Nghị quyết số 18-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển và những gợi mở đối với định hướng nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới
Ngày 28 tháng 07 năm 2026, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển. Nghị quyết ra đời trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, khi yêu cầu phát triển nhanh, bền vững, nhân văn và hài hòa ngày càng gắn chặt với những vấn đề về kỷ cương xã hội, khoảng cách phát triển, môi trường, văn hóa, đạo đức, an ninh phi truyền thống và chuyển đổi số.
Nghị quyết thể hiện bước phát triển quan trọng trong tư duy về phát triển xã hội, nhấn mạnh rằng thành công của phát triển không chỉ được đo bằng tăng trưởng kinh tế mà còn bằng chất lượng phát triển xã hội và con người, năng lực quản trị quốc gia, mức độ an toàn, niềm tin và hạnh phúc của Nhân dân. Theo đó, phát triển kinh tế phải gắn hài hòa với phát triển văn hóa, con người, bảo vệ môi trường, tiến bộ và công bằng xã hội; an ninh con người được xác định là mục tiêu và yêu cầu xuyên suốt của quá trình phát triển.
Một điểm nhấn chiến lược của Nghị quyết là yêu cầu chuyển mạnh từ “quản lý xã hội” sang “quản trị và kiến tạo xã hội”, xây dựng nền quản trị xã hội hiện đại trên nền tảng dữ liệu, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Đồng thời, con người được đặt ở vị trí trung tâm, phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, văn hóa, thể chất và năng lực số; phát huy vai trò của Nhân dân, gia đình, cộng đồng và các tổ chức trong xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển. Đối với các cơ quan nghiên cứu khoa học xã hội, những định hướng này cũng đặt ra yêu cầu cung cấp luận cứ khoa học phục vụ hoàn thiện chính sách và tổ chức thực hiện trong giai đoạn mới.
Ảnh AI-Generated
Những gợi mở từ Nghị quyết số 18-NQ/TW đối với định hướng nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới
Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới có chức năng nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển con người, nguồn lực con người, quyền con người, an ninh con người, hôn nhân, gia đình, giới, phụ nữ, người cao tuổi, trẻ em và phát triển xã hội, qua đó cung cấp luận cứ khoa học phục vụ hoạch định đường lối, chính sách. Với phạm vi đó, nhiều nội dung của Nghị quyết số 18-NQ/TW có liên hệ trực tiếp với các lĩnh vực nghiên cứu của Viện và gợi mở những hướng nghiên cứu có ý nghĩa trong giai đoạn tới.
Trước hết, việc Nghị quyết đặt con người ở vị trí trung tâm, đồng thời coi nâng cao chất lượng sống, hạnh phúc, mức độ hài lòng và niềm tin của Nhân dân là những thước đo quan trọng của phát triển, tạo cơ sở để tiếp tục mở rộng các nghiên cứu về phát triển con người Việt Nam trong bối cảnh mới. Nếu trước đây phát triển con người thường được xem xét chủ yếu qua các chiều cạnh giáo dục, sức khỏe và thu nhập, những yêu cầu mới đặt ra trong Nghị quyết cho thấy cần tiếp cận đầy đủ hơn các chiều cạnh về năng lực số, khả năng thích ứng, sức khỏe tinh thần, an toàn, chất lượng môi trường sống, sự tham gia xã hội, niềm tin và hạnh phúc. Điều này cũng đặt ra yêu cầu nghiên cứu sự khác biệt trong cơ hội phát triển và khả năng thụ hưởng thành quả phát triển giữa các nhóm dân cư, các thế hệ, các vùng và các nhóm xã hội khác nhau.
Thứ hai, quan điểm xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người và chuẩn mực xã hội Việt Nam thời kỳ mới gợi mở một hướng nghiên cứu quan trọng về sự biến đổi của gia đình, các giá trị và quan hệ xã hội. Nghị quyết tiếp tục khẳng định gia đình là tế bào lành mạnh của xã hội, đồng thời đề cao các giá trị hiếu nghĩa, thủy chung, trách nhiệm, yêu thương, chia sẻ và tôn trọng lẫn nhau; chú trọng chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em, phát huy vai trò của phụ nữ và người cao tuổi, phòng chống bạo lực và xâm hại đối với các nhóm yếu thế. Những định hướng này đặt ra nhu cầu nghiên cứu sâu hơn về biến đổi cấu trúc gia đình, quan hệ giữa các thế hệ, hôn nhân, chăm sóc, phân công trách nhiệm trong gia đình, sự thay đổi của các giá trị gia đình trong quá trình già hóa dân số, di cư, đô thị hóa và chuyển đổi số, cũng như khả năng của gia đình trong thực hiện chức năng chăm sóc, bảo vệ và hỗ trợ các thành viên trước những rủi ro mới.
Thứ ba, việc Nghị quyết xác định an ninh con người là mục tiêu và yêu cầu xuyên suốt của phát triển mở ra một không gian nghiên cứu có tính liên ngành rõ nét. An ninh con người trong Nghị quyết không chỉ gắn với an ninh, trật tự theo nghĩa truyền thống mà bao gồm các rủi ro về kinh tế, xã hội, sức khỏe, môi trường, an ninh mạng và những nguy cơ truyền thống, phi truyền thống. Đồng thời, Nghị quyết yêu cầu chuyển mạnh từ tư duy ứng phó, xử lý sang chủ động phòng ngừa và quản trị rủi ro từ sớm, từ xa, từ cơ sở. Đây là cơ sở quan trọng để Viện phát triển các nghiên cứu về an ninh con người, khả năng chống chịu của cá nhân, gia đình và cộng đồng trước các cú sốc; an sinh xã hội trong bối cảnh già hóa dân số và chuyển đổi cơ cấu lao động; cũng như những rủi ro mới đối với trẻ em, phụ nữ, người cao tuổi và các nhóm dễ bị tổn thương trong môi trường số.
Thứ tư, các yêu cầu về tiến bộ, công bằng xã hội và không để ai bị bỏ lại phía sau tiếp tục đặt ra những vấn đề nghiên cứu quan trọng về giới, bất bình đẳng và phát triển bao trùm. Nghị quyết yêu cầu thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng, miền, giữa đô thị và nông thôn, giữa các nhóm dân cư; đồng thời quan tâm đến vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và các nhóm yếu thế. Đối với lĩnh vực nghiên cứu giới, cần tiếp tục làm rõ những khác biệt giữa phụ nữ và nam giới trong khả năng tiếp cận nguồn lực, dịch vụ xã hội, công nghệ và cơ hội phát triển; những biến đổi về vai trò giới trong gia đình và thị trường lao động; tác động khác biệt của chuyển đổi số, già hóa dân số, biến đổi khí hậu và các cú sốc kinh tế – xã hội đối với các nhóm dân cư. Cách tiếp cận giới cần được gắn chặt hơn với nghiên cứu về vòng đời, gia đình, thế hệ và các điều kiện kinh tế – xã hội cụ thể.
Một hướng nghiên cứu đặc biệt đáng chú ý khác xuất phát từ yêu cầu chuyển mạnh từ “quản lý xã hội” sang “quản trị và kiến tạo xã hội”. Nghị quyết coi xây dựng nền quản trị xã hội hiện đại là nhiệm vụ trọng tâm, chiến lược; nhấn mạnh vai trò chủ thể của người dân, phát huy sự tham gia của gia đình, cộng đồng, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội; đồng thời xác định cấp xã là tuyến đầu của quản trị xã hội. Khoa học, công nghệ, dữ liệu, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được coi là những động lực mới của quản trị. Điều này gợi mở các nghiên cứu về sự tham gia của người dân trong quản trị xã hội; năng lực tự quản và gắn kết cộng đồng; niềm tin xã hội; quan hệ giữa Nhà nước, gia đình và cộng đồng trong cung cấp phúc lợi; năng lực quản trị xã hội ở cơ sở; cũng như tác động của dữ liệu, trí tuệ nhân tạo và chuyển đổi số đến mối quan hệ giữa người dân và các thiết chế công.
Nghị quyết số 18-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển đặt ra một cách tiếp cận toàn diện đối với phát triển xã hội trong giai đoạn mới, trong đó con người được đặt ở vị trí trung tâm, văn hóa là nền tảng, pháp luật là trụ cột, kỷ cương là sức mạnh, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực, còn hạnh phúc của Nhân dân là mục tiêu cao nhất. Đối với Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới, Nghị quyết mở ra những vấn đề nghiên cứu vừa có tính lý luận, vừa có ý nghĩa thực tiễn và chính sách trực tiếp. Việc gắn các định hướng nghiên cứu về con người, gia đình, giới và phát triển xã hội với những vấn đề mà Nghị quyết đặt ra sẽ góp phần tăng cường sự kết nối giữa nghiên cứu khoa học với yêu cầu thực tiễn, đồng thời phát huy vai trò của Viện trong cung cấp luận cứ khoa học phục vụ hoạch định và thực thi chính sách về phát triển con người và xây dựng xã hội Việt Nam trong giai đoạn mới.