Bên cạnh đó, lực lượng vũ trang địa phương cũng được bổ sung thêm quân
số và nâng cao chất lượng chiến đấu. Số lượng bộ đội địa phương và du kích
chiến đấu tại chỗ đã tăng lên từ 117.128 người, năm 1973 lên 145.475 người, năm
1974 và năm 1975 đã lên tới 296.184 người (8).
Cùng với việc tăng cường quân số cho các đơn
vị vũ trang, trong hai năm 1973 và 1974 đã có hàng vạn thanh niên xung phong và
cán bộ, nhân viên chuyên môn kỹ thuật được điều động vào miền Nam. Trong số đó
có nhiều cán bộ Dân - Chính - Đảng là cán bộ, bộ đội miền Nam tập kết ra miền
Bắc sau Hiệp định Giơnevơ năm 1954 đã được điều động trở về miền Nam làm nhiệm
vụ. Song song với đó là khối lượng vật chất từ miền Bắc chi viện cho miền Nam
cũng tăng lên rất lớn. Từ tháng 1 đến tháng 9-1973, miền Bắc đã đưa vào miền
Nam 140.000 tấn vật chất các loại, tăng gấp 4 lần so với năm 1972 (9).
Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Đinh Đức Thiện và đồng chí Bùi Phùng,
Hậu cần chiến lược và Hậu cần Miền đã sắp xếp tổ chức, điều chỉnh lực lượng,
hình thành 5 đoàn đảm nhiệm phục vụ chiến đấu trên 5 hướng. Các tuyến
đường vận chuyển chiến dịch với chiều dài 1.800 km đã được củng cố và mở rộng,
hướng về vị trí tập kết của các cánh quân. Mọi phương tiện vận tải đã được huy
động, cùng hơn 6,3 vạn dân công hỏa tuyến trực tiếp vận chuyển vật chất hậu cần
phục vụ việc cơ động lực lượng chiến đấu. Đến ngày quy định (25-4-1975) mọi
công tác chuẩn bị vật chất kỹ thuật cho chiến dịch đã hoàn thành. Với 10 vạn
tấn hàng các loại mới đưa từ hậu phương lớn vào và trên 6 vạn tấn dự trữ từ
trước, khối lượng vật chất đã vượt yêu cầu của kế hoạch chiến dịch, kể cả
một phần chuẩn bị cho trường hợp chiến dịch kéo dài sang mùa mưa. Trong
cuốn sách Tại sao Mỹ thua ở Việt Nam ? Nguyễn Phú Đức viết: “ Tháng Năm 1973,
Hà Nội đã đưa vào miền Nam ngoài số đã có mặt ở miền Nam vào lúc ký kết đình
chiến 35.000 người và 30.000 tấn dụng cụ chiến tranh”(10).
Sự chi viện và giúp đỡ to lớn của hậu phương
miền Bắc đã giúp cho lực lượng vũ trang nhân dân ba thứ quân ở miền Nam lớn
mạnh cả về số lượng và chất lượng. Những quân đoàn và binh đoàn tương đương
quân đoàn mới được thành lập, đứng chân trên các địa bàn chiến lược quan trọng
ở Đông Nam bộ, Trị - Thiên, Tây nguyên đã tạo được sự chuyển biến rất lớn
về so sánh lực lượng ngày càng có lợi cho ta (11). Các quân đoàn binh chủng hợp
thành được trang bị khá mạnh, sức đột kích lớn, sức cơ động cao, sức chiến đấu
liên tục, cùng với việc phát triển của bộ đội địa phương và dân quân du kích
rộng khắp giúp ta mở được các chiến dịch tiến công quy mô lớn trên các hướng
chiến lược ở chiến trường miền Nam, kể cả những nơi sát trung tâm đầu não của
địch, đánh, tiêu diệt và làm tan rã lực lượng lớn quân địch, làm thay đổi hẳn
so sánh lực lượng và cục diện chiến trường có lợi cho lực lượng cách mạng.
Trên chiến trường, quân và dân ta giữ vững và
phát triển thế chủ động chiến lược, đẩy địch vào thế bị động và co cụm. Trên
các hướng trọng yếu, ta củng cố và mở rộng bàn đạp tiến công, chuẩn bị
tương đối tốt các mặt dự trữ vật chất, đường cơ động chiến lược, chiến dịch để
chuẩn bị cho những trận đánh lớn. Tình hình so sánh lực lượng giữa ta và địch
bắt đầu có những chuyển biến căn bản. Những điều kiện cho việc giải phóng hoàn
toàn miền Nam đang chín muồi. Trong khi thế và lực của ta ở miền Nam đang phát
triển thuận lợi, thì ở bên kia bán cầu, nội tình nước Mỹ xảy ra vụ bê bối
Watergate dẫn đến việc Hạ nghị viện Mỹ truy tố Tổng thống Richard Nixon,
buộc Richard Nixon phải đọc diễn văn từ chức trên truyền hình vào đêm
ngày 9 -8 -1974 (12). Sự kiện này đã gây ra cuộc rối loạn về quyền lực và cuộc
khủng hoảng lòng tin trong nước Mỹ. Trong cuốn sách Tại sao Mỹ thua ở Việt Nam
? Nguyễn Phú Đức viết “Không còn nghi ngờ gì nữa Mỹ nhất quyết bỏ rơi miền Nam
Việt Nam. Việc đó đã đi trước vụ Waterrgate (13). Tại Washinhton, G. Ford lên
thay R.Nixon làm Tổng thống thứ 38 của nước Mỹ trong bối cảnh khó khăn về nhiều
mặt. Chính G.Ford cũng phải thừa nhận vào ngày 6-8-1974 rằng việc Nixon
phải từ chức đánh dấu “một trong những thời kỳ khó khăn nhất và bi thảm
nhất của nước Mỹ”(14).
Sự kiện thay đổi Tổng thống Mỹ không những đã
làm thay đổi những diễn biến quan trọng trong nội bộ chính trị nước Mỹ, mà còn
ảnh hưởng trực tiếp làm thay đổi cán cân lực lượng của Việt Nam Cộng hòa trong
cuộc chiến với Quân giải phóng. Quốc hội Mỹ đã quyết định cắt giảm mạnh viện
trợ quân sự và kinh tế cho chính quyền và quân đội Sài Gòn mà Nixon đã hứa hẹn
trước đó. Trong năm tài chính 1972-1973, viện trợ quân sự Mỹ cho miền Nam Việt
Nam là 1.614 triệu USD; năm tài chính 1973-1974 rút xuống 1.026 triệu
USD; năm 1974-1975 chỉ còn 700 triệu USD(15), nghĩa là còn trên một nửa. Trong
số 700 triệu USD viện trợ đã phải dành 300 triệu USD để chi trả lương cho nhân
viên Văn phòng Tùy viên quân sự Mỹ (DAO) tại miền Nam Việt Nam(16) và chi phí
vận chuyển. Các khoản viện trợ về tác chiến bảo dưỡng trang thiết bị đã bị cắt
giảm đột ngột. Việc cắt giảm viện trợ đã tác động lớn đến chính quyền và quân
đội Sài Gòn, đánh giá về việc cắt giảm viện trợ của Mỹ cho Việt Nam Cộng
hòa, giáo sư sử học Mỹ Gabriel Kolko viết : “Việc Quốc hội không cho viện
trợ bổ sung đã đẩy Việt Nam Cộng hòa vào một cuộc khủng hoảng tâm lý và chính
trị trong giai đoạn cuối cùng của cuộc đời nó”(17). Do không có đủ sự hỗ trợ về
tài chính và trang bị từ Mỹ, quân đội Việt Nam Cộng hòa không thể đánh theo
cách mà Mỹ đã huấn luyện, như trong Hồi ký của Đại tướng Văn Tiến Dũng viết : “
Nguyễn Văn Thiệu phải kêu gọi quân đội tác chiến “theo kiểu con nhà nghèo” với
chi viện hỏa lực giảm 60 % vì thiếu bom, đạn, sức cơ động cũng giảm sút gần 50
% do thiếu máy bay, thiếu xe, thiếu cả nhiên liệu”(18). Thực tế đó dẫn đến tình
trạng các đơn vị quân đội Việt Nam Cộng hòa bị trói chân vào các vị trí phòng
thủ tại chỗ.
Điều quan trọng hơn nữa là đa phần trong giới
chức và nhân dân Mỹ đã quá chán ghét chiến tranh. Một tâm lý mong muốn rút thật
nhanh ra khỏi cuộc chiến tranh Việt Nam ngày càng tăng cao ở Mỹ, giáo sư sử học
Mỹ Gabriel Kolko viết: “Bảy mươi lăm Hạ nghị sĩ mới, tham gia khóa Quốc
hội thứ chín mươi tư, tháng giêng năm 1975, là những người chống chiến tranh
mạnh mẽ và chủ trương cải tổ lại hệ thống các ủy ban đã từng giúp cho các chính
quyền liên tiếp thực hiện chính sách đối ngoại”(19). Phong trào biểu tình đòi
hòa bình, phản đối chiến tranh của nhân dân Mỹ và nhân dân yêu chuộng hòa
bình trên thế giới ngày càng dâng cao đã làm cho chính quyền Mỹ rất lúng túng.
Trước những diễn biến của tình hình thế giới
và trên chiến trường có chuyển biến và thuận lợi to lớn, từ ngày 30-9-1974 đến
ngày 8-10-1974, Bộ Chính trị họp đánh giá thời cơ chiến lược mới và thông qua
kế hoạch giải phóng miền Nam trong 2 năm 1975-1976. Trong thư của Bí thư thứ
nhất Đảng Lao động Việt Nam Lê Duẩn (20) “Gửi anh Bảy Cường (tức Phạm Hùng -
ĐQH) ”về kết luận của Hội nghị Bộ Chính trị ngày 10-10-1974 viết: “Bộ
Chính trị Trung ương Đảng đã họp bàn nhiệm vụ chống Mỹ cứu nước trong hai
năm 1975-1976. Hội nghị bắt đầu từ ngày 30-9-1974 và đến ngày 8-10-1974 thì tạm
dừng, chờ anh và một số đồng chí ở chiến trường ra” (21). Trong thư, đồng
chí Lê Duẩn khẳng định: “Lúc này, chúng ta đang có thời cơ. Hai mươi năm
chiến đấu mới tạo được thời cơ này, chúng ta phải biết nắm lấy để đưa sự nghiệp
giải phóng dân tộc đến thắng lợi hoàn toàn”(22).
Trên cơ sở phân tích tình hình thế giới, khu
vực Đông Nam Á và so sánh lực lượng trên chiến trường, đồng chí Lê Duẩn
chỉ rõ: “ Mỹ thì đã thua, đang rút ra, trước mắt muốn giữ tình hình miền
Nam ổn định trong một số năm để ngụy quyền tiếp tục đứng vững và Mỹ có thời
gian vượt qua những khó khăn lớn về kinh tế và chính trị trong nước. Riêng lực
lượng so sánh giữa ta và ngụy thì ta đang ở thế thắng, thế tiến lên; trái lại,
vì thất bại liên tiếp thế và lực của ngụy , cả về chính trị và quân sự,
đang xuống dốc. Xét tất cả các mặt nói trên, chúng ta khẳng định đây là thời cơ
thuận lợi nhất để nhân dân ta hoàn toàn giải phóng miền Nam, giành thắng
lợi trọn vẹn cho cách mạng dân tộc dân chủ, đồng thời giúp Lào và Campuchia
hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc. Ngoài thời cơ này không có thời cơ nào
khác. Nếu để chậm mươi, mười lăm năm nữa, bọn ngụy gượng dậy được, các thế lực
xâm lược phục hồi… thì tình hình sẽ phức tạp vô cùng”(23). Những nhận định về
tình hình và xác định thời cơ chiến lược tại Hội nghị Bộ Chính trị tháng
10-1974 là rất kịp thời, vô cùng đúng đắn, sáng suốt và có tính chất quyết định
để chuẩn bị cho kế hoạch giải phóng hoàn toàn miền Nam.
Nắm bắt chủ trương chiến lược của Hội nghị Bộ
Chính trị, trên cả hai miền Nam Bắc, quân và dân ta đã khẩn trương chuẩn bị về
mọi mặt. Trong Đông Xuân 1974-1975 quân ta chủ yếu tiến công địch trên địa bàn
đồng bằng sông Cửu Long và miền Đông Nam Bộ. Qua thực tế chiến trường cho thấy
khả năng đối phó của địch đã hạn chế rõ rệt. Địch không còn đủ sức chiếm lại
các đồn bốt và “ấp chiến lược” bị mất vào tay Quân giải phóng. Về phía Mỹ, khả
năng can thiệp trở lại cũng rất ít. Theo nhận định của Bộ Chính trị “Khả năng
can thiệp về quân sự của Mỹ rất hạn chế. Nếu ngụy quyền có nguy cơ sụp đổ, ta
cần đề phòng Mỹ có thể can thiệp bằng không quân và hải quân để cứu chúng. Khả
năng dùng lục quân rất ít, nhưng dù chúng có can thiệp thể nào cũng không cứu
vãn được ngụy khỏi sụp đổ”(24).
Từ đêm ngày 28-7-1974 đến tháng 11-1974, quân
và dân ta tiến công tiêu diệt địch giành thắng lợi lớn, giải phóng thị xã
Thượng Đức, đây là Quận lỵ đầu tiên ở miền Nam được giải phóng kể từ sau khi ký
Hiệp định Paris. Tiếp sau chiến thắng Thượng Đức, tại miền Đông Nam bộ, Quân ủy
và Bộ Tư lệnh Miền quyết định mở chiến dịch Đường số 14 - Phước Long nhằm tiêu
diệt một bộ phận sinh lực địch, mở rộng vùng giải phóng, tạo thêm bàn đạp tiến
công Sài Gòn. Trong vòng 20 ngày (từ ngày 12-12-1974 đến ngày 6-1-1975) quân ta
đã giải phóng toàn tỉnh Phước Long. Ngày 7-1 Quân giải phóng chiếm Đài quan sát
núi Bà Đen (Tây Ninh). Quân đội Sài Gòn chỉ đối phó chủ yếu bằng không quân kết
hợp với lực lượng cơ động địa phương tại chỗ một cách yếu ớt, không kết quả.
Thậm chí sau khi Phước Long đã hoàn toàn do quân giải phóng làm chủ, ngày
10-1-1975 Nguyễn Văn Thiệu vẫn khoác loác trấn an dân chúng rằng: “Việc quân
cộng sản Bắc Việt tấn chiếm trái phép Phước Long phải được xem là một việc nhất
thời” (25).
Đáng chú ý là Mỹ chỉ hăm dọa, gây áp lực từ
xa, cho báo động khẩn cấp sư đoàn 3 thủy quân lục chiến ở Ôkinawa (Nhật Bản),
đe dọa ném bom trở lại miền Bắc, cho tàu sân bay Interprise từ Philippin vào
vùng biển Nam Việt Nam mà không có hành động trực tiếp cứu nguy cho quân đội
sài Gòn. Trước sức ép của dư luận Mỹ, ngày 22-1, Tổng thống G. Ford tuyên bố
“sẽ không có hành động nào khác ngoài việc bổ sung viện trợ cho Sài Gòn; sẽ
không can thiệp vào Nam Việt Nam nếu xét ra không phù hợp với hiến pháp
và pháp luật Hoa Kỳ ”(26).
Thắng lợi của quân và dân ta trong chiến thắng
Thượng Đức cuối năm 1974 có ý nghĩa rất quan trọng (27). Đánh giá ý nghĩa quan
trọng của chiến thắng Thượng Đức, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã chỉ rõ: “ Các
chuyển biến trên chiến trường miền Nam cung cấp cho ta nhiều dữ liệu quan
trọng. Trận Thượng Đức là thước đo sức chiến đấu của quân ta và quân ngụy”(28).
Đặc biệt là thắng lợi của quân và dân ta trong chiến dịch Đường số
14-Phước Long, giải phóng thị xã Phước Long(29) đập tan vành đai phòng
thủ kiên cố, tiền đồn án ngữ mạnh của quân đội Việt Nam Cộng hòa, mở toang cửa
ngõ cho quân ta tiến vào Sài Gòn. Với chiến thắng Thượng Đức và chiến dịch
Đường số 14-Phước Long có ý nghĩa chính trị và quân sự to lớn , tạo nên
những cơ sở thực tiễn vững chắc để Bộ Chính trị xây dựng quyết tâm giải
phóng miền Nam trong năm 1975. Chiến thắng của quân và dân ta đã khẳng
định một thực tế là quân đội Sài Gòn không thể đương đầu nổi với chủ lực của
ta. Ta hoàn toàn có khả năng đánh thắng toàn bộ quân đội sài Gòn, giải phóng
hoàn toàn miền Nam. Mặt khác, sự kiện Phước Long còn chứng tỏ sự phản ứng của
Mỹ chỉ có mức độ “ khả năng can thiệp về quân sự của Mỹ rất hạn chế” và “ Mỹ
khó có khả năng vào lại miền Nam Việt Nam” đúng như Bộ chính trị đã nhận
định: “…đã rút quân về nước, quân Mỹ khó quay trở lại và nếu có thì chỉ có thể
dùng không quân và hải quân để cứu nguy”(30).
Có thể khẳng định rằng: chiến thắng Phước Long
thật sự là một “phép thử”, một đòn đánh mang tính “trinh sát chiến lược” là một
thực tiễn lớn để thăm dò sức chiến đấu, đánh giá khả năng phản ứng của quân đội
Việt Nam Cộng hòa và khả năng quân Mỹ có can thiệp trở lại miền Nam khi
quân ta đánh lớn hay không, khả năng phản ứng của chính quyền Washington đối
với cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Đảng ta đã phán đoán chính xác: “đây là
lúc Mỹ đang ra, mà đã ra rồi thì việc quay lại không phải dễ, vì Mỹ còn choáng
váng, ê ẩm bởi một chuỗi dài thất bại sau quá trình dính líu, sa lầy “leo
thang” rồi lại xuống thang, nay mới thoát ra được. Ngoan cố bám giữ miền Nam
đến cùng là một việc, mà quay trở lại miền Nam một lần nữa là một việc khác.
Chọn thời cơ chiến lược này ta phán đoán Mỹ không có khả năng quay lại. song ta
cũng khẳng định, dù Mỹ có can thiệp trở lại trong chừng mực nào thì chúng cũng
không xoay chuyển được tình thế và ta vẫn thắng”(31).
Thực tế sau chiến thắng Phước Long cho thấy sự
suy yếu của quân đội Sài Gòn và khả năng phản ứng rất hạn chế của Mỹ. Nhận định
về kết quả của chiến dịch Phước Long, đồng chí Lê Duẩn đã khẳng định
“Chiến thắng này đã mở ra tiền đề cho cách mạng miền Nam thần tốc tiến lên giải
phóng hoàn toàn miền Nam”. Vì vậy chiến thắng Phước Long không thể đánh giá như
một chiến thắng chiến thuật hay chiến dịch mà là một chiến thắng ở tầm chiến
lược. Sau chiến thắng Phước Long, thế và lực của ta trên chiến trường miền Nam
nói chung và miền Đông Nam Bộ nói riêng càng lớn mạnh, làm xoay chuyển cục diện
chiến trường, thay đổi tương quan lực lượng giữa ta và địch trên chiến trường
Nam Bộ; đánh dấu bước phát triển, trưởng thành vượt bậc của lực lượng vũ trang
cách mạng cả về chính trị, tư tưởng. Đại tướng Hoàng Văn Thái đã nêu rõ trong
hồi ký: “Hầu như mỗi lần thông báo tin chiến sự là một lần bổ sung tư liệu sống
rất quý báu, khẳng định thế và lực của ta đang lên, thế và lực của địch đang đi
xuống; điển hình là qua chiến dịch Phước Long”(32). Thắng lợi của đợt hoạt động
Đông Xuân 1974-1975, đặc biệt là sau chiến thắng Phước Long đã có thêm cơ sở
thực tế và tin tưởng vào thắng lợi để Bộ chính trị khẳng định, bổ sung và hoàn
chỉnh kế hoạch quyết tâm giải phóng hoàn toàn miền Nam.
Trong khi chiến dịch Phước Long còn đang
tiếp diễn, từ ngày 18-12-1974 đến ngày 8-01-1975 Bộ Chính trị họp mở rộng kết
luận: “Chúng ta đang đứng trước thời cơ chiến lược lớn, chưa bao giờ có điều
kiện đầy đủ về quân sự và chính trị như hiện nay”, hội nghị nêu quyết tâm trong
thời gian 1975-1976, đẩy mạnh đấu tranh quân sự, chính trị và ngoại giao làm
thay đổi nhanh chóng và toàn diện so sánh lực lượng trên chiến trường, tiến
hành tổng công kích, tổng khởi nghĩa, tiêu diệt và làm tan rã quân ngụy, đánh
đổ ngụy quyền từ trung ương đến địa phương, giành chính quyền về tay nhân dân,
giải phóng miền Nam Việt Nam. Ngày 7-01-1975, Bí thư thứ nhất Đảng Lao động
Việt Nam Lê Duẩn kết luận đợt hai Hội nghị Bộ Chính trị nêu rõ: “Đánh giá tình
hình sau hiệp định Pa-ri, đánh giá lực lượng so sánh giữa ta và địch, nhận định
thời cơ lịch sử, khẳng định quyết tâm chiến lược hoàn thành cách mạng dân tộc
dân chủ nhân dân ở miền Nam trong hai năm 1975, 1976, xác định nhiệm vụ, mục
tiêu và các bước thực hiện”(33). Ngoài kế hoạch chiến lược cơ bản hai năm,
trong kế hoạch năm 1975, Bộ Chính trị còn dự kiến một phương án khác: “Kế hoạch
tiếp theo cho năm 1976 sẽ do kết quả thực hiện kế hoạch năm 1975 quyết định.
Chúng ta phải cố gắng cao nhất để thắng gọn trong năm 1975. Điều đó là một khả
năng hiện thực”(34).
Thực hiện Nghị quyết Hội nghị Bộ Chính trị,
Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh lập tức triển khai kế hoạch chuẩn bị cho
cuộc tiến công chiến lược năm 1975. Các phương án hiệp đồng quân binh chủng, bổ
sung, tăng cường lực lượng, đảm bảo hậu cần, vũ khí, đạn dược, thuốc men cho
các chiến trường, hoàn chỉnh hệ thống ống dẫn xăng dầu, mạng dây thông tin, đẩy
mạnh sửa chữa, mở mới các mạng đường cơ động nhằm phục vụ tốt nhất cho cuộc
tiến công chiến lược để tiến tới hoàn thành giải phóng miền Nam, thống nhất đất
nước.
Nắm chắc tình hình và tranh thủ thời cơ thuận
lợi, Quân ủy Trung ương quyết định dùng lực lượng chủ lực mạnh mở một chiến
dịch quy mô lớn ở Tây Nguyên, đánh chiếm Buôn Ma Thuột, giải phóng tỉnh Đắk
Lăk, sau đó giải phóng toàn bộ Tây nguyên, phát triển theo hướng Phú Yên, Khánh
Hòa thực hiện chia cắt chiến lược. Từ ngày 4-3 đến ngày 24-3-1975 chiến dịch
giải phóng Tây Nguyên giành thắng lợi, với trận mở màn đánh vào Buôn Ma Thuột
sáng ngày 10 - 3-1975 (35). Ngày 11-3-1975, Bộ Chính trị họp nhận định: “ Thắng
lợi ở Buôn Ma Thuột- Đức Lập, trên đường 19 và các hướng khác chứng tỏ ta có
khả năng giành thắng lợi to lớn và nhịp độ nhanh hơn dự kiến”. Cũng tại cuộc
họp này, đồng chí Lê Duẩn đưa ra ý kiến: “ Trước đây ta dự kiến hai năm giải
phóng miền Nam, nay có Phước Long, Buôn Ma Thuột, ta có thể đẩy mạnh hơn; đây
phải chăng là bước đầu của cuộc tiến công chiến lược? Nên suy nghĩ”(36).
Ngày 18-3-1975, Bộ Chính trị họp
và hạ quyết tâm hoàn thành kế hoạch hai năm giải phóng miền Nam trong năm 1975,
lấy Sài Gòn làm phương hướng tiến công chủ yếu, đẩy mạnh Tổng tiến công chiến
lược đến toàn thắng.
Ngày 24-3-1975 Tây Nguyên được giải phóng. Cục
diện chiến trường thay đổi nhanh chóng. Quân địch từ trạng thái phòng ngự chiến
lược chuyển sang thế co cụm chiến lược và rút lui.
Ngày 25-3-1975 Bộ Chính trị họp và khẳng định:
“Thời cơ chiến lược lớn đã tới. Trong suốt 20 năm chống Mỹ, cứu nước,
chưa bao giờ thuận lợi bằng lúc này” do đó cần “Nắm vững thời cơ chiến lược
mới, tranh thủ thời gian cao độ, nhanh chóng tập trung lực lượng vào phương
hướng chủ yếu, hành động táo bạo, bất ngờ, làm cho địch không dự kiến kịp và
không kịp trở tay, hoàn thành giải phóng miền Nam càng sớm càng tốt”. Trên cơ
sở xác định rõ tình hình và nắm chắc thời cơ chiến lược, Bộ Chính trị quyết định:
“ quyết tâm hoàn thành giải phóng Sài Gòn và miền Nam trước mùa mưa (tháng
5-1975) (37).
Cùng với đòn tiến công Tây nguyên, Bộ Chính
trị, Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng Tư lệnh quyết định chọn Trị - Thiên - Huế làm
hướng tiến công phối hợp quan trọng . Từ ngày 5- 3-1975 quân ta bắt đầu tiến
hành tiến công tiêu diệt địch trên địa bàn Thừa Thiên - Huế đến ngày
21-3-1975 giải phóng tỉnh Thừa Thiên - Huế. Đến ngày 25-3 quân ta đã đập
tan toàn bộ quân đội Sài Gòn ở Trị Thiên- Huế. Sáng ngày 26- 3-1975 toàn bộ Thừa
Thiên - Huế giải phóng, chiến dịch Trị Thiên- Huế kết thúc thắng lợi.
Đồng thời với chiến dịch Tây Nguyên và chiến
dịch Trị-Thiên, từ đầu tháng 3-1975 Quân khu V đã mở chiến dịch Nam Ngãi
giành nhiều thắng lợi to lớn, tạo ra cơ hội thuận lợi cho ta phát huy thắng
lợi. Ngày 25-3-1975 Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương quyết định mở chiến dịch
Đà Nẵng với phương châm táo bạo, bất ngờ, chắc thắng và nhanh chóng phát triển
lực lượng vào phía Nam. Ngày 29-3-1975, quân ta làm chủ căn cứ quân sự liên hợp
Đà Nẵng, bán đảo Sơn Trà, giải phóng thành phố Đà Nẵng và toàn tỉnh Quảng Đà,
kết thúc thắng lợi chiến dịch Đà Nẵng chỉ sau 3 ngày tấn công thần tốc, mở ra
thời cơ thuận lợi để ta thực hiện trận quyết chiến chiến lược cuối cùng giải
phóng Sài Gòn, giải phóng hoàn toàn miền Nam.
Trên cơ sở đánh giá chính xác so sánh lực
lượng giữa ta và địch, phân tích sâu sắc cục diện chiến trường và nhận định khả
năng Mỹ không thể quay trở lại can thiệp miền Nam, ngày 01-4-1975 Bộ Chính trị
họp nhận định: “về chiến lược, về lực lượng quân sự, chính trị, ta đã có sức
mạnh áp đảo, địch đang đứng trước nguy cơ sụp đổ và diệt vong. Mỹ tỏ ra hoàn
toàn bất lực, dù có tăng viện cũng không thể cứu vãn tình thế của ngụy. Cuộc
chiến tranh cách mạng ở miền Nam không những đã bước vào giai đoạn phát triển
nhảy vọt, mà thời cơ để mở Tổng tiến công và nổi dậy tại Sài Gòn - Gia Định đã
chín muồi. Từ giờ phút này, trận quyết chiến chiến lược của quân và dân ta đã
bắt đầu”(38).
Bộ Chính trị quyết định: “nắm vững thời cơ
chiến lược, quyết tâm thực hiện tổng tiến công và nổi dậy, kết thúc chiến tranh
giải phóng trong thời gian ngắn nhất. Tốt hơn cả là bắt đầu và kết thúc trong
tháng 4 năm nay, không thể để chậm” (39). Bộ Chính trị cũng đề ra tư tưởng chỉ
đạo cho hành động là “thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng”; phải tấn công
ngay lúc địch hoang mang, suy sụp; phải tập trung lực lượng lớn hơn nữa vào
những mục tiêu chủ yếu trên từng hướng, trong từng lúc.
Trên đà thắng lợi, quân và dân ta liên
tiếp tiến công tiêu diệt địch, chỉ trong vòng 1 tháng (từ ngày 4- 3 -1975 đến
ngày 4-4-1975) quân và dân ta đã giải phóng 16 tỉnh, 6 thành phố, thị xã, tiêu
diệt gần nửa binh lực quân đội Việt Nam Cộng hòa trên toàn miền Nam. Từ ngày
9-4-1975, quân ta tấn công Xuân Lộc và tiếp đó giải phóng một loạt tỉnh, thành
phố, thị xã ven biển miền Trung. Từ ngày 14 đến ngày 29-4-1975 toàn bộ các đảo
thuộc quần đảo Trường Sa được giải phóng. Trước tình hình khẩn cấp, Mỹ buộc
phải vội vã tiến hành di tản người Mỹ ở Sài Gòn. Sau khi Xuân Lộc thất
thủ vào ngày 21-4-1975, ngày 23-4-1975 Mỹ ép Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu
phải từ chức, đưa Trần Văn Hương lên làm Tổng thống với hy vọng tìm kiếm một
giải pháp chính trị. Ngày 23-4-1975 tại trường Đại học New Orleans, Tổng thống
G. Ford phải nghẹn ngào tuyên bố: “Cuộc chiến tranh ở Việt Nam đã chấm dứt đối
với người Mỹ”. Tối ngày 25-4-1975, Nguyễn Văn Thiệu bí mật, lặng lẽ “không kèn
không trống” rời khỏi Sài Gòn trên chiếc máy bay C-118 do Mỹ bố trí đưa từ Thái
Lan sang sân bay Tân Sơn Nhất chở Thiệu và một số tay chân thân tín chạy sang
Đài Bắc với lý do sang viếng Tưởng Giới Thạch, sau đó Nguyễn Văn Thiệu sang
Vương quốc Anh, cuối cùng sang định cư tại Hoa Kỳ và chết ở đó vào năm
2001.
Tình hình chiến trường rất khẩn trương,
chớp thời cơ thuận lợi, so sánh lực lượng quân ta áp đảo tuyệt đối quân địch,
tinh thần quân địch đã hoang mang tan dã cực độ, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy
mùa Xuân 1975 của quân và dân ta đã diễn ra với tốc độ “một này bằng hai
mươi năm”. Chỉ trong vòng 55 ngày đêm, với sức mạnh áp đảo cả về quân sự và
chính trị, quân và dân ta thần tốc tiến công như vũ bão, kết hợp chặt chẽ tiến
công và nổi dậy đã giành được toàn thắng bằng các trận đánh then chốt, trận mở
đầu tấn công Buôn Ma Thuột giải phóng toàn bộ Tây Nguyên; trận thứ hai giải
phóng Huế, Đà Nẵng và quét sách quân địch ở ven biển miền Trung; trận kết thúc
là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử giải phóng Sài Gòn-Gia Định và những
tỉnh còn lại của Nam Bộ cùng các đảo và quần đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam.
Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam sau 21 năm đã giành
được thắng lợi trọn vẹn, non song đã thu về một mối.
3. Kết luận
Thắng
lợi vĩ đại của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 đã giải phóng hoàn
toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
của dân tộc Việt Nam đã kết thúc thắng lợi, chấm dứt hoàn toàn ách đô hộ của
chủ nghĩa thực dân đế quốc, mở ra kỷ nguyên mới cho dân tộc Việt Nam- kỷ nguyên
độc lập, thống nhất, tiến lên chủ nghĩa xã hội. Với đường lối cách mạng , đường
lối kháng chiến đúng đắn, sáng tạo, độc lập, tự chủ, Đảng ta đã lãnh đạo toàn
thể dân tộc Việt Nam đoàn kết một lòng, quyết tấm đánh thắng kẻ thù xâm
lược. Trên cơ sở nắm vững tình hình, tranh thủ thời cơ thuận lợi, hạ
quyết tâm chiến lược kịp thời, chính xác, Đảng ta đã chứng tỏ được sự đúng đắn,
sắc sảo, nhạy bén trong chỉ đạo chiến lược và nghệ thuật tạo thời cơ và nắm
chắc thời cơ, tạo nên những bước ngoặt chiến lược làm thay đổi cục diện có lợi
cho ta để đi đến giành được những thắng lợi mang tính quyết định, kết thúc cuộc
chiến tranh. Đó là nét đặc sắc nhất của chỉ đạo chiến lược trong cuộc kháng
chiến chống Mỹ cứu nước. Đánh giá về chỉ đạo chiến lược trong kháng chiến chống
Mỹ cứu nước, Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IV (1976) nêu rõ: “Đã nhận rõ
âm mưu của đế quốc Mỹ, đánh giá đúng lực lượng so sánh giữa ta và địch và
đề ra chủ trương chiến lược chính xác, sắc bén và linh hoạt để đánh bại
âm mưu và hành động chiến tranh của Mỹ-ngụy trong từng thời kỳ, đi đến
chiến thắng hoàn toàn chiến tranh xâm lược của chúng”(40).
Thắng lợi vĩ đại mùa Xuân
1975 đã thực hiện được ước nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh và nguyện vọng cháy
bỏng trong suốt 3o năm kể từ năm 1945 của toàn thể dân tộc Việt Nam là giải
phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, hoàn thành cách mạng dân
tộc dân chủ nhân dân, đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội. Quá trình đấu
tranh đầy hy sinh, gian khổ nhưng vô cùng oanh liệt của dân tộc ta đi đến giành
thắng lợi hoàn toàn và những bài học lịch sử quý giá của cuộc kháng chiến chống
Mỹ, cứu nước đến nay vẫn còn nguyên giá trị.
Chú thích:
(1) Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 21 tiến hành trong hai đợt: đợt 1
từ ngày 19-6-1973 đến ngày 6-7-1973; đợt 2 từ ngày 1-10 đến ngày 4-10-1973.
(2) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 34, 1973. Nxb. Chính
trị quốc gia, Hà Nội - 2004, tr.226.
(3) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 34, 1973. Sđd…tr.229
(4) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 34, 1973. Sđd…tr.229
(5) Nguyễn Thị Bình: “Gia đình bạn bè và đất nước” (Hồi ký). Nxb Tri thức -
2012, tr.152,153.
(6) Đảng Cộng sản Việt Nam,Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 34, 1973. Sđd…tr.232
(7) Đảng Cộng sản Việt Nam,Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 34, 1973. Sđd…tr.233
(8) Đại thắng mùa Xuân 1975, Sức mạnh của trí tuệ Việt Nam. Nxb. Chính trị quốc
gia, Hà Nội -2010. tr.339.
(9) Viện Sử học Sức mạnh chiến thắng của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Nxb. KHXH, 1985. tr.38
(10) Nguyễn Phú Đức Tại sao Mỹ thua ở Việt Nam. Nxb Lao Động, Hà Nội-2009, tr.
359.
(11) Ngày 24-10-1973 thành lập Quân đoàn 1 (Binh đoàn Quyết thắng) tại Ninh
Bình, do Thiếu tướng Lê Trọng Tấn làm Tư lệnh; Ngày 17-5-1974 Quân đoàn 2 thành
lập tại Quảng Trị, do Thiếu tướng Hoàng Văn Thái làm Tư lệnh; Ngày 20-7-1974
Quân đoàn 4 (Binh đoàn Cửu Long) thành lập tại căn cứ ở miền Đông Nam Bộ, do
Thiếu tướng Hoàng Cầm làm Tư lệnh; Ngày 27-3-1975 Quân đoàn 3 thành lập ở Tây
nguyên, do Thiếu tướng Vũ Lăng làm Tư lệnh. Ngoài 4 Quân đoàn trên còn thành
lập Binh đoàn 232 tương đương cấp Quân đoàn.
(12) Theo Nguyễn Phú Đức thì “không phải kết quả của vụ bê bối Watergate khiến
Richard Nixon từ chức tháng Tám 1974”. Trong sách: Nguyễn Phú Đức Tại sao Mỹ
thua ở Việt Nam .Nxb Lao Động, Hà Nội-2009, tr. 369
(13) Nguyễn Phú Đức Tại sao Mỹ thua ở Việt Nam. Nxb Lao Động, Hà Nội-2009,
tr. 369
(14) Dẫn theo Cuộc chiến tranh xâm lược thực dân mới của đế quốc Mỹ ở Việt Nam.
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Hà Nội -1991. tr.268.
(15) Nguyễn Phú Đức Tại sao Mỹ thua ở Việt Nam….Sđd, tr.360
(16) Tháng 9-1950 Mỹ cử phái bộ cố vấn quân sự (MAAG) đến Sài Gòn. Ngày
8-2-1962 cơ quan chỉ huy toàn bộ lực lượng quân sự Mỹ tại Việt Nam ( MACV)
thành lập. Đến năm 1964 MACV là cơ quan độc lập, đến ngày 15-5-1964 MAAG
sáp nhập với MACV thành cơ quan chỉ huy thống nhất về viện trợ, cố vấn và chỉ
huy quân sự cao nhát của Mỹ tại miền Nam Việt Nam. Sau hiệp định Paris, ngày
29-3-1973 MACV giải tán. Trên thực tế các cố vấn quân sự Mỹ ở Sài Gòn điều phối
các hoạt động quân sự đến ngày 30-4-1975 dưới danh nghĩa Văn phòng tùy viên
quân sự Mỹ (DAO).
(17) Gabriel Kolko Giải phẫu một cuộc chiến tranh Việt Nam, Mỹ và kinh nghiệm
lịch sử hiện đại (người dịch: Nguyễn Tấn Cưu). Nxb Quân đội nhân dân, Hà
Nội-2003. tr. 627
(18) Đại tướng Văn Tiến Dũng Đại thắng Mùa Xuân. Nxb Quân đội nhân dân, Hà
Nội-1985, tr.25
(19) Gabriel Kolko Giải phẫu một cuộc chiến tranh… Sđd. tr. 626.
(20) Đồng chí Lê Duẩn là Bí thư thứ nhất Đảng Lao động Việt Nam từ năm
1960-1976 và là Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam từ
năm 1976-1986.
(21) Đảng Cộng sản Việt Nam,Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 35, 1974, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội-2004, tr. 172
(22) Đảng Cộng sản Việt Nam,Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 35, 1974. Sđd…tr.177.
(23) Đảng Cộng sản Việt Nam,Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 35, 1974. Sđd…, tr.178,
179
(24) Dẫn theo Ngoại giao Việt Nam 1945-2000. Nxb Chính trị Quốc gia. Hà
Nội-2005. tr.276.
(25) Bài phát biểu của Nguyễn Văn Thiệu ngày 10-01-1975, Phông PTTg, hồ sơ số
3760. Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II. Dẫn theo: Bộ Nội vụ: Về Đại thắng mùa Xuân
năm 1975 qua tài liệu của chính quyền Sài Gòn . Nxb Chính trị Quốc gia. Hà
Nội-2010. Tr.165, 166.
(26) Dẫn theo Cuộc chiến tranh xâm lược thực dân mới của đế quốc Mỹ ở Việt Nam.
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Hà Nội-1991. tr.273.
(27) Thượng Đức là quận lỵ đầu tiên ở miền Nam được giải phóng hoàn toàn
sau Hiệp định Paris mà địch không chiếm lại được.
(28) Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Tổng hành dinh trong mùa Xuân toàn thắng. Hồi
ức- Phạm Chí Nhân thể hiện. Nxb Chính trị quốc gia, Hà nội-2000, tr142.
(29) Với chiến thắng Phước Long quân và dân ta đã giải phóng thị xã Phước Long
và toàn tỉnh Phước Long. Đây là tỉnh đầu tiên ở miền Nam được giải phóng
(30) Dẫn theo Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1945-1975 thắng lợi và bài học.Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội-2000,tr.168.
(31) Đảng Cộng sản Việt Nam,Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 35, 1974. Sđd…, tr. 179
(32) Đại tướng Hoàng Văn Thái, Những năm tháng quyết định. Hồi ký. Nxb Quân đội
nhân dân, Hà Nội-1985, tr.162.
(33) Đại tướng Hoàng Văn Thái, Những năm tháng quyết định. Sđd… tr.167.
(34) Đảng Cộng sản Việt Nam,Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 35, 1974. Sđd…, tr. 196
(35) Theo Nguyễn Phú Đức ngày bắt đầu đánh Buôn Ma Thuột là ngày 9-3
(theo Nguyễn Phú Đức Tại sao Mỹ thua ở Việt Nam….Sđd, tr.369). Tuy nhiên, chính
xác là ngày 10-3-1975, Quân giải phóng tấn công thành phố Buôn Ma Thuột mở màn
chiến dịch Tây Nguyên.
(36) Dẫn theo Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954-1975. Những sự kện quân
sự. Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội-1980,tr. 289.
(37) Dẫn theo Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, Tập VIII Toàn
thắng. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội-2013, tr.301.
(38) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập. Tập 36, 1975. Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội – 2004. tr.95
(39) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập.Tập 36, 1975. Sđd….tr.95-96.
(40) Đảng Cộng sản Việt Nam, Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương
Đảng tại Đại hội Đảng lần thứ IV. Nxb Sự Thật, Hà Nội -1977, tr.26-27.