Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu tại phiên bế mạc
Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV
(Nguồn ảnh: Báo điện tử Chính phủ *)
1. Phát triển con người Việt Nam toàn diện là đích đến cuối cùng của tăng trưởng kinh tế
Kết luận số 18-KL/TW đã tổng kết bối cảnh và tình hình giai đoạn 2021 - 2025 với những thành tựu đạt được mang tính toàn diện, đột phá với nhiều điểm sáng nổi bật. Những điểm sáng nổi bật đó là đạt và vượt 22/26 chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu giai đoạn 2021 - 2025, trong đó hoàn thành toàn bộ chỉ tiêu về xã hội. Tăng trưởng phục hồi mạnh mẽ với bình quân 5 năm đạt 6,2%/năm, riêng năm 2025 đạt 8,02%, GDP bình quân đầu người đạt 5.026 USD, gia nhập nhóm nước có thu nhập trung bình cao . Hạ tầng giao thông, chuyển đổi số và đối ngoại có bước tiến vượt bậc.
Trên cơ sở đó, bước vào giai đoạn 2026 - 2030, Ban Chấp hành Trung ương Đảng thống nhất quan điểm, mục tiêu là “ Phát triển nhanh, bền vững đất nước; phấn đấu tăng trưởng GDP bình quân đạt từ 10%/năm trở lên gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn; cải thiện và nâng cao toàn diện đời sống Nhân dân. Thực hiện thắng lợi mục tiêu đến năm 2030, trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao, thuộc nhóm 30 nền kinh tế có quy mô GDP hàng đầu thế giới. Tạo lập thể chế phát triển hiện đại, bền vững; mạng lưới kết cấu hạ tầng đồng bộ; nâng cao tiềm lực, trình độ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chất lượng nguồn nhân lực; phát triển mạnh mẽ, toàn diện văn hoá và con người Việt Nam; bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu; xã hội dân chủ, công bằng, kỷ cương, an toàn; quốc phòng, an ninh được bảo đảm; vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng lên ” . Đồng thời, đặt mục tiêu Chỉ số phát triển con người (HDI) đạt 0,8 vào năm 2030.
Có thể nói, điểm nhấn đột phá của Kết luận số 18-KL/TW không chỉ nằm ở con số tăng trưởng kinh tế thuần túy, mà ở sự song hành bắt buộc giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển con người toàn diện. Trung ương đã tái khẳng định và nâng tầm quan điểm: đầu tư cho kinh tế và đầu tư cho con người không phải là bài toán đánh đổi, mà là quan hệ biện chứng. Chỉ số HDI đạt 0,8 cho thấy khát vọng đưa Việt Nam vào nhóm các quốc gia có mức độ phát triển con người rất cao và để đạt được điều này, cần kiến tạo môi trường để mỗi người dân đều được thụ hưởng thành quả trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Một số chỉ tiêu chủ yếu đến năm 2030 trong Kết luận số 18-KL/TW

Ảnh minh hoạ (AI-generated)
2. Phát triển con người Việt Nam toàn diện gắn với xây dựng lực lượng sản xuất mới có kỹ năng
Trong kỷ nguyên mới, Việt Nam rất cần lực lượng lao động có kỹ năng. Kết luận số 18-KL/TW xác định nhiệm vụ chiến lược “ Đưa giáo dục kỹ năng số, trí tuệ nhân tạo vào hệ thống giáo dục quốc dân ngay từ chương trình giáo dục mầm non. Chuyển đổi số toàn diện, phổ cập và ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số, trí tuệ nhân tạo trong giáo dục và đào tạo” phấn đấu đến năm 2030 tỉ lệ lao động có kỹ năng công nghệ thông tin đạt 80%. Đây là một trong những định hướng đột phá. Sự vươn mình của quốc gia phụ thuộc vào lực lượng sản xuất mới, trong đó năng lực thích ứng và làm chủ không gian số là cốt lõi. Việc Ban chấp hành Trung ương yêu cầu phổ cập kỹ năng số ngay từ bậc mầm non, xuyên suốt qua các cấp học sinh phổ thông đến hệ thống giáo dục đại học cho thấy một sự chuẩn bị dài hơi và bài bản. Sẽ không thể kỳ vọng một bước nhảy vọt về năng suất lao động nếu thế hệ trẻ bước vào thị trường lao động với sự thiếu hụt về tư duy công nghệ. Chính vì vậy, suy cho cùng, chuyển đổi số không chỉ đơn thuần là câu chuyện trang bị máy móc hay hạ tầng, mà cốt lõi là quá trình thay đổi căn bản tư duy của con người.
3. Phát triển con người Việt Nam toàn diện phải được đặt trên một nền tảng an toàn, nơi người dân được lưới an sinh xã hội bảo vệ trước các cú sốc
Kết luận số 18-KL/TW khẳng định một tầm nhìn chiến lược là “Bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia, an ninh chế độ, an ninh con người...; coi an ninh quốc gia là một động lực phát triển kinh tế ”, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến bảo vệ an ninh con người. Đứng trước những rủi ro an ninh phi truyền thống như thiên tai, biến đổi khí hậu, an ninh mạng, dịch bệnh… việc phát triển con người toàn diện phải được đặt trên một nền tảng an toàn. Việc xây dựng hệ thống an sinh xã hội đa tầng, hiện đại, thích ứng linh hoạt chính là thiết chế bảo vệ người dân trước các cú sốc, giúp họ yên tâm cống hiến và sáng tạo. Đồng thời, tại nhiệm vụ số 79 của Phụ lục 3 về những nhiệm vụ trọng tâm năm 2026 để thực hiện mục tiêu tăng trưởng “2 con số” đã ghi rõ yêu cầu phải “ Xây dựng Đề án phát triển nền kinh tế bạc; chính sách lao động, việc làm để thích ứng với vấn đề già hoá dân số nhanh”.
Lần đầu tiên, cụm từ “an ninh con người” được đặt song hành cùng an ninh quốc gia và được coi là “động lực phát triển”. Điều này thể hiện tư duy tiến bộ, phù hợp với xu thế toàn cầu về quyền con người: con người phát triển toàn diện chỉ khi họ được sống trong một môi trường an toàn. An ninh con người phải là cốt lõi của an ninh quốc gia. Điều này có nghĩa là mọi chính sách phải hướng tới việc bảo đảm quyền con người, bảo vệ người dân trước các rủi ro về việc làm, sức khỏe, môi trường, an ninh mạng, và xây dựng một hệ thống an sinh xã hội bao trùm “không ai bị bỏ lại phía sau”. Khi được an tâm về sinh kế và an toàn về môi trường sống, khát vọng cống hiến của con người mới được khơi dậy mạnh mẽ nhất.
4. Phát triển con người Việt Nam toàn diện không thể tách rời nền tảng gia đình
Kết luận số 18-KL/TW yêu cầu phát triển con người Việt Nam toàn diện cần đồng bộ trên nền tảng " hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam ". Trước những biến động nhanh chóng của bối cảnh toàn cầu và tác động của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, gia đình Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức. Thực tiễn này đã được minh chứng qua các báo cáo nghiên cứu chuyên sâu của Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới công bố năm 2023 tại Hội thảo khoa học quốc gia "Biến đổi gia đình và giới trong những thập niên đầu thế kỷ 21" nhấn mạnh sự bùng nổ của không gian số đang tạo ra áp lực rất lớn lên các chức năng của gia đình, đặc biệt là chức năng giáo dục. Chính trong bối cảnh nhiều thách thức ấy, Kết luận số 18-KL/TW đã tái khẳng định vị trí trung tâm của hệ giá trị gia đình. Một cá nhân chỉ có thể phát triển toàn diện khi được nuôi dưỡng trong một môi trường gia đình no ấm và hạnh phúc. Gia đình không chỉ là tế bào của xã hội mà còn là môi trường giáo dục đầu tiên giúp bảo vệ con người trước các tác động tiêu cực. Xây dựng con người toàn diện, tất yếu phải đi đôi với củng cố và phát triển gia đình.
Kết luận
Có thể nói, Kết luận số 18-KL/TW đã phác họa rõ nét bức tranh phát triển con người Việt Nam toàn diện trong kỷ nguyên mới. Để hiện thực hóa các định hướng và mục tiêu trong Kết luận số 18-KL/TW, việc nghiên cứu, tổng kết thực tiễn về Phát triển con người Việt Nam toàn diện mang tính cấp thiết hơn bao giờ hết. Kết quả này sẽ đóng vai trò cung cấp bằng chứng thực tiễn để các nhà quản lý tham khảo trong xây dựng chính sách nhằm tạo ra một thể chế đồng bộ hướng tới bảo vệ, bồi đắp và giải phóng mọi tiềm năng sáng tạo của con người. Khi đó, nguồn vốn nhân lực chất lượng cao sẽ thực sự trở thành bệ phóng vững chắc đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững.
* Nguồn ảnh: Báo điện tử Chính Phủ: https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/ket-luan-so-18-kl-tw-hoi-nghi-trung-uong-2-ve-phat-trien-kinh-te-xa-hoi-tai-chinh-quoc-gia-dau-tu-cong-vay-tra-no-cong-giai-doan-2026-2030-119260403065051693.htm