Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước: sứ mệnh và trách nhiệm của Đảng trong bối cảnh mới
Khát vọng phát triển đất nước là nguồn lực nội sinh trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, Kể từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, khát vọng phát triển đất nước luôn được Đảng phát huy trở thành sức mạnh tinh thần to lớn cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước. Trước những diễn biến phức tạp, đan xen khó lường của tình hình quốc tế và thực tiễn yêu cầu phát triển đất nước, Đảng ta cần không ngừng nâng cao vai trò khơi dậy khát vọng phát triển đất nước thông qua tổng kết thực tiễn, làm mới tư duy lý luận và tiếp thu kinh nghiệm quốc tế và bám sát thực tiễn đề ra những giá trị khát vọng phù hợp với nhân dân và xu thế trên thế giới.
Từ khoá: Bối cảnh mới, cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn, khát vọng phát triển đất nước, Đảng cộng sản Việt Nam
1. Đặt vấn đề
Trong tiến trình lịch sử của dân tộc Việt Nam, khát vọng phát triển đất nước luôn là nguồn lực nội sinh, hun đúc tinh thần độc lập, tự chủ và tự cường dân tộc. Qua mỗi thời kỳ lịch sử, khát vọng ấy được chuyển hóa thành những mục tiêu chiến lược phù hợp để thống nhất ý chí, hành động và tạo nên sức mạnh đại đoàn kết toàn dân. Kể từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, khát vọng phát triển đất nước luôn được Đảng phát huy trở thành sức mạnh tinh thần to lớn cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước.
Trong bối cảnh hiện nay, trước những biến động nhanh chóng, phức tạp của tình hình thế giới và yêu cầu mới đặt ra từ thực tiễn của đất nước, việc khơi dậy khát vọng phát triển đất nước đòi hỏi Đảng ta phải phát huy hơn nữa vai trò để chuyển hóa khát vọng phát triển đất nước thành động lực thực hiện thắng lợi các mục tiêu chiến lược quốc gia. Bài viết này góp phần làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn, những yêu cầu từ bối cảnh mới đặt ra đối với nâng cao vai trò và trách nhiệm của Đảng ta trong khơi dậy khát vọng phát triển đất nước trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
2. Cơ sở lý luận và thực tiễn khơi dậy khát vọng phát triển đất nước
2.1. Cơ sở lý luận khát vọng phát triển đất nước
2.1.1. Khái niệm
Khát vọng là một khái niệm được sử dụng phổ biến trong đời sống xã hội và được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau. Ở góc độ cá nhân con người, khát vọng được hiểu để chỉ mong muốn đi tới đích đặt ra, con người muốn đạt được mục đích của mình, trước tiên phải có khát vọng. Từ điển Tiếng Việt giải thích, khát vọng là “mong muốn, đòi hỏi với một sự thôi thúc mạnh mẽ” (1).
Ở góc độ phổ quát, khát vọng là một trạng thái tinh thần, phản ánh sự ước ao biến mục tiê thành hiện thực. Tác giả Keith. D. Harrell cho rằng: khát vọng là nguồn động lực có sức mạnh vô biên trong mỗi con người, được thực hiện thông qua những hoạt động không ngơi nghỉ để con người không bao giờ từ bỏ ước mơ, không bao giờ khuất phục trước hoàn cảnh (2).
Có thể hiểu khát vọng phát triển đất nước là sự mong muốn mạnh mẽ, thống nhất ý chí, niềm tin thúc đẩy hành động của mỗi chủ thể trong xã hội để xây dựng, phát triển đất nước.
2.1.2. Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam về khát vọng phát triển đất nước
Chủ nghĩa Mác – Lênin không đề cập trực tiếp quan điểm khát vọng phát triển đất nước nhưng được thể hiện trong hệ thống lý luận về sự phát triển xã hội, vai trò của con người và mục tiêu của cách mạng. Từ hệ thống lý luận này, Chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ ra khát vọng phát triển đất nước gắn với kết hợp chặt chẽ giữa điều kiện vật chất và ý chí vươn lên trong công cuộc đấu tranh giải phóng con người. Mác khẳng định: “ngay trong tiến trình phát triển của mình, con người trước hết cần phải tạo ra những điều kiện vật chất của một xã hội mới, và không một nỗ lực mạnh mẽ nào của tư tưởng hay ý chí lại có thể giải thoát họ khỏi số phận ấy” (3). Khát vọng phát triển đất nước không phải là ý chí của một cá nhân hay một nhóm người mà là khát vọng chung của toàn xã hội, Mác nhấn mạnh: “Hoạt động lịch sử càng lớn lao thì do đó, quần chúng, mà hoạt động lịch sử đó là sự nghiệp của mình, cũng sẽ lớn lên theo” (4). Kế thừa và phát triển của học thuyết Mác, Lênin đã nhấn mạnh vai trò của ý thức xã hội, chỉ ra khát vọng phát triển đất nước không thể là ý chí của một lực lượng lãnh đạo mà phải trở thành khát vọng chung của toàn xã hội, được quần chúng nhận thức, tích cực tham gia. Lênin nhấn mạnh: “một nước mạnh là nhờ sự giác ngộ của quần chúng. Nước mạnh là khi nào quần chúng biết rõ tất cả mọi cái, quần chúng có thể phán đoán được mọi cái và đi vào hành động một cách có ý thức” (5).
Quan điểm của Hồ Chí Minh về khát vọng phát triển của đất nước gắn liền với cuộc đời hoạt động cách mạng của Người. Với lòng yêu nước nồng nàn, khát vọng của Hồ Chí Minh là tìm thấy con đường cứu nước, giành độc lập cho dân tộc và đem lại tự do cho đồng bào: “Tự do cho đồng bao tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu”(6). Khát vọng ấy còn gắn liền với việc giải phóng con người khỏi áp bức bóc lột, nghèo đói, lạc hậu, hướng tới nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân. Trong suốt cuộc đời của Người chỉ có mong muốn: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bao ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành” (7). Người căn dặn trước lúc đi xa: “Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”(8). Có thể nói, khát vọng phát triển đất nước trong tư tưởng Hồ Chí Minh mang tầm vóc của thời đại, trở thành nền tảng tư tưởng quan trọng để Đảng tiếp tục kế thừa, phát triển và cụ thể hoá trong các đường lối, chiến lược phát triển đất nước.
Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về khát vọng phát triển đất nước được hình thành, kế thừa và phát triển trong suốt quá trình lãnh đạo nhân dân ta. Khát vọng ấy được thúc đẩy mạnh mẽ sau khi thống nhất đất nước, nhất là từ khi Đảng ta tiến hành công cuộc Đổi mới đất nước. Với tư duy đổi mới để vươn lên thoát khỏi tình trạng trì trệ của nền kinh tế đất nước, Đại hội lần thứ VI của Đảng đã xác định: “xây dựng những tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa” (9). Trong bối cảnh sự tan rã, sụp đổ của hệ thống chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu, cùng với sự bao vây cấm vận của Mỹ, đất nước ta đứng trước muôn vàn khó khăn, thách thức nhưng với bản lĩnh và khát vọng phát triển đất nước, Đại hội lần thứ VII đã xác định mục tiêu: “vượt qua những khó khăn găy gắt trước mắt, tăng cường ổn định chính trị, đưa đất nước cơ bản thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội” (10). Không chỉ dừng lại ở vượt qua khó khăn, thách thức và phát triển kinh tế, khát vọng ấy phát triển đất nước còn bao hàm các giá trị xã hội nhân văn sâu sắc. Đại hội lần thứ VIII đã đề ra mục tiêu: “đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội” (11). Với khát vọng thu hẹp khoảng cách phát triển với các nước trong khu vực và trên thế giới, quyết tâm nâng cao vị thế quốc gia trong tiến trình hội nhập quốc tế, Đại hội IX xác định mục tiêu: “đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân” (12). Với, khát vọng phát triển đất nước, Đảng ta đã chuyển từ mục tiêu thoát khỏi tình trạng kém phát triển sang mục tiêu cao hơn tại Đại hội X, được xác định đó là: “sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng của nước đang phát triển có thu nhập thấp” (13). Khát vọng phát triển đất nước một tầm cao mới, không những về chất lượng, đảm bảo tốc độ, hiệu quả ổn định mà còn đảm bảo hài hoà giữa các yếu tố kinh tế, môi trường và xã hội đến Đại hội XI đã xác định mục tiêu là: “phát triển kinh tế nhanh, bền vững” (14). Tiếp nối mục tiêu thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhưng nhưng khát vọng vươn lên trình độ phát triển cao hơn ở Đại hội XII đã xác định: “sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân”(15). Điều đó cho thấy khát vọng của Đảng ta vừa nâng cao trình độ phát triển kinh tế với đảm bảo tiến bộ xã hội, hướng tới một quốc gia công nghiệp hiện đại, phát triển bền vững và vì con người.
Đặc biệt, Đại hội XIII đã khẳng định việc khơi dậy khát vọng phát triển đất nước là một trong những chủ trương của Đảng trên con đường phát trển đất nước Việt Nam, chủ đề của đại hội nêu rõ: “… khơi dậy khát vọng phát triển đất nước, phát huy ý chí, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại; tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa” (16).
Trong bài trao đổi một số nội dung về kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc với các học viên Lớp bồi dưỡng, cập nhật kiến thức, kỹ năng đối với cán bộ quy hoạch Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV (lớp thứ 3), Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam nêu rõ: “khơi dậy mạnh mẽ hào khí dân tộc, tinh thần tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc, khát vọng phát triển đất nước; kết hợp chặt chẽ sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại” (17).
Quan điểm khơi dậy khát vọng phát triển đất nước được cụ thể hoá thành những nội dung cụ thể và được thể chế hoá thành một trong những quan điểm chỉ đạo phát triển đất nước hiện nay. Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng đã khẳng định: “Khơi dậy mạnh mẽ truyền thống yêu nước, khát vọng phát triển, tinh thần đoàn kết, ý chí tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc; phát huy sức mạnh văn hoá, con người thành nguồn lực nội sinh và động lực mạnh mẽ cho sự phát triển” (18).
2.2. Cơ sở thực tiễn khơi dậy khát vọng phát triển đất nước
2.2.1. Thực tiễn của một số quốc gia trên thế giới
Trên thế giới, khát vọng phát triển đất nước luôn gắn với tầm nhìn thay đổi của một quốc gia để trở thành một dân tộc hùng cường của các nước.
- Nhật Bản:
Với khát vọng và tầm nhìn chiến lược nhằm thoát khỏi nguy cơ trở thành thuộc địa của phương Tây, Triều đình Minh Trị của Nhật Bản đưa ra khẩu hiệu “Phú quốc cường binh (fukoku kyohei) và thực hiện cải cách mạnh mẽ để thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá làm cho nền kinh tế Nhật Bản phát triển mạnh mẽ trong 30 năm cuối Thế kỷ XIX. Trong giai đoạn sau chiến tranh thế giới thứ hai (năm 1945), cũng chưa đầy 30 năm, Nhật Bản từ một nước nghèo về tài nguyên, kinh tế bị tàn phá, kiệt quệ đã vươn lên trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, sau Hoa Kỳ vào năm 1968.
- Hàn Quốc:
Để khơi dậy và thực hiện khát vọng phát triển đất nước, chính quyền và nhân dân Hàn Quốc đã thực hiện chính sách “thắt lung buộc bụng” để thực hiện khát vọng mục tiêu trong vòng 10 năm tạo ra nền kinh tế hàng đầu khu vực Đông Á và trở thành cường quốc kinh tế trên thế giới sau 20 năm. Nhờ đó, chỉ sau 32 năm, GDP bình quân đầu người của Hàn Quốc đã tăng 100 lần từ 100 USD (1963) lên 10.000 USD (1995), với sự ra đời của các tập đoàn kinh tế lớn có thương hiệu cạnh tranh toàn cầu như Samsung, Deawoo, Hyundai, LG…
- Singapore: Là đất nước có diện tích không lớn nhưng khát vọng phát triển đất nước trở thành động lực để xây dựng thành công thể chế kinh tế hiện đại, trở hành “con hổ Châu Á”, trung tâm tài chính toàn cầu, với thu nhập bình quân đầu người vào hàng cao nhất thế giới.
- Các Tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất (UAE):
Các nhà lãnh đạo UAE luôn hiểu rõ nếu quốc gia của mình tụt hậu so với quốc gia khác thì UAE sẽ bị bỏ lại phía sau. Khi dầu mỏ được phát hiện vào năm 1971 ở Dubai, UAE bắt đầu phát triển mạnh nhưng với tầm nhìn thay đổi quốc gia, UAE đã thực hiện những chiến lược phát triển không dựa vào dầu mỏ từ rất sớm. Hiện nay, chỉ có 6% thu nhập của Dubai từ dầu mỏ và khí đốt, phần còn lại chủ yếu từ các ngành dịch vụ du lịch, hàng không, bất động sản và xây dựng, logictis. Với dân số khoảng 2 triệu người trên một diện tích 4000 km2 nhưng chỉ trong vòng 20 năm, Dubai đã có những bước phát triển thần kỳ, trở thành thành phố toàn cầu, trung tâm kinh tế thế giới với các trung tâm tài chính, công nghệ thông tin, du lịch, cảng biển, bất động sản và những các công trình hiện đại, đồ sộ nhất thế giới, như The Palm – quần đảo nhân tạo lớn và đẹp nhất thế giới, Tháp Burj Khalifa cao nhất thế giới.
Có thể nói, từ thực tiễn khơi dậy khát vọng phát triển đất nước trên thế giới cho thấy nếu không có khát vọng gắn với tầm nhìn thay đổi quốc gia, các nước trên thế giới chắc chắn không thể có được những thành tựu như ngày hôm nay.
2.2.2. Thực tiễn trong lịch sử dân tộc
Trong lịch sử dân tộc, khát vọng phát triển đất nước đã được hình thành, bồi đắp từ rất sớm trong đời sống tinh thần và quá trình dựng nước, giữ nước của dân tộc.
Ngay từ trong cội nguồn lịch sử và văn hoá dân tộc, khát vọng phát triển đất nước được kết tinh thành tinh thần đoàn kết, cố kết cộng đồng. Nhân dân Việt Nam luôn ý thức rõ cùng nguồn cội, sinh ra trong bọc rừng, là con Rồng cháu Tiên.
Trải qua hơn một nghìn năm Bắc thuộc, tinh thần đoàn kết và cố kết cộng đồng dân tộc trở thành bức thành đồng vững chắc để dân tộc Việt Nam thực hiện khát vọng vươn lên, kiên cường chống lại ách đô hộ kéo dài và những mọi âm mưu đồng hóa để giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc và ý chí quyết tâm giành lại độc lập, tự chủ của dân tộc.
Bước sang thời kỳ chế độ phong kiến xây dựng nền độc lập, tự chủ; khát vọng xây dựng đất nước được phát huy qua các triều đại để lại những chiến công vang dội và những thành tựu văn minh, văn hiến mang đậm bản sắc riêng của dân tộc ta. Chẳng hạn như dưới triều nhà Lý, khát vọng phát triển đất nước thể hiện rõ nhất qua việc dời đô từ Hoa Lư về thành Đại La với mong muốn đặt kinh đô cho muôn đời và sự phát triển bền vững. Dưới thời Trần, tinh thần “Sát Thát” và hào khí “Đông A” được khơi dậy một cách cao độ cổ vũ ý chí chiến đấu của nhân dân và làm nên ba lần chiến thắng quân Nguyên – Mông xâm lược, đồng thời không ngủ quyên trên chiến thắng hướng khát vọng về “Thái bình nên gắng sức, non nước ấy ngàn thu”. Đến triều Hậu Lê, khát vọng về “Muôn thuở nền thái bình vững chắc” được thể hiện rõ nét trong Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi như một bản Tuyên ngôn độc lập của đất nước sau khi chiến thắng giặc Minh xâm lược.
Trong thời kỳ thực dân pháp xâm lược nước ta, khát vọng giành lại độc lập trở thành ngọn cờ nêu cao cho cả dân tộc và quyết tâm của biết bao thế hệ con người Việt Nam qua các cuộc khởi nghĩa, phong trào yêu nước như: Hoàng Hoa Thám, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh,…
Kể từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, Đảng không có mục đích tự thân mà chỉ có một mục đích duy nhất giành lại độc lập cho dân tộc, đem lại hoà bình, thống nhất và tự do, hạnh phúc của nhân dân. Chính vì vậy, khát vọng phát triển đất nước luôn được Đảng phát huy trở thành sức mạnh tinh thần to lớn cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước. Trải qua hơn 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quy mô kinh tế ngày càng mở rộng. Năm 2024, GDP của Việt Nam tính theo giá hiện hành ước đạt 11.511,9 nghìn tỉ đồng, tương đương 476,3 tỉ USD, dự báo đứng thứ 33 thế giới, năm 2025 ước đạt 510 tỉ USD, đứng thứ 32 thế giới và thứ 4 trong khu vực ASEAN; GDP (tính theo PPP) năm 2024 đạt khoảng 1.559 tỉ USD, xếp thứ 3 khu vực Đông Nam Á, thứ 25 thế giới; GDP bình quân đầu người theo giá hiện hành năm 2024 ước đạt 114 triệu đồng/người, tương đương 4.700 USD, tăng 377 USD so với năm 20233 ; năm 2025 ước đạt 5.000 USD. Việt Nam đã ra khỏi nhóm nước đang phát triển có thu nhập thấp, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình (19). Kết quả của công cuộc đổi mới là bài học về khơi dậy khát vọng phát triển, xây dựng đất nước ta phồn vinh, hạnh phúc.
3. Vai trò và trách nhiệm của Đảng khơi dậy khát vọng phát triển đất nước trong bối cảnh mới
3.1. Bối cảnh mới và yêu cầu khơi dậy khát vọng phát triển đất nước
3.1.1. Bối cảnh quốc tế
Trong những năm gần đây, thế giới chuyển biến mạnh sang xu hướng đa cực, đa trung tâm, với sự gia tăng cạnh tranh chiến lược giữa các cường quốc ngày càng găy gắt và những diễn biến nhanh, phức tạp khó lường. Xu thế vừa hợp tác, vừa cạnh tranh vẫn là xu thế phổ biến với những hình thức hợp tác và liên kết kinh tế quốc tế đan xen, nhưng các cuộc xung đột trên thế giới và chiến tranh thương mại ngày càng lan rộng, khó kiểm soát đã và đang tác động đến tình hình an ninh truyền thống và phi truyền thống đến các nước trên thế giới, trong đó có nước ta. Đặc biệt là, các yếu tố như tri thức, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chất lượng nguồn nhân lực ngày càng trở thành động lực then chốt của phát triển trở thành lưới phòng thủ vững chắc trên con đường bảo vệ và xây dựng đất nước. Bối cảnh đó đặt ra cho Việt Nam cần phải phát triển nhanh, mạnh hơn nữa để tranh thủ cơ hội tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị toàn cầu, tiếp cận khoa học – công nghệ hiện đại và mở rộng thị trường và nâng cao chất lượng, hiệu quả của sự phát triển và mang tính bền vững. Do đó, việc khơi dậy khát vọng phát triển đất nước của Đảng ta không chỉ mang ý nghĩa nội tại mà còn gắn với yêu cầu hội nhập và thích ứng với bối cảnh quốc tế.
3.1.2. Bối cảnh trong nước
Mặc dù đã đạt được những thành tựu to lớn trong phát triển kinh tế xã hội trong những năm qua nhưng đất nước cũng đang đứng sự phát triển thiếu bền vững đó là nguy cơ tụt hậu và già hoá dân số nhanh. Trình độ công nghệ, năng suất lao động, chất lượng nguồn nhân lực so với các nước trong khu vực và trên thế giới vẫn còn khoảng cách khá rộng. Bên cạnh đó, những hạn chế trong thể chế, năng lực quản trị và khả năng đổi mới sáng tạo quốc gia đang là những rào cản, ảnh hưởng đến thực hiện khát vọng phát triển đất nước. Nếu không có những bước đi mang tính đột phá, đất nước có thể đối mặt với nguy cơ rơi vào “bẫy thu nhập trung bình”, “chưa giàu đã già” và làm chậm lại quá trình phát triển, ảnh hưởng đến mục tiêu chiến lược 100 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng. Do đó, yêu cầu phát triển đất nước đặt ra cho Đảng ta ngày càng cấp thiết và toàn diện hơn. Chính vì vậy, việc khơi dậy khát vọng phát triển đất nước chính là phát huy sức mạnh tinh thần và động lực nội sinh chuyển khát vọng thành hiện thực đối với sự phát triển bền vững đất nước.
3.2. Vai trò và trách nhiệm của Đảng trong việc khơi dậy khát vọng phát triển đất nước
3.2.1. Vai trò của Đảng khơi dậy khát vọng phát triển đất nước
Bổ sung và hoàn thiện đường lối, chính sách là một trong những sứ mệnh quan trọng của Đảng trong quá trình thực hiện khát vọng phát triển đất nước để thích ứng linh hoạt với những biến động của thực tiễn trong nước và quốc tế hiện nay. Do đó, Đảng không ngừng nâng cao vai trò trong việc tổng kết thực tiễn, nghiên cứu và làm mới tư duy lý luận, tiếp thu kinh nghiệm quốc tế để đề ra những khát vọng phù hợp với nhân dân và xu thế trên thế giới.
Nâng tầm hệ giá trị phát triển đất nước cho phù hợp với bối cảnh quốc tế và yêu cầu đặt ra từ thực tiễn của đất nước. Đảng ta phải làm cho hệ giá trị khát vọng phát triển đất nước được lan tỏa, trở thành động lực tinh thần mạnh mẽ của toàn xã hội và tạo sự kết nối, ủng hộ, giúp đỡ của bạn bè quốc tế. Đồng thời, là trung tâm chính trị trong việc kiến tạo, định hình hệ giá trị phát triển, Đảng ta cần đổi mới mạnh mẽ mô hình tăng trưởng kinh tế để tạo ra nền kinh tế phát triển nhanh dựa trên năng suất cao, hiệu quả, tự chủ và khả năng cạnh tranh toàn cầu, phát triển xanh đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững.
Là hạt nhân chính trị để đoàn kết toàn xã hội, Đảng cần xây dựng hệ giá trị chuẩn mực xã hội để thúc đẩy thực hiện khát vọng phát triển đất nước. Đảng ta cần phát huy vai trò trong việc khơi dậy tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, đổi mới sáng tạo và trách nhiệm xã hội trong nhân dân. Các hệ giá trị chuẩn mực xã hội phải gắn với thượng tôn pháp luật, bình đẳng trước pháp luật và ý thức công dân, đồng thời nhấn mạnh các giá trị về công bằng, bình đẳng cơ hội, ý thức trách nhiệm với cộng đồng và bảo vệ môi trường, sử dụng tài nguyên tiết kiệm, lối sống xanh, tiêu dùng bền vững. Bên cạnh đó, phát huy vai trò của Đảng trong việc giữ gìn và bổ sung hệ giá trị đạo đức, văn hoá truyền của dân tộc để tạo nên “kháng thể” trước những tác động từ bên ngoài. Việc khơi dậy và phát huy những giá trị này không chỉ tạo động lực tinh thần để Đảng ta cổ vũ, động viên toàn xã hội và huy động lực lượng thực hiện khát vọng phát triển bền vững đất nước.
Phát huy vai trò là hạt nhân lãnh đạo, Đảng ta cần đổi mới và nâng cao phương thức lãnh đạo để thể chế hóa khát vọng đất nước. Thông qua nâng cao phương thức lãnh đạo của Đảng, Đảng lãnh đạo Nhà nước xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách phù hợp với mục tiêu phát triển đã đề ra. Điều này bảo đảm cho khát vọng phát triển được “hiện thực hóa” thành các công cụ quản lý và điều hành cụ thể, tạo hành lang pháp lý và môi trường thuận lợi cho các chủ thể kinh tế – xã hội tham gia vào quá trình phát triển đất nước.
3.2.2. Trách nhiệm của Đảng khơi dậy khát vọng phát triển đất nước
Nâng cao hiệu quả tuyên truyền khát vọng phát triển đất nước theo hướng đối thoại hiệu quả để tạo sự đồng thuận và nhân dân. Trước những yêu cầu thực tiễn phát triển ngày càng cao của đất nước đòi hỏi trách nhiệm của Đảng ta trong việc truyên truyền hiệu quả các chủ trương đường lối, chính sách để thực hiện biến khát vọng thành hiện thực. Do đó, Đảng ta phải đổi mới phương thức tuyên truyền theo hướng đối thoại một cách thực chất và có hiệu quả, không phải là truyền đạt một chiều mà là quá trình tương tác hai chiều, nhấn mạnh đến yếu tố lắng nghe và phản hồi nhằm tạo sự đồng thuận xã hội cơ sở hiểu biết và tin cậy chính trị cao. Điều đó, đòi hỏi Đảng ta trong quá trình lãnh đạo phát triển đất nước không chỉ cung cấp thông tin mà còn giải thích, làm rõ bối cảnh, nguyên nhân, hệ quả và tiếp nhận các nguồn thông tin phản hồi để điều chỉnh nội dung truyền thông, tránh áp đặt một chiều, đảm bảo sự tôn trọng khác biệt trong cách nhìn nhận và từng bước tạo sự thống nhất về nhận thức, tạo điều kiện để người dân, doanh nghiệp, tổ chức xã hội tham gia góp ý, phản biện chính sách; khai thác nền tảng mạng xã hội, nền tảng truyền thông số để trao đổi trực tiếp, phản hồi nhanh, tạo không gian thảo luận mở, nhưng vẫn cần kiểm soát thông tin sai lệch và định hướng dư luận. Qua đó đáp ứng mục tiêu là giúp nhân dân hiểu đúng, hiểu sâu khát vọng phát triển đất nước.
Công tác tư tưởng chính trị của Đảng cần đi trước một bước để nắm bắt và đáp ứng nguyện vọng chính đáng của nhân dân trong thực tiễn lãnh đạo phát triển đất nước. Việc khơi dậy khát vọng phát triển đất nước là một công tác tư tưởng chính trị quan trọng đòi hỏi trách nhiệm của Đảng phải kịp thời dẫn dắt, định hướng dư luận xã hội, đồng thời chủ động dự báo và giải đáp trước những vấn đề thực tiễn đặt của đất nước. Qua đó, Đảng củng cố sự thống nhất về tư tưởng, tạo sự đồng thuận xã hội để thống nhất ý chí và hành động trong phát triển đất nước. Chính sự thống nhất này là điều kiện nền tảng để chuyển hóa khát vọng thành hiện thực trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước hiện nay.
Bồi dưỡng khát vọng phát triển đất nước cho thế hệ trẻ. Thế hệ trẻ là là lực lượng kế thừa và cũng là chủ thể trực tiếp hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước trong hiện tại cũng như trong tương lai. Vì vậy, Đảng phải có trách nhiệm bồi dưỡng lý tưởng cách mạng, xây dựng hệ giá trị và niềm tin cho thế hệ trẻ một cách có hiệu quả; đặc biệt là tinh thần yêu nước, ý chí tự lực tự cường, ý thức về trách nhiệm đối với đất nước và vươn lên để làm giàu cho bản thân, gia đình và xã hội; từ đó xây dựng một quốc gia phát triển, phồn vinh, thịnh vượng và hạnh phúc. Do đó, Đảng cần hoàn thiện các chủ trương, chính sách về thanh niên nhằm tạo môi trường thuận lợi cho thanh niên phát triển toàn diện, nhất là nâng cao chất lượng giáo dục – đào tạo, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, hỗ trợ khởi nghiệp và tạo ra sự bình đẳng về cơ hội phát triển để thanh niên cả nước tham gia vào các lĩnh vực kinh tế – xã hội. Thông qua đó, khát vọng phát triển được chuyển hóa thành năng lực thực tiễn và đóng góp cụ thể cho sự phát triển của đất nước.
Các tổ chức Đảng cần phải nâng cao hơn nữa đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, Hiện nay, với âm mưu diễn biến hoà bình và khuếch đại thông tin xuyên tạc trên các nền tảng mạng xã hội, các thế lực thù địch tăng cường phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc, làm giảm sút uy tín của Đảng, làm mất đi sức mạnh nội sinh thực hiện khát vọng phát triển đất nước. Do đó, các tổ chức Đảng cần chủ động xác định, đối phó và bác bỏ những luận điệu sai trái của các thế lực thù địch bằng những lập luận có căn cứ và bằng chứng xác đáng trước các âm mưu của các thế lực thù địch.
Thực tiễn các nước trên thế giới và trong lịch sử của nước ta đã chỉ ra sự thành công trong khơi dậy khát vọng phát triển đất nước khi không còn chủ nghĩa vị kỷ cá nhân, tham nhũng. Điều đó đặt ra trách nhiệm cho Đảng ta ngăn ngừa, kiểm soát và từng bước đẩy lùi chủ nghĩa cá nhân vị kỷ, tham nhũng. Đây chính là nền tảng liêm chính cho khát vọng phát triển đất nước. Vì vậy, Đảng ta phải làm trong sạch bộ máy, làm cho hệ thống thể chế chặt chẽ, minh bạch; kiểm soát quyền lực, không để “kẽ hở thể chế” tạo không gian cho tham nhũng và lợi ích nhóm trong quá trình thực hiện khát vọng phát triển đất nước.
Kết luận
Có thể nói, khát vọng phát triển không phải là khái niệm mơ hồ, giáo điều mà là động lực của mỗi cá nhân, tổ chức, cộng đồng, quốc gia, dân tộc. Khát vọng phát triển đất nước trở thành “gen di truyền nhân văn’ của dân tộc Việt Nam, được trao truyền từ thế hệ trước cho thế hệ sau và trở thành sức mạnh nội sinh trong thực tiễn lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc. Khát vọng ấy được Đảng ta nhận thức sâu sắc và chuyển hoá thành điểm tựa, sức mạnh tinh thần để biến khát vọng thành hiện thực trên con đường xây dựng đất nước. Trong bối cảnh mới, mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân nêu cao hơn nữa lòng yêu nước cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, góp phần xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc và bền vững.
Chú thích:
(1) Viện Ngôn ngữ học (2006), Từ điển tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng, tr. 493.
(2) Keith D. Harrell (2015), Cám ơn cuộc sống, Nxb. Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh.
(3) C. Mác và Ph. Ăng-ghen (1995),T oàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập 4, tr. 424.
(4) C. Mác và Ph. Ăng-ghen (1995), Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập 2, tr. 123
(5) V.I.Lênin (1979), Toàn tập, NxbTiến bộ, Mátxcơva.
(6) Hồ Chí Minh Biên niên tiểu sử, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2016, tr.86.
(7) Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, tập 15, tr, 131, 617, 627.
(8) Báo Điện tử Chính phủ (2014), Toàn văn Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, https://baochinhphu.vn/toan-van-di-chuc-cua-chu-tich-ho-chi-minh-102169104.htm, truy cập ngày 16/4/2026.
(9) Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội , tập 47, tr.376.
(10) Đảng Cộng sản Việt Nam (2007), Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 51, tr.40.
(11) Đảng Cộng sản Việt Nam (2015), Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 55, tr.307.
(12) Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.24.
(13) Cổng thông tin điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam (2015), Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006 - 2010 tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng, https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/ban-chap-hanh-trung-uong-dang/dai-hoi-dang/lan-thu-x/bao-cao-cua-ban-chap-hanh-trung-uong-dang-khoa-ix-ve-phuong-huong-nhiem-vu-phat-trien-kt-xh-5-nam-2006-2010-tai-1536?categoryId=104000020, truy cập ngày 16/4/2026.
(14) Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.320.
(15) Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2016, tr.76.
(16) Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2021, tr.14.
(17) Tạp chí Cộng sản (2024), Một số nội dung cơ bản về kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc; những định hướng chiến lược đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, https://tapchicongsan.org.vn/media-story/-/asset_publisher/V8hhp4dK31Gf/content/ky-nguyen-moi-ky-nguyen-vuon-minh-cua-dan-toc-ky-nguyen-phat-trien-giau-manh-duoi-su-lanh-dao-cam-quyen-cua-dang-cong-san-xay-dung-thanh-cong-nuoc-vie, truy cập ngày 16/4/2026.
(18) Đảng cộng sản Việt Nam (2026), Toàn văn Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIX của Đảng, https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/toan-van-nghi-quyet-dai-hoi-dai-bieu-toan-quoc-lan-thu-xiv-cua-dang-119260206221643667.htm, truy cập ngày 16/4/2026.
(19) Đảng Cộng sản Việt Nam (2025), Báo cáo tổng kêt một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong 40 năm qua ở Việt Nam, https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/van-kien-dai-hoi-dai-bieu-toan-quoc-lan-thu-xiv-cua-dang-119260206231049404.htm, truy cập ngày 16/4/2026.
Tài liệu tham khảo
1. Báo Điện tử Chính phủ (2014), Toàn văn Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, https://baochinhphu.vn/toan-van-di-chuc-cua-chu-tich-ho-chi-minh-102169104.htm, truy cập ngày 16/4/2026.
2. C. Mác và Ph. Ăng-ghen (1995),Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập 4, tr. 424.
3. C. Mác và Ph. Ăng-ghen (1995), Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập 2, tr. 123
4. Cổng thông tin điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam (2015), Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về phương hướng, nhiệm vụ phát triển KT-XH 5 năm 2006 - 2010 tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng, https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/ban-chap-hanh-trung-uong-dang/dai-hoi-dang/lan-thu-x/bao-cao-cua-ban-chap-hanh-trung-uong-dang-khoa-ix-ve-phuong-huong-nhiem-vu-phat-trien-kt-xh-5-nam-2006-2010-tai-1536?categoryId=104000020, truy cập ngày 16/4/2026.
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.24.
6. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội , tập 47, tr.376.
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (2007), Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 51, tr.40.
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.320.
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (2015), Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 55, tr.307.
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2016, tr.76.
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2021, tr.14.
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (2025), Báo cáo tổng kêt một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong 40 năm qua ở Việt Nam, https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/van-kien-dai-hoi-dai-bieu-toan-quoc-lan-thu-xiv-cua-dang-119260206231049404.htm, truy cập ngày 16/4/2026.
13. Đảng cộng sản Việt Nam (2026), Toàn văn Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIX của Đảng, https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/toan-van-nghi-quyet-dai-hoi-dai-bieu-toan-quoc-lan-thu-xiv-cua-dang-119260206221643667.htm, truy cập ngày 16/4/2026.
14. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, tập 15, tr, 131, 617, 627.
15. Hồ Chí Minh Biên niên tiểu sử, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2016, tr.86.
16. Keith D. Harrell (2015), Cám ơn cuộc sống, Nxb. Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh.
17. Tạp chí Cộng sản (2024), Một số nội dung cơ bản về kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc; những định hướng chiến lược đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, https://tapchicongsan.org.vn/media-story/-/asset_publisher/V8hhp4dK31Gf/content/ky-nguyen-moi-ky-nguyen-vuon-minh-cua-dan-toc-ky-nguyen-phat-trien-giau-manh-duoi-su-lanh-dao-cam-quyen-cua-dang-cong-san-xay-dung-thanh-cong-nuoc-vie, truy cập ngày 16/4/2026.
18. V.I.Lênin (1979), Toàn tập, NxbTiến bộ, Mátxcơva.
19. Viện Ngôn ngữ học (2006), Từ điển tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng, tr. 493.