Cơ sở lý luận và thực tiễn trong hoạch định đường lối ngoại giao với các nước lớn thời kỳ đổi mới
Trong gần 40 năm đổi mới, phát triển của quốc gia, chính phủ Việt Nam đã xây dựng đường lối ngoại giao phù hợp với đặc điểm và nhu cầu của đất nước trong từng giai đoạn. Đứng trước những thách thức to lớn và yêu cầu đặt ra mở cửa phát triển xã hội, Đại hội VI (12/1986) đánh dấu việc mở rộng quan hệ quốc tế, từng bước hội nhập của đất nước, là tiền đề cho sự chuyển biến về đường lối ngoại giao của Việt Nam trong những năm tiếp theo. Chính sách đối ngoại liên hệ chặt chẽ và chính sách đối nội, cần sự nhất quán, nhằm phục vụ mục tiêu của đất nước, tình hình trong nước. 

Trong các đối tác lớn của Việt Nam, Ấn Độ là một người bạn hữu nghị với truyền thống thân thiện lâu đời, chia sẻ chung lịch sử chống thuộc địa và hiện nay là lợi ích chung trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. Dựa vào các văn kiện Đại hội Đảng trong các giai đoạn từ Đổi mới tới nay, bài viết làm rõ nhận định, trong suốt quá trình đổi mới và các nghiên cứu về phát triển của đường lối ngoại giao của Việt Nam với Ấn Độ đã minh chứng cho đa phương hoá, đa dạng hoá hợp tác, nhằm đạt được cân bằng chiến lược giữa các nước lớn; và thể hiện sự tự chủ đối ngoại của chính phủ Việt Nam vì lợi ích quốc gia dân tộc.

Từ khoá: Đường lối đối ngoại Việt Nam; thời kỳ Đổi Mới, quan hệ Việt Nam- Ấn Độ

Anh-tin-bai

Mở đầu

Trong gần 40 năm Đổi Mới, phát triển của quốc gia, chính phủ Việt Nam đã xây dựng đường lối ngoại giao phù hợp với đặc điểm và nhu cầu của đất nước trong từng giai đoạn. Trong đó, năm 1986 được đánh dấu của sự thay đổi chiến lược về tư duy đối ngoại của Đảng và chính phủ Việt Nam. Đứng trước những thách thức to lớn và yêu cầu đặt ra mở cửa cửa phát triển xã hội, Đại hội VI (12/1986) đánh dấu việc mở rộng quan hệ quốc tế, từng bước hội nhập của đất nước, là tiền đề cho sự chuyển biến về đường lối ngoại giao của Việt Nam trong những năm tiếp theo. Chính sách đối ngoại liên hệ chặt chẽ và chính sách đối nội, cần sự nhất quán, nhằm phục vụ mục tiêu của đất nước, tình hình trong nước. Trong các đối tác lớn của Việt Nam, Ấn Độ là một người bạn hữu nghị với truyền thống thân thiện lâu đời, chia sẻ chung lịch sử chống thuộc địa và hiện nay là lợi ích chung trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. Dựa vào các văn kiện Đại hội Đảng trong các giai đoạn từ Đổi mới tới nay, bài viết làm rõ nhận định, trong suốt quá trình đổi mới và phát triển của đường lối ngoại giao của Việt Nam với Ấn Độ  đã minh chứng cho đa phương hoá, đa dạng hoá hợp tác, nhằm đạt được cân bằng chiến lược giữa các nước lớn; và thể hiện sự tự chủ đối ngoại của chính phủ Việt Nam vì lợi ích quốc gia dân tộc.

1. Cơ sở lý luận và thực tiễn đường lối ngoại giao của Việt Nam 

1.1. Cơ sở lý luận


Chủ nghĩa Mác - Lênin về chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân, vấn đề dân tộc và quốc tế, tư tưởng cùng tồn tại hòa bình. Chủ nghĩa quốc tế vô sản thống nhất về tư tưởng, về lợi ịch, mục tiêu và hành động. Sự thống nhất giữa giai cấp công nhân, vô sản tạo ra mối liên hệ bình đẳng về lợi ích, tinh thần trách nhiệm với sự nghiệp chung của giai cấp công nhân ở các quốc gia - dân tộc: “Muốn cho các dân tộc có thể thực sự đoàn kết lại thì họ phải có những lợi ích chung”(C.Mác & Ph.Ăngghen, 1995). Bên cạnh đó, chủ nghĩa quốc tế vô sản là sự phối hợp hành động cách mạng của giai cấp công nhân ở các nước trên toàn thế giới, nhấn mạnh vai trò kết nối giữa nhân dân ở các quốc gia.

Độc lập dân tộc và thống nhất là ưu tiên trong quá trình thực hiện hợp tác quốc tế. Mác - Lênin coi trọng bình đẳng và tự giác trong quan hệ đối ngoại, không có sự áp bức giữa các dân tộc, đồng thời phê phán chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi.

Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh gồm 6 nội dung chính, bao gồm: Độc lập dân tộc; Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; Ngoại giao tâm công; Ngoại giao hoà hiếu với các dân tộc khác; Ngoại giao “dĩ bất biến, ứng vạn biến”; Ngoại giao nắm vững thời cơ, giành thắng lợi từng bước. Trong đó, độc lập dân tộc có vai trò nhằm bảo đảm lợi ích dân tộc chính đáng “Độc lập nghĩa là chúng tôi điều khiển lấy mọi công việc của chúng tôi, không có sự can thiệp ở ngoài nào”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cho rằng đối ngoại là một mặt trận, “muốn làm cách mạng thắng lợi thì phải... thực hiện thêm bầu bạn, bớt kẻ thù” (Hồ Chí Minh, 2011, tr.13, 453). Bên cạnh đó, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, “Nước ta là một bộ phận của thế giới. Tình hình của nước ta có ảnh hưởng đến thế giới, mà tình hình thế giới cũng có quan hệ đến nước ta” (Hồ Chí Minh, 2011, tr.8, 346), nhưng phải độc lập, tự chủ, phải khôn khéo, phải có những biện pháp của riêng mình, vì “muốn người ta giúp cho, thì trước mình phải tự giúp lấy mình đã” (Hồ Chí Minh, 2011, tr.2, 320).

Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Sức mạnh thời đại luôn mang nội dung mới, phản ánh sự phát triển của lịch sử và quá trình vận động của thế giới. Yếu tố quyết định để phát huy sức mạnh dân tộc là giữ vững tinh thần độc lập tự chủ, tự lực tự cường. Sức mạnh thời đại không phải là một phạm trù luôn biến đổi, phản ánh tiến trình phát triển lịch sử và sự vận động của hệ thống quốc tế. Trong đó, yếu tố mang tính quyết định để phát huy hiệu quả sức mạnh dân tộc chính là việc kiên định tinh thần độc lập, tự chủ và tự lực tự cường. Việc kết hợp hai nguồn lực này trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc ở Việt Nam thực chất là sự gắn kết giữa tổng thể sức mạnh quốc gia với các xu thế và giá trị chung của thời đại như hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, tiến bộ xã hội và phát triển bền vững của nhân loại, qua đó tạo ra sức mạnh tổng hợp nhằm thực hiện thắng lợi các mục tiêu chiến lược trong bối cảnh mới.

Trên cơ sở vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm nhận thức sâu sắc vai trò đặc biệt của nhân tố thời đại. Thực tiễn hơn ba thập niên Đổi mới cho thấy, việc kết hợp hiệu quả giữa sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại đã tạo nên những bước chuyển mang tính đột phá: từ vị thế bị bao vây, cấm vận, Việt Nam đã vươn lên trở thành quốc gia có thu nhập trung bình, đồng thời là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế; qua đó không ngừng củng cố và nâng cao uy tín, vị thế trên trường quốc tế. Luôn đặt cách mạng Việt Nam trong trào lưu cách mạng tiến bộ của thời đại; gắn kết với cuộc đấu tranh của nhân loại tiến bộ Hợp tác và đoàn kết quốc tế Làm cho sức mạnh tổng hợp quốc gia nhân lên gấp bội; hình thành mặt trận thống nhất mạnh mẽ để thực hiện mục tiêu cách mạng của thời đại.

Có thể nói, các học thuyết chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là cơ sở lý luận cho các dự báo, kiến nghị, kịch bản... phù hợp và cách tiếp cận của Việt Nam theo từng thời kỳ.

1.2. Cơ sở thực tiễn 

Cuối thể kỷ XX, sự khủng hoảng của các nước XHCN mà đỉnh điểm là sự sụp đổ của mô hình XHCN ở Liên Xô và các nước Đông Âu đã dẫn đến những biến đổi lớn lao về tình hình thế giới, kết thúc chiến tranh lạnh vào năm 1991. Đây có thể coi là dấu mốc rất quan trọng, mở ra thời kỳ mới – thời kỳ mà các quốc gia, tổ chức buộc phải điều chỉnh chính sách đối nội, đối ngoại để thích nghi, tồn tại và phát triển. Đất nước cần tranh thủ các điều kiện thuận lợi bên ngoài cho phát triển đất nước.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chủ nghĩa tự do mới, xuất hiện nhiều thách thức, khó khăn mới từ chiến lược toàn cầu của chủ nghĩa đế quốc, từ “chủ nghĩa tự do mới” và chủ nghĩa quốc gia - dân tộc hiện đại; Việc giữ vững tinh thần quốc tế vô sản là phương châm để các đảng cộng sản vượt qua sự chia rẽ và các lợi ích cục bộ thiển cận.

Tình hình thực tiễn năm 1986 là xu hướng quốc tế hoá và tham gia phân công lao động quốc tế. Trong khi đó, trong nước đối mặt với khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng, lạm phát cao, và cơ chế bao cấp không còn phù hợp. Bên cạnh đó, thực tiễn và nhu cầu Việt Nam trong giai đoạn này là phát triển kinh tế. Năm 1995, quy mô kinh tế Việt Nam còn khá khiêm tốn, GDP đạt 228.892 tỷ đồng. Tới năm 1996, xu hướng hội nhập và hội nhập kinh tế quốc tế đặt ra yêu cầu xây dựng và thực hiện kế hoạch 5 năm 1996-2000. 

Trong những năm gần đây, trật tự thế giới đa cực đang hình thành với vai trò ngày càng lớn của các quốc gia phương Nam toàn cầu, cùng mới sự nổi lên của các nền kinh tế đang phát triển và cường quốc khu vực. Cùng với những cơ hội hợp tác đi kèm thách thức về tranh chấp giữa các khu vực trên thế giới, như Nga- Ukraine, xung đột Trung Đông, Hoa Kỳ-Iran… gây ra nguy cơ đối với sự ổn  định chung về an ninh và gia tăng khủng hoảng kinh tế trên thế giới, và ảnh hưởng tới quá trình phát triển riêng của Việt Nam. 

2. Đường lối đối ngoại của Việt Nam từ thời kỳ Đổi Mới

Năm 1986, Đảng ta đã nhận định: “Muốn kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại, nước ta phải tham gia sự phân công lao động quốc tế; trước hết và chủ yếu là mở rộng quan hệ phân công, hợp tác toàn diện với Liên Xô, Lào và Campuchia, với các nước khác trong cộng đồng xã hội chủ nghĩa; đồng thời tranh thủ mở mang quan hệ kinh tế và khoa học - kỹ thuật với các nước thế giới thứ ba, các nước công nghiệp phát triển, các tổ chức quốc tế và tư nhân nước ngoài trên nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi.” (TW Đảng, 1986)

Từ Cương lĩnh 1991 đến Đại hội XIII của Đảng, đối ngoại và hội nhập quốc tế là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên, phải được ưu tiên hàng đầu Xu hướng hội nhập quốc tế diễn ra liên tục và được lan rộng từ nhu cầu ngày càng gia tăng của mỗi quốc gia. ĐH Đảng lần VIII đã nêu “quan hệ đối ngoại phát triển mạnh mẽ; phá được thế bị bao vây, cô lập; mở rộng hợp tác và tham gia tích cực đời sống cộng đồng quốc tế.” Trong thực tế, Việt Nam cũng dần tham gia vào quá trình hội nhập quốc tế, từ việc gia tăng hợp tác ban đầu từ các đối tác trong nhóm XHCN tới khu vực, khi tham gia vào ASEAN năm 1995; và sự quan tâm của chính phủ đối với phát triển kinh tế thông qua hợp tác quốc tế được thể hiện ở quá trình đàm phán gia nhập WTO kéo dài 11 năm từ 1994; Hội nghị thượng đỉnh Á - Âu (ASEM) (năm 1996), Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC) (năm 1998). Năm 2001, chủ trương chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực được thể hiện thông qua NQ 07-NQ/TW (11/2001), trở thành kim chỉ nam hành động cho chính phủ.

Bên cạnh đó, ngoại giao kinh tế được đẩy mạnh, tận dụng các cơ hội hợp tác kinh tế. Năm 2006, định hướng tiếp tục chủ động tích cực hội nhập kinh tế quốc tế và xu hướng này được tiếp tục phát triển trong các thời kỳ sau. Từ năm 2016, chủ động hội nhập quốc tế đã trở thành xu thế thiết yếu, nhằm thúc đẩy quan hệ kinh tế quốc tế, tận dụng cơ hội từ các FTA thế hệ mới, thu hút đầu tư, chuyển đổi số, và nâng cao vị thế địa chính trị để hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước.Trong thời gian 1995-2023, Việt Nam đã ký kết và thực thi 16 FTA (trong đó có 03 FTA thế hệ mới) và đang tiếp tục đàm phán 03 FTA (Hóa & Mai, 2024).

So với đường lối đối ngoại được nêu trong Văn kiện Đại hội XI (2011), đường lối đối ngoại trong Văn kiện Đại hội XII có 8 điểm mới. Thứ nhất, nhiệm vụ đối ngoại được nêu như một thành tố của Chủ đề Đại hội. Bên cạnh bốn thành tố của chủ đề Đại hội XI là: sự lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, sức mạnh toàn dân tộc, công cuộc đổi mới và mục tiêu tổng quát, chủ đề Đại hội XII bổ sung thành tố thứ năm: “bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định”. 

Có thể thấy, trọng tâm đường lối đối ngoại của Việt Nam ngày càng mở rộng về mạng lưới đối tác và các lĩnh vực, phục vụ nhu cầu phát triển ngày càng cao của quốc gia. Tại Đại hội XIV, đường lối đối ngoại của Việt Nam được cụ thể hoá với mục tiêu là “bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc, hợp tác bình đẳng, cùng có lợi. Với nguyên tắc bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, quản lý thống nhất của Nhà nước đối với các hoạt động đối ngoại; triển khai đồng bộ, toàn diện, hiệu quả các hoạt động đối ngoại trên cả 3 trụ cột đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại Nhân dân. Phương châm là chủ động đóng góp vào hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển trên tinh thần là bạn, đối tác tin cậy, thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế tiếp tục phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại trong việcchủ động ngăn ngừa nguy cơ chiến tranh, tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình,ổn định, bảo vệ vững chắc Tổ quốc, tranh thủ các nguồn lực và điều kiện thuận lợibên ngoài cho phát triển đất nước” (Đảng ủy Bộ Ngoại giao, 2026). Đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và ngoại giao nhân dân được mở rộng, làm sâu sắc quan hệ với các đối tác, trọng tâm là các nước láng giềng, các nước lớn, bạn bè truyền thống, nâng tầm quan hệ các đối tác chủ chốt (BCH TW Đảng, 2026). Trong đó, hợp tác khu vực ASEAN tiếp tục được chính phủ quan tâm vì sự hoà bình ổn định của khu vực, nhằm tạo cục diện đối ngoại mới, rộng mở, thuận lợi cho an ninh và phát triển, nâng cao vị thế đất nước.            

Theo chủ trương đặt ra đối với đường lối đối ngoại Việt Nam trong giai đoạn mới là “thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tự cường, hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ đối ngoại, là thành viên có trách nhiệm với cộng đồng quốc tế; phát triển đối ngoại trong kỷ nguyên mới, tương xứng với tầm vóc lịch sử, văn hoá và vị thế của đất nước” (BCH TW Đảng, 2026). Như vậy, trước những bối cảnh thế giới biến đổi phức tạp nhanh chóng, Đảng đã chủ trương đường lối đối ngoại “tự chủ, tự cường” chủ động (Trần Vi Dân, 2018), tận dụng được các đối tác, để khai thác, làm chủ công nghệ và nguồn lực nhằm ứng phó với các biến đổi bên ngoài.

3. Đường lối đối ngoại của Việt Nam thể hiện qua quan hệ Việt Nam-Ấn Độ

Bám sát vào định hướng tư tưởng Mác - Lênin và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta đã lãnh đạo hoạt động đối ngoại của Việt Nam đối với các quốc gia theo từng giai đoạn, phù hợp với nhu cầu của quốc gia và tình hình quốc tế. Điều này được phản ánh thông qua mối quan hệ hợp tác sâu rộng với Ấn Độ, một trong những đối tác lâu đời của Việt Nam. 

Anh-tin-bai
Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thủ tướng Jawaharlal Nehru (1954)

Cuối thế kỷ XX, hai quốc gia đối mặt với những thách thức chung về lịch sử chống xâm lược, Việt Nam và Ấn Độ chia sẻ và mục tiêu giải phóng dân tộc; và quan hệ hữu nghị lâu dài tốt đẹp dưới sự lãnh đạo kiệt xuất của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Mahatma Gandhi và yêu cầu phát triển kinh tế trong nước. Sự phát triển quan hệ hai nước phản ánh sự ảnh hưởng của hoàn cảnh quốc tế và trong nước như kết thúc của chiến tranh Lạnh, công cuộc Đổi Mới của Việt Nam từ năm 1986; cải cách kinh tế và “Chính sách hướng Đông” của Ấn Độ trong năm 1991. Những năm 1990, sự biến mất của hệ thống lưỡng cực thế giới dẫn tới những chuyển biến chính sách đối nội và đối ngoại của nhiều quốc gia, trong đó có Ấn Độ và Việt Nam. Tuy nhiên, trong bối cảnh đó, xu hướng tích cực của đối thoại Việt Nam-Ấn Độ không bị suy giảm. Theo sự phát triển của thời gian, quan hệ Việt Nam - Ấn Độ được mở rộng và phát triển trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, an ninh - quốc phòng, văn hóa - giáo dục, khoa học kỹ thuật. Năm 2007, Việt Nam và Ấn Độ thiết lập quan hệ Đối tác Chiến lược; và tới năm 2016, hai nước đã nâng tầm quan hệ lên mức Đối tác Chiến lược Toàn diện.

Trong  giai đoạn đầu thế kỷ XXI, Việt Nam và Ấn Độ thúc đẩy ngoại giao thông qua các hợp tác kinh tế, ngoại giao nhân dân, ngoại giao văn hoá. Trong đó, ngoại giao nhân dân và ngoại giao văn hoá được coi là trọng tâm kết nối giữa Việt Nam và Ấn Độ (Nga & Loan, 2022). Các hợp tác về chính trị- an ninh được đẩy mạnh thông qua các chuyến thăm cấp cao của chính phủ hai bên (Bình & Nga, 2012), đặc biệt từ năm 2001. Thủ tướng Ấn Độ đã có chuyến thăm chính thức Việt Nam; năm 2005 và 2007, Tổng Bí thư ĐCS Việt Nam và Thủ tướng Việt Nam đã thăm Ấn Độ… các chuyến thăm cấp cao được duy trì hằng năm giữa hai nước. 

Anh-tin-bai
Tổng Bí thư Tô Lâm và Thủ tướng Narendra Modi (5/2026)

Bên cạnh, tôn giáo và văn hoá đã đóng vai trò là chất kết dính cho Ấn Độ và Việt Nam trong nhiều thập kỷ. Mối liên hệ về tôn giáo giữa Việt Nam và Ấn Độ bắt nguồn từ nền văn minh Chăm cổ, những người Ấn thông qua tuyến đường thương mại tới buôn bán và định cư. Bên cạnh đó, Phật giáo và cộng đồng Ấn kiều là một trong những nhân tố quan trọng trong kết nối Ấn Độ tại Việt Nam. Ngày nay, Phật giáo được xác định là một trong ba tôn giáo lớn của Việt Nam và phần lớn cuộc sống người dân chịu ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo trong hoạt động tín ngưỡng và văn hoá. Ngoại giao nhân dân thông qua cộng đồng người Việt tại Ấn Độ và cộng đồng người Ấn Độ tại Việt Nam đã và đang đóng vai trò nòng cốt trong việc tạo điều kiện cho sự tương tác và hợp tác văn hóa giữa hai nước.

Về kinh tế, Việt Nam thúc đẩy hợp tác với Ấn Độ đặc biệt trong những năm gần đây, cả hai nước bắt đầu nỗ lực mở rộng các lĩnh vực CNTT, sản xuất và đặc biệt là phát triển hạ tầng cho chuyển đổi số tại Việt Nam, thông qua các nhóm hợp tác khu vực Ấn Độ-ASEAN, hợp tác Mekong – Ganga (Bình & Nga, 2012); và hoạt động song phương ở cấp nhà nước thông qua các bộ ban ngành.

Bên cạnh đó, trong giai đoạn dịch bệnh COVID-19, ngoại giao vacxin của chính phủ Việt Nam đóng góp tích cực trong quá trình phòng chống đại dịch COVID-19 (Phương Hạ, 2022) và Ấn Độ là một trong những đối tác tích cực hỗ trợ Việt Nam qua chia sẻ vacxin, trao đổi thông tin, chia sẻ kinh nghiệm về các hoạt động của nghị viện cũng như các biện pháp phục hồi, phát triển kinh tế trong bối cảnh đại dịch Covid-19 (Linh & Tuấn, 2021).

Phản ánh định hướng nghị quyết của Đảng sau Đại hội XIV về tự chủ chiến lược cùng với xu hướng phát triển chuyển đổi số tại Việt Nam, Ấn Độ là đối tác tin cậy có nhiều kinh nghiệm chia sẻ về tự cường thông qua các chương trình  "Make in India", hệ sinh thái khởi nghiệp; hợp tác chuỗi cung ứng công nghệ cao, và các ngành công nghiệp xanh.

Kết luận

Có thể nói, đường lối đối ngoại của Việt Nam chịu ảnh hưởng từ học thuyết Mác - Lênin và tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh; kết hợp vào điều chỉnh trước các điều kiện thực tiễn của thế giới, khu vực và nhu cầu và lợi ích của quốc gia. Đảng ta đã điều chỉnh kịp thời và ứng dụng linh hoạt những chính sách đối ngoại nhằm xây dựng vị thế Việt Nam trên trường quốc tế và khu vực. Đường lối ngoại giao đúng đắn và linh hoạt được thể hiện rõ thông qua quan hệ hữu nghị ngày càng phát triển giữa Việt Nam và Ấn Độ; trong nhiều mặt về chính trị, an ninh, văn hoá, con người, phản ánh đảm bảo lợi ích, phát triển kinh tế và phục vụ các mục tiêu trong nước của Việt Nam trong lịch sử tới giai đoạn phát triển mới.

Tài liệu tham khảo 

1. BCH TW Đảng (2026). Phụ lục 4 Đánh giá 5 năm thực hiện chiến lược phát triển kinh tế xã hội 10 năm 2021-2030. Chương trình hành động của BCH TW Đảng thực hiện nghị quyết Đại hội đại biểu toà quốc lần thứ XIV của Đảng. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập I. NXB Chính trị quốc gia sự thật. ISBN: 978-604-46-1073-3.

2. BCH TW Đảng (2026). Nghị Quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. 

3. C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, t.3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995

4. Đảng ủy Bộ Ngoại giao (2026). Phát triển đối ngoại trong kỷ nguyên mới, tương xứng với tầm vóc lịch sử, văn hóa và vị thế đất nước. Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng.

5. Đặng Linh, Doãn Tấn (2021). Lễ bàn giao vaccine, thiết bị, vật tư y tế và kinh phí được hỗ trợ trong chuyến thăm chính thức Àn Quốc, Ấn Độ của đoàn đại biểu cấp cao quốc hội Việt Nam

7. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011

8. Lê Thị Hằng Nga, Huỳnh Thanh Loan (2022). Ngoại giao văn hóa và giao lưu nhân dân kết nối Việt Nam - Ấn Độ. Tạp chí Cộng sản (18.10.2022).

9. Ngô Xuân Bình, Lê Thị Hằng Nga (2012). Quan hệ Việt Nam - Ấn Độ trong bối cảnh mới. Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam 3/2012. tr.23-29.

10. Phan Hải Hồ (2024). Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong bối cảnh mới.

11. Lê Văn Hóa, Nguyễn Thị Thanh Mai (2024). Định hướng hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam đến năm 2035

13. Trần Vi Dân (2018). Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập, tự chủ trong đối ngoại, đoàn kết quốc tế và việc vận dụng trong tình hình hiện nay.

14. Trung ương Đảng (1986). Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa V trình tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng.

ThS. Phạm Thuỷ Nguyên
Nguồn bài viết: Trang Thông tin điện tử Viện Nghiên cứu Nam Á, Tây Á và Châu Phi
Ý kiến bạn đọc
Họ tên no image
Nội dung no image
Mã kiểm tra no image
Tin xem nhiều
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1