Phát triển kinh tế tư nhân gắn với bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Bài viết làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về mối quan hệ giữa phát triển kinh tế tư nhân và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trên nền tảng tư tưởng của Karl Marx, Vladimir Lenin và Hồ Chí Minh, bài viết khẳng định kinh tế tư nhân là động lực quan trọng của tăng trưởng, đồng thời phân tích mối quan hệ biện chứng giữa phát triển kinh tế và định hướng tư tưởng. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất các giải pháp về hoàn thiện thể chế, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước và xây dựng đội ngũ doanh nhân, nhằm bảo đảm phát triển bền vững gắn với giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa.

Từ khóa: Kinh tế tư nhân; Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; Vai trò lãnh đạo của Đảng; Doanh nhân Việt Nam.

Anh-tin-bai

 

1. Mở đầu

Sau gần 40 năm đổi mới, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, trong đó khu vực kinh tế tư nhân (KTTN) nổi lên như một động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng, tạo việc làm và đổi mới sáng tạo. Đặc biệt, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định rõ vai trò của KTTN trong nhiều văn kiện quan trọng, gần đây nhất là Nghị quyết số 68-NQ/TW. Theo nghị quyết này, kinh tế tư nhân hiện đóng góp khoảng 50% GDP, hơn 30% thu ngân sách và sử dụng khoảng 82% lực lượng lao động (Chính Phủ, 2025)1. Điều đó cho thấy vị trí đặc biệt của khu vực này trong nền kinh tế quốc dân.

Tuy nhiên, trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, sự phát triển của KTTN cũng kéo theo những biểu hiện lệch lạc về nhận thức, nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về tư tưởng, đòi hỏi phải gắn chặt phát triển kinh tế với bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

2. Cơ sở lý luận về phát triển kinh tế tư nhân và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế tư nhân

Trong hệ thống lý luận của Karl Marx và Vladimir Lenin, KTTN không bị phủ nhận tuyệt đối mà được xem xét trong mối quan hệ biện chứng với sự phát triển của lực lượng sản xuất và tiến trình lịch sử. Chủ nghĩa Mác khẳng định thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là giai đoạn tồn tại đa dạng các hình thức sở hữu, trong đó kinh tế tư nhân là một thành phần khách quan.

Phát triển tư tưởng này, Lenin thông qua Chính sách Kinh tế mới (NEP) đã khẳng định tính linh hoạt trong thực tiễn: cho phép khôi phục có kiểm soát kinh tế tư nhân nhằm thúc đẩy sản xuất và ổn định xã hội, dưới sự quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa (V. I. Lenin, 2021)2. Điều này thể hiện sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác trong điều kiện lịch sử cụ thể.

Trong khi đó, Hồ Chí Minh tiếp cận kinh tế tư nhân từ góc độ thực tiễn và nhân văn, coi đây là lực lượng có thể đóng góp tích cực cho phát triển nếu được định hướng đúng, đồng thời nhấn mạnh trách nhiệm xã hội và đạo đức kinh doanh.

Nhìn chung, cả chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh đều thống nhất ở việc không phủ nhận KTTN, mà đặt nó dưới vai trò định hướng của Nhà nước và mục tiêu xã hội chủ nghĩa. Khác biệt chủ yếu nằm ở cách tiếp cận: Mác – Lênin thiên về quy luật kinh tế – lịch sử và vai trò chính trị, còn Hồ Chí Minh nhấn mạnh yếu tố con người và giá trị đạo đức.

Từ đó có thể khẳng định: phát triển KTTN không đồng nghĩa với chệch hướng xã hội chủ nghĩa; vấn đề cốt lõi là định hướng và quản lý hiệu quả nhằm phục vụ mục tiêu phát triển bền vững.

Quan điểm của Đảng và Nhà nước về kinh tế tư nhân

Từ Đại hội Đảng lần thứ X đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam nhất quán xác định kinh tế tư nhân (KTTN) là “một động lực quan trọng của nền kinh tế” ” (Cấn Văn Lực, 2025)3. Đặc biệt, Nghị quyết số 68-NQ/TW đã nâng tầm nhận thức khi khẳng định: KTTN là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia; là lực lượng tiên phong trong đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; và phấn đấu đến năm 2030 có 2 triệu doanh nghiệp (Chính Phủ, 2025)4. Đây có thể coi là bước phát triển mới trong tư duy lý luận của Đảng. 

Anh-tin-bai

Định hướng này có nền tảng từ Đại hội Đảng lần thứ VI, khi Việt Nam chuyển sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong cơ cấu hiện nay, KTTN (gồm doanh nghiệp tư nhân, hộ kinh doanh và kinh tế tập thể) ngày càng giữ vai trò chủ đạo trong huy động nguồn lực xã hội và thúc đẩy tăng trưởng.

Thực tiễn cho thấy khu vực này phát triển nhanh cả về quy mô và đóng góp: đến năm 2025 có trên 900.000 doanh nghiệp và hơn 5 triệu hộ kinh doanh, đóng góp khoảng 45–51% GDP và tạo việc làm cho trên 80–85% lực lượng lao động (Vietnam+ (VietnamPlus), 2025)5. Tuy nhiên, cơ cấu còn hạn chế khi hơn 97% doanh nghiệp là nhỏ và siêu nhỏ, và tỷ lệ tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu còn thấp.

Đại hội Đảng lần thứ XIII, Đảng tiếp tục nhấn mạnh phát triển KTTN toàn diện, bảo đảm quyền tự do kinh doanh, cạnh tranh bình đẳng, đồng thời thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và hình thành các tập đoàn tư nhân có năng lực cạnh tranh quốc tế. Định hướng này được cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 45/NQ-CP, đặt mục tiêu nâng cao chất lượng tăng trưởng của khu vực tư nhân, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và hình thành các tập đoàn kinh tế tư nhân có năng lực cạnh tranh quốc tế. Năm 2025 đã có gần 300 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động, cho thấy xu hướng mở rộng nhanh của khu vực này trong bối cảnh phục hồi kinh tế (National Statistics Office of Vietnam, 2025)6. 

Như vậy, hệ thống quan điểm và chính sách ngày càng hoàn thiện theo hướng: khẳng định vai trò trụ cột của KTTN, gắn với cải cách thể chế, nâng cao chất lượng tăng trưởng và hội nhập quốc tế, qua đó đưa khu vực này trở thành động lực then chốt của nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn mới.

Các khái niệm cơ bản

Khái niệm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là tổng thể hoạt động lý luận và thực tiễn nhằm giữ vững, phát triển và vận dụng sáng tạo hệ tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, với cốt lõi là Chủ nghĩa Mác – Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh; đồng thời đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Theo Nghị quyết số 35-NQ/TW, đây là nhiệm vụ “quan trọng hàng đầu”, mang ý nghĩa sống còn, đòi hỏi kiên định nền tảng tư tưởng và chủ động đấu tranh trên các lĩnh vực lý luận, chính trị, truyền thông.

Về bản chất, hoạt động này nhằm củng cố tính chính danh của hệ thống chính trị, ngăn chặn “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và tăng cường niềm tin xã hội đối với đường lối phát triển đất nước.

Khái niệm phát triển kinh tế tư nhân gắn với bảo vệ nền tảng tư tưởng của đảng trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.

Phát triển kinh tế tư nhân gắn với bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là quá trình thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân phát triển mạnh mẽ, hiệu quả và đúng pháp luật, đồng thời bảo đảm sự phát triển đó phù hợp với định hướng xã hội chủ nghĩa, không làm suy giảm vai trò lãnh đạo của Đảng và bản chất của chế độ.  Quan điểm này được xác lập rõ trong Nghị quyết số 10-NQ/TW, khi khẳng định kinh tế tư nhân là “một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2017)7. Do đó, phát triển KTTN không phải là sự “tự do hóa tuyệt đối”, mà diễn ra trong khuôn khổ thể chế do Đảng lãnh đạo và Nhà nước quản lý. 

Trong Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIII, Đảng tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu phát triển kinh tế tư nhân đi đôi với giữ vững định hướng XHCN, bảo đảm ổn định chính trị và phát triển bền vững, phản ánh đặc trưng của kinh tế thị trường định hướng XHCN – mô hình phát triển kết hợp giữa nguyên tắc thị trường và mục tiêu xã hội. 

Như vậy, việc gắn phát triển kinh tế với công tác tư tưởng là yêu cầu tất yếu, nhằm bảo đảm quá trình hội nhập và phát triển kinh tế không dẫn đến lệch hướng chính trị hoặc suy giảm vai trò lãnh đạo của Đảng.

3. Thực trạng phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Về quy mô của khu vực kinh tế tư nhân

Trong tiến trình đổi mới, khu vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam đã có sự phát triển mạnh mẽ cả về quy mô lẫn vai trò trong nền kinh tế quốc dân. Từ vị trí là khu vực bổ trợ, kinh tế tư nhân hiện nay đã trở thành một trong những động lực quan trọng nhất của tăng trưởng kinh tế. Khu vực KTTN đóng góp khoảng 50% GDP, hơn 30% tổng thu ngân sách nhà nước và tạo việc làm cho trên 80% lực lượng lao động(Chính Phủ, 2025)9. 

Anh-tin-bai
Nguồn:  baochinhphu.vn. (2025, May 5). Toàn văn Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân. baochinhphu.vn, https://baochinhphu.vn/. (baochinhphu.vn, 2025). 

Bảng trên cho thấy khu vực kinh tế tư nhân không chỉ có quy mô lớn mà còn có tác động lan tỏa sâu rộng đến toàn bộ nền kinh tế. Tuy nhiên, khi so sánh giữa tỷ lệ đóng góp GDP và tỷ lệ sử dụng lao động, có thể nhận thấy năng suất lao động của khu vực này vẫn còn thấp, phản ánh hạn chế về trình độ công nghệ và quản trị.

Về cơ cấu doanh nghiệp và năng lực cạnh tranh

Mặc dù phát triển nhanh về số lượng, nhưng cơ cấu doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam vẫn còn mất cân đối. Phần lớn là doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong khi doanh nghiệp lớn có khả năng dẫn dắt thị trường còn rất hạn chế.

Anh-tin-bai
Nguồn: EU-Vietnam Business Network (EVBN). (2023, February 28). SME là gì? Những cơ hội và thách thức của SMEs tại Việt Nam. EU-Vietnam Business Network (EVBN). https://evbn.org/sme-la-gi-nhung-co-hoi-va-thach-thuc-cua-smes-tai-viet-nam-1677550448/ (EU-Vietnam Business Network (EVBN), 2023). 

Về mức độ tham gia vào đổi mới sáng tạo và kinh tế số

Trong những năm gần đây, doanh nghiệp tư nhân Việt Nam đã từng bước tham gia vào hoạt động đổi mới sáng tạo và kinh tế số, tuy nhiên mức độ còn chưa đồng đều và vẫn ở mức trung bình so với tiềm năng. Các số liệu điều tra gần đây cho thấy tỷ lệ doanh nghiệp có hoạt động đổi mới sáng tạo vẫn còn hạn chế. Cụ thể, theo kết quả điều tra đổi mới sáng tạo năm 2025, chỉ khoảng 34,6% doanh nghiệp trên toàn quốc có hoạt động đổi mới sáng tạo, trong khi 65,4% doanh nghiệp chưa tham gia (Vista, 2026)10. 

Xét theo quy mô doanh nghiệp, mức độ tham gia đổi mới sáng tạo có sự khác biệt rõ rệt. Doanh nghiệp nhỏ – nhóm chiếm tỷ trọng lớn trong khu vực tư nhân – chỉ có 28,8% tham gia đổi mới sáng tạo, thấp hơn đáng kể so với doanh nghiệp vừa (36,2%) (Vista, 2026)11 cho thấy hạn chế về nguồn lực tài chính và nhân lực đang là rào cản lớn đối với khu vực tư nhân trong việc đầu tư cho đổi mới sáng tạo.

Trong lĩnh vực kinh tế số, khu vực tư nhân đang có những bước tiến đáng ghi nhận. Nền kinh tế số Việt Nam đạt quy mô khoảng 23 tỷ USD năm 2022, tăng trưởng 28% so với năm trước, thuộc nhóm tăng nhanh nhất Đông Nam Á. Nhiều doanh nghiệp tư nhân đã triển khai thương mại điện tử, điện toán đám mây, dữ liệu lớn và bước đầu ứng dụng trí tuệ nhân tạo vào quản trị. Tuy nhiên, mức độ ứng dụng công nghệ cao như AI vẫn còn hạn chế và chưa phổ biến.

Anh-tin-bai
Nguồn: VnEconomy – Kinh tế số Việt Nam (VnEconomy, 2026)

Dữ liệu trên cho thấy kinh tế số có xu hướng tăng trưởng nhanh, nhưng tỷ trọng vẫn còn thấp so với tiềm năng và so với các quốc gia phát triển trong khu vực, phản ánh năng lực công nghệ và đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp tư nhân còn hạn chế, chưa đủ sức đóng vai trò dẫn dắt trong nền kinh tế tri thức. 

Về những hạn chế của kinh tế tư nhân Việt Nam. 

Hạn chế về thể chế và môi trường kinh doanh: Bên cạnh các yếu tố nội tại, môi trường thể chế cũng là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến sự phát triển của kinh tế tư nhân. Mặc dù đã có nhiều cải cách, nhưng hệ thống chính sách vẫn tồn tại những rào cản về thủ tục hành chính, tiếp cận nguồn lực và chi phí kinh doanh. Những hạn chế này làm giảm hiệu quả hoạt động và hạn chế khả năng mở rộng quy mô của doanh nghiệp.

Những vấn đề về chất lượng phát triển và định hướng xã hội: Một số biểu hiện trong hoạt động của khu vực kinh tế tư nhân hiện nay cho thấy những vấn đề đáng quan ngại, như vi phạm pháp luật trong kinh doanh, cạnh tranh không lành mạnh, thiếu trách nhiệm xã hội. Những biểu hiện này không chỉ phản ánh hạn chế về quản trị doanh nghiệp mà còn cho thấy nguy cơ lệch chuẩn về giá trị trong bối cảnh kinh tế thị trường.

Anh-tin-bai
Nguồn: Tác giả tổng hợp

Những hạn chế này đặt ra một yêu cầu quan trọng: phát triển kinh tế tư nhân không thể chỉ dựa vào cơ chế thị trường, mà cần có sự định hướng và điều tiết hiệu quả từ phía Nhà nước nhằm bảo đảm phát triển bền vững và phù hợp với mục tiêu xã hội chủ nghĩa.

Từ các phân tích trên, có thể rút ra một nhận định mang tính khái quát: khu vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam đang phát triển nhanh nhưng chưa bền vững, có tiềm năng lớn nhưng chưa được khai thác đầy đủ. Đảng và Nhà nước cần tiếp tục: Thứ nhất, tiếp tục thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển mạnh mẽ hơn về quy mô và năng lực; Thứ hai, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa và kiểm soát các rủi ro về tư tưởng và giá trị. 

4. Mối quan hệ giữa phát triển kinh tế tư nhân và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Tính tất yếu khách quan của việc gắn kết giữa kinh tế tư nhân và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. 

Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, phát triển kinh tế tư nhân và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng tồn tại trong mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau. Vì vậy, thiếu sự gắn kết giữa hai yếu tố này có thể dẫn đến tăng trưởng về lượng nhưng không bảo đảm chất lượng và định hướng. Quan điểm này được Đảng nhất quán khẳng định: phát triển kinh tế phải đi đôi với giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa.

Anh-tin-bai
Nguồn: Tác giả tổng hợp

KTTN cung cấp nguồn lực vật chất cho xã hội, trong khi nền tảng tư tưởng của Đảng đóng vai trò định hướng để bảo đảm nguồn lực đó được sử dụng đúng mục tiêu. Đây chính là cơ sở lý luận để khẳng định rằng hai yếu tố này không đối lập mà bổ sung cho nhau.

Tác động tích cực của phát triển kinh tế tư nhân đối với bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. 

Phát triển KTTN không chỉ thúc đẩy tăng trưởng mà còn góp phần củng cố nền tảng tư tưởng của Đảng trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Sự mở rộng của KTTN tạo điều kiện duy trì tăng trưởng ổn định, nâng cao thu nhập và chất lượng sống, qua đó củng cố niềm tin của nhân dân vào đường lối lãnh đạo.

Về kinh tế – xã hội, KTTN là lực lượng quan trọng tạo ra của cải, đóng góp lớn vào GDP và giải quyết việc làm, góp phần giảm thất nghiệp, ổn định sinh kế và hạn chế các yếu tố bất ổn xã hội, từ đó tăng cường ổn định chính trị.

Ở góc độ chính trị, thành quả phát triển do KTTN mang lại giúp nâng cao mức độ đồng thuận xã hội, củng cố tính chính danh của hệ thống chính trị và tăng khả năng phản bác các quan điểm sai trái.

Ngoài ra, KTTN thúc đẩy hội nhập quốc tế thông qua tham gia chuỗi giá trị toàn cầu và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, qua đó khẳng định tính đúng đắn của đường lối phát triển.

Có thể khẳng định rằng, phát triển KTTN vừa là yêu cầu kinh tế, vừa có ý nghĩa chính trị – xã hội sâu sắc, góp phần quan trọng vào việc bảo vệ và củng cố nền tảng tư tưởng của Đảng.

Những nguy cơ tác động tiêu cực đến nền tảng tư tưởng của Đảng. 

Bên cạnh những tác động tích cực, sự phát triển của kinh tế tư nhân trong điều kiện kinh tế thị trường cũng tiềm ẩn những nguy cơ nhất định đối với nền tảng tư tưởng. Một trong những nguy cơ đáng chú ý là sự gia tăng của chủ nghĩa cá nhân, thực dụng và chạy theo lợi nhuận tối đa, có thể dẫn đến sự lệch chuẩn về giá trị.

Anh-tin-bai
Nguồn: Tác giả tổng hợp

Những nguy cơ này đã được cảnh báo trong nhiều nghiên cứu lý luận chính trị, trong đó nhấn mạnh rằng nếu không kiểm soát tốt, kinh tế thị trường có thể trở thành môi trường thuận lợi cho các quan điểm sai trái, thù địch phát triển. 

Vai trò của Đảng trong điều tiết mối quan hệ

Vai trò lãnh đạo toàn diện của Đảng Cộng sản Việt Nam có ý nghĩa quyết định trong việc bảo đảm mối quan hệ hài hòa giữa phát triển KTTN và bảo vệ nền tảng tư tưởng. Đảng giữ vai trò định hướng chiến lược, kiến tạo thể chế và hoạch định chính sách, qua đó bảo đảm KTTN vận hành đúng định hướng chính trị, hạn chế các tác động tiêu cực của cơ chế thị trường.

Trên phương diện thể chế, Đảng định hướng xây dựng hệ thống pháp luật, chính sách minh bạch, công bằng, tạo môi trường kinh doanh lành mạnh, đồng thời phòng ngừa các hiện tượng tiêu cực như cạnh tranh không lành mạnh hay lợi ích nhóm.

Về tổ chức, việc phát triển tổ chức Đảng trong doanh nghiệp tư nhân góp phần lồng ghép các giá trị chính trị – tư tưởng vào hoạt động sản xuất kinh doanh, định hướng văn hóa doanh nghiệp theo hướng trách nhiệm và bền vững.

Về tư tưởng, công tác giáo dục chính trị, đạo đức và trách nhiệm xã hội cho đội ngũ doanh nhân giúp nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật và gắn kết mục tiêu kinh tế với lợi ích xã hội.

Đồng thời, thông qua chức năng kiểm tra, giám sát, Đảng kịp thời phát hiện và xử lý các sai phạm, bảo đảm phát triển KTTN không làm suy giảm các giá trị nền tảng của chế độ.

Bằng các công cụ thể chế, tổ chức, tư tưởng và giám sát, Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện hiệu quả vai trò điều tiết, gắn phát triển kinh tế tư nhân với giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa.

Thực tiễn cho thấy, KTTN góp phần thúc đẩy tăng trưởng, tạo việc làm, nâng cao đời sống và củng cố niềm tin xã hội. Tuy nhiên, mặt trái của cơ chế thị trường cũng tiềm ẩn nguy cơ lệch chuẩn giá trị, gia tăng chủ nghĩa cá nhân và tác động tiêu cực đến tư tưởng nếu không được kiểm soát hiệu quả. Trong bối cảnh đó, vai trò lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định, thể hiện qua việc hoàn thiện thể chế, phát triển tổ chức Đảng trong doanh nghiệp, tăng cường giáo dục chính trị và nâng cao hiệu quả giám sát. Sự kết hợp hài hòa giữa “phát triển” và “định hướng” chính là điều kiện then chốt để vừa phát huy kinh tế tư nhân, vừa bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng. 

5. Giải pháp phát triển kinh tế tư nhân gắn với bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Quan điểm chỉ đạo xuyên suốt là kết hợp hữu cơ giữa phát triển và định hướng. 

Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, việc xác lập quan điểm chỉ đạo đúng đắn có ý nghĩa quyết định đối với hiệu quả chính sách. Thực tiễn cho thấy, cả hai khuynh hướng cực đoan—tuyệt đối hóa thị trường hoặc tuyệt đối hóa kiểm soát—đều gây hệ quả tiêu cực, làm suy giảm hiệu quả kinh tế và lệch hướng chính trị.

Vì vậy, yêu cầu cốt lõi là kết hợp hữu cơ giữa phát triển và định hướng theo logic biện chứng. Quan điểm này được khẳng định trong Nghị quyết 68-NQ/TW, nhấn mạnh phát triển kinh tế tư nhân nhanh, bền vững, hiệu quả, gắn với tiến bộ và công bằng xã hội. 

Về thực tiễn, có ba khuynh hướng: (i) tuyệt đối hóa thị trường—giảm vai trò Nhà nước, gia tăng bất bình đẳng; (ii) tuyệt đối hóa kiểm soát—hạn chế tự do kinh doanh, kìm hãm động lực; (iii) kết hợp hữu cơ—bảo đảm phát triển bền vững và ổn định.

Anh-tin-bai
Nguồn: Tác giả tổng hợp

Quan điểm này được cụ thể hóa qua ba nguyên tắc: (i) phát triển kinh tế tư nhân gắn với vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước; (ii) gắn với chiến lược phát triển quốc gia; (iii) kết hợp tăng trưởng kinh tế với phát triển con người và hệ giá trị xã hội—tạo nền tảng bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa. 

Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN.

Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là nền tảng để chuyển hóa tiềm năng kinh tế tư nhân thành động lực tăng trưởng, đồng thời định hướng thị trường theo mục tiêu phát triển bền vững và công bằng xã hội trong bối cảnh hội nhập.

Tuy nhiên, thể chế còn tồn tại các điểm nghẽn: thị trường vốn chưa đồng bộ, hạn chế tiếp cận tín dụng; quản lý đất đai và thủ tục hành chính phức tạp, thiếu minh bạch; điều kiện kinh doanh chồng chéo; chính sách thiếu ổn định, làm gia tăng rủi ro đầu tư. Theo WB, khả năng tiếp cận tín dụng vẫn là một trong những rào cản lớn đối với khu vực tư nhân tại Việt Nam (WB, 2026)12. 

Để khắc phục, cần hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tự do kinh doanh, quyền sở hữu và bình đẳng tiếp cận nguồn lực; đẩy mạnh cải cách hành chính gắn với chuyển đổi số; tăng cường giám sát thị trường nhằm bảo đảm cạnh tranh lành mạnh.

Một thể chế thông thoáng và hiệu lực là điều kiện then chốt để phát triển kinh tế tư nhân bền vững, gắn với giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa.

Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng và hiệu lực quản lý của Nhà nước

Trong kinh tế thị trường, khu vực tư nhân vận hành theo mục tiêu lợi nhuận, do đó cần sự định hướng của Đảng Cộng sản Việt Nam để bảo đảm phát triển gắn với tiến bộ và công bằng xã hội. Thực tiễn cho thấy, các doanh nghiệp có tổ chức Đảng hoạt động hiệu quả thường có mức độ tuân thủ pháp luật, trách nhiệm xã hội và ổn định quan hệ lao động cao hơn, góp phần định hướng văn hóa doanh nghiệp và hạn chế mặt trái của thị trường.

Đồng thời, Nhà nước cần nâng cao hiệu lực quản lý thông qua hệ thống pháp luật đồng bộ, minh bạch và có tính thực thi cao, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh và ổn định kinh tế vĩ mô. Theo Báo cáo Môi trường kinh doanh của Ngân hàng Thế giới, chất lượng thể chế và hiệu lực thực thi pháp luật có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp và niềm tin của nhà đầu tư (WB, 2025). 

Bên cạnh đó, công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát cần được tăng cường nhằm kịp thời phát hiện và xử lý vi phạm, đặc biệt trong các lĩnh vực dễ phát sinh tiêu cực. Sự kết hợp giữa vai trò lãnh đạo của Đảng và hiệu lực quản lý của Nhà nước là điều kiện quyết định để kinh tế tư nhân phát triển đúng hướng, gắn với giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa.

Xây dựng đội ngũ doanh nhân gắn với công tác tư tưởng và đấu tranh phản bác quan điểm sai trái

Doanh nhân là lực lượng nòng cốt của khu vực kinh tế tư nhân và chủ thể lan tỏa các giá trị xã hội, do đó cần được phát triển gắn với công tác tư tưởng nhằm hình thành hệ giá trị hài hòa giữa hiệu quả kinh tế và định hướng chính trị.

Đội ngũ doanh nhân thời kỳ mới cần được phát triển toàn diện: (i) năng lực quản trị và ứng dụng khoa học – công nghệ; (ii) đạo đức kinh doanh, tuân thủ pháp luật; (iii) bản lĩnh chính trị, gắn lợi ích doanh nghiệp với lợi ích quốc gia; và (iv) trách nhiệm xã hội, hướng tới phát triển bền vững.

Song song, cần đẩy mạnh đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái theo tinh thần Đảng Cộng sản Việt Nam và Nghị quyết 35-NQ/TW, tập trung làm rõ và bác bỏ các luận điệu như phủ nhận vai trò kinh tế nhà nước, tuyệt đối hóa kinh tế tư nhân, xuyên tạc mô hình phát triển hoặc “phi chính trị hóa” doanh nghiệp.

Trọng tâm không chỉ là phản bác mà còn định hướng nhận thức; qua đó xây dựng đội ngũ doanh nhân có bản lĩnh, trách nhiệm, vừa thúc đẩy phát triển kinh tế, vừa góp phần bảo vệ và lan tỏa nền tảng tư tưởng của Đảng.

6. Kết luận chung

Trên cơ sở phân tích lý luận và thực tiễn, có thể khẳng định rằng phát triển kinh tế tư nhân gắn với bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam là một yêu cầu khách quan, mang tính quy luật trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đây không phải là hai quá trình tách rời mà tồn tại trong mối quan hệ biện chứng, trong đó kinh tế tư nhân tạo cơ sở vật chất cho phát triển, còn nền tảng tư tưởng giữ vai trò định hướng, điều tiết và bảo đảm tính đúng đắn của quá trình phát triển. 

Thực tiễn cho thấy, khu vực KTTN đã và đang trở thành một trong những động lực quan trọng nhất của nền kinh tế, đóng góp lớn vào GDP, tạo việc làm và thúc đẩy đổi mới sáng tạo . Tuy nhiên, sự phát triển này vẫn còn những hạn chế về quy mô, năng suất, năng lực cạnh tranh và tiềm ẩn nguy cơ lệch chuẩn giá trị, tác động đến ổn định xã hội và nền tảng tư tưởng nếu thiếu định hướng và kiểm soát hiệu quả.

Từ góc độ lý luận và chính sách, có thể rút ra một số nhận xét chủ yếu: (i) phát triển kinh tế tư nhân không đối lập mà là điều kiện bổ trợ cho mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội; (ii) yêu cầu cốt lõi là kết hợp hữu cơ giữa “phát triển” và “định hướng”, tránh các khuynh hướng cực đoan; (iii) vai trò lãnh đạo của Đảng và hiệu lực quản lý của Nhà nước là nhân tố quyết định bảo đảm quá trình phát triển không lệch hướng; (iv) công tác tư tưởng, đặc biệt là xây dựng đội ngũ doanh nhân và đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, có ý nghĩa then chốt trong việc củng cố niềm tin và sự đồng thuận xã hội. 

Do đó, trong giai đoạn tới, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nâng cao chất lượng tăng trưởng của khu vực tư nhân, đồng thời tăng cường công tác tư tưởng và kiểm soát xã hội. Sự kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế và bảo vệ nền tảng tư tưởng chính là điều kiện quyết định để bảo đảm tăng trưởng bền vững, ổn định chính trị và giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong tiến trình phát triển đất nước.

Chú thích:

[1] Chính Phủ. (2025). Toàn văn Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân. https://baochinhphu.vn/toan-van-nghi-quyet-so-68-nq-tw-ve-phat-trien-kinh-te-tu-nhan-102250505122337909.htm

2 V. I. Lenin. (2021). The New Economic Policy And The Tasks Of The Political Education Departments. https://www.marxists.org/archive/lenin/works/1921/oct/17.htm?utm

3 Cấn Văn Lực. (2025). Vai trò, thực trạng và giải pháp phát triển đột phá kinh tế tư nhân trong kỷ nguyên mới. https://special.nhandan.vn/kinh-te-tu-nhan-trong-ky-nguyen-moi/

4 Chính Phủ. (2025). Toàn văn Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân. https://baochinhphu.vn/toan-van-nghi-quyet-so-68-nq-tw-ve-phat-trien-kinh-te-tu-nhan-102250505122337909.htm

5 Vietnam+ (VietnamPlus). (2025, March 24). Private sector contributes about 51% of GDP. Vietnam+ (VietnamPlus). https://en.vietnamplus.vn/private-sector-contributes-about-51-of-gdp-post311920.vnp

6 National Statistics Office of Vietnam. (2025). Socio-economic situation in the fourth quarter and 2025. National Statistics Office of Vietnam. https://www.nso.gov.vn/en/data-and-statistics/2026/01/socio-economic-situation-in-the-fourth-quarter-and-2025/

7 Đảng Cộng sản Việt Nam. (2017). Nghị quyết 10-NQ/TW về Phát triển kinh tế tư nhân thành động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN đã đưa ra nội dung quan điểm chỉ đạo nào? https://thuvienphapluat.vn/phap-luat/ho-tro-phap-luat/nghi-quyet-10nqtw-ve-phat-trien-kinh-te-tu-nhan-thanh-dong-luc-quan-trong-cua-nen-kinh-te-thi-truon-231532.html

8 Chính Phủ. (2025). Toàn văn Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân. https://baochinhphu.vn/toan-van-nghi-quyet-so-68-nq-tw-ve-phat-trien-kinh-te-tu-nhan-102250505122337909.htm

9 Vista. (2025). Kết quả cuộc điều tra đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp năm 2025. https://vista.gov.vn/vn-uploads/thong-ke-kh-cn/2026_03/ket-qua-dieu-tra-dmst-2025_web.pdf?utm

10 Vista. (2025). Kết quả cuộc điều tra đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp năm 2025. https://vista.gov.vn/vn-uploads/thong-ke-kh-cn/2026_03/ket-qua-dieu-tra-dmst-2025_web.pdf?utm

11 WB. (2026). Viet Nam|World Bank Group. https://www.worldbank.org/ext/en/country/vietnam

12 WB. (2025). Business Ready, https://openknowledge.worldbank.org/server/api/core/bitstreams/77ab6e06-9934-435c-a84e-03a4c99bbe48/content

Tài liệu tham khảo

1. baochinhphu.vn. (2025, May 5). Toàn văn Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân. baochinhphu.vn. https://baochinhphu.vn/toan-van-nghi-quyet-so-68-nq-tw-ve-phat-trien-kinh-te-tu-nhan-102250505122337909.htm

2. Cấn Văn Lực. (2025). Vai trò, thực trạng và giải pháp phát triển đột phá kinh tế tư nhân trong kỷ nguyên mới. https://special.nhandan.vn/kinh-te-tu-nhan-trong-ky-nguyen-moi/

3. Chính Phủ. (2025). Toàn văn Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân. https://baochinhphu.vn/toan-van-nghi-quyet-so-68-nq-tw-ve-phat-trien-kinh-te-tu-nhan-102250505122337909.htm

4. Đảng Cộng sản Việt Nam. (2017). Nghị quyết 10-NQ/TW về Phát triển kinh tế tư nhân thành động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN đã đưa ra nội dung quan điểm chỉ đạo nào?https://thuvienphapluat.vn/phap-luat/ho-tro-phap-luat/nghi-quyet-10nqtw-ve-phat-trien-kinh-te-tu-nhan-thanh-dong-luc-quan-trong-cua-nen-kinh-te-thi-truon-231532.html

5. EU-Vietnam Business Network (EVBN). (2023, February 28). SME là gì? Những cơ hội và thách thức của SMEs tại Việt Nam. EU-Vietnam Business Network (EVBN). https://evbn.org/sme-la-gi-nhung-co-hoi-va-thach-thuc-cua-smes-tai-viet-nam-1677550448/

6. National Institute for Economics and Finance. (2025). Private economy—A breakthrough driving force for a prosperous and powerful Vietnam. National Institute for Economics and Finance. https://vids1.mpi.gov.vn/en/research-activities/private-economy-a-breakthrough-driving-force-for-a-prosperous-and-powerful-vietnam-1095.html

7. National Statistics Office of Vietnam. (2025). Socio-economic situation in the fourth quarter and 2025. National Statistics Office of Vietnam. https://www.nso.gov.vn/en/data-and-statistics/2026/01/socio-economic-situation-in-the-fourth-quarter-and-2025/

8. V. I. Lenin. (2021). The New Economic Policy And The Tasks Of The Political Education Departments. https://www.marxists.org/archive/lenin/works/1921/oct/17.htm?utm

9. Vietnam+ (VietnamPlus). (2025, March 24). Private sector contributes about 51% of GDP. Vietnam+ (VietnamPlus). https://en.vietnamplus.vn/private-sector-contributes-about-51-of-gdp-post311920.vnp

10. Vietnamnet, V. (2024). Báo VietnamNet. VietNamNet News. https://vietnamnet.vn/en/private-sector-contributes-45-of-vietnam-s-gdp-2271052.html

11. Vista. (2026). Kết quả cuộc điều tra đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp năm 2025. https://vista.gov.vn/vn-uploads/thong-ke-kh-cn/2026_03/ket-qua-dieu-tra-dmst-2025_web.pdf?utm

12. VnEconomy A. (2026, January 6). Tăng thêm 72 tỷ USD, kinh tế số đóng góp hơn 14% vào GDP 2025. VnEconomy. https://vneconomy.vn/tang-them-72-ty-usd-kinh-te-so-dong-gop-hon-14-vao-gdp-2025.htm

13. WB. (2025). Business Ready. https://openknowledge.worldbank.org/server/api/core/bitstreams/77ab6e06-9934-435c-a84e-03a4c99bbe48/content

14. WB. (2026). Viet Nam | World Bank Group, https://www.worldbank.org/ext/en/country/vietnam.

TS. Nguyễn Thị Hằng
Nguồn bài viết: Trang Thông tin điện tử Viện Nghiên cứu Nam Á, Tây Á và Châu Phi
Ý kiến bạn đọc
Họ tên no image
Nội dung no image
Mã kiểm tra no image
Tin xem nhiều
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1